Phần mở đầu
***
Chỉ trong vòng hai mơI năm trở lạI đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự thay
đổi đáng kinh ngạc của các sản phẩm hàng hoá mà chúng ta sử dụng hàng ngày: đĩa
compac thay cho băng nhựa ; máy photocopi thay cho giấy than; ngời ta gửi th cho
nhau bằng email; có thể nói chuyện với nhau ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào bằng đIện
thoạI di động. Cùng với thời gian không chỉ những sản phẩm mới xuất hiện mà sản l-
ợng sản xuất ngày càng gia tăng, đó là dấu hiệu của sự tiến bộ kinh tế. Hay còn có
thể gọi là tăng trởng kinh tế.
Ngày nay, tăng trởng kinh tế mặc dù không phảI là một vấn đề mới song nó
vẫn đóng vai trò là nhân tố quyết định cơ bản cho sự thành công lâu dàI của bất cứ
một quốc gia nào. Đối với Việt Nam cũng vậy, chúng ta cần những bớc tiến dàI trong
tăng trởng để có thể bắt kịp những nớc phát triển trong thời gian ngắn nhất.
Vì vậy, em chọn đề tàI tăng trởng kinh tế để nghiên cứu và củng cố cho
mình những kiến thức cơ bản đã đợc học trên giảng đờng.
Em xin chân thành cám ơn sự hớng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo s. Tiến sĩ
Vũ Thị Ngọc Phùng, đã giúp em hoàn thành đề án này.
1
Phần I : lý luận chung
I.tăng trởng kinh tế:
1.Khái niệm tăng trởng kinh tế:
Tăng trởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô ,khối lợng của sản xuất và dịch vụ
thực hiện trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc của một địa phơng.
Vậy tăng trởng kinh tế là sự biến đổi nền kinh tế về số lợng,nó thể hiện khả đáp
ứng về nhu cầu vật chất cho nền kinh tế,là đIều kiện cần thiết nhng cha phảI là đủ để
cảI thiện đời sống nhân dân và nâng cao trình độ phát triển của một đất nớc.
2. Các chỉ tiêu đo lờng sự tăng trởng kinh tế:
Để đánh giá tăng trởng,thờng dùng chỉ tiêu mức tăng trởng hoặc tỷ lệ tăng tr-
ởng.
Mức tăng trởng là chênh lệch về giá trị thu nhập của nền kinh tế năm sau so với
năm trớc đó và đợc tính bằng công thức:
đánh giá hoặc lập kế hoạch mục tiêu tăng trởng của cả một thời kỳ dàI .
Để đo lờng tăng trởng kinh tế ,chúng ta có thể chia làm hai loạI chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu phản ánh tổng quy mô,khối lợng sản xuất và dịch vụ thực hiện trong
một khoảng thời gian nào đó.Các chỉ tiêu đó bao gồm:
Tổng sản lợng (GO)phản ánh kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế
theo từng thời kỳ.Chỉ tiêu này đợc xác định bằng tổng cộng giá trị sản
xuất của từng ngành kinh tế,thành phần kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới đợc tạo ra
trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
2
Tổng sản phẩm quốc dân(GNP) là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà
tất cả công dân một nớc tạo ra và có thể thu nhập trong năm ,không phân biệt sản
xuất đợc thực hiện ở trong nớc hay ngoài nớc.
Chỉ tiêu tính bình quân đầu ngời:
GDP trên đầu ngời đợc sử dụng nh là thớc đo cơ bản của mức sống,nó cho
chúng ta biết nhiều đIều về phúc lợi vật chất của dân chúng.GDP bình quân đầu ngời
càng cao,tiềm năng sẫn có về hàng hoá và dịch vụ trên cho các công dân càng lớn.
GDP/ngời chỉ tăng khi mức tăng sản lợng vợt quá mức tăng dân số .
GDP bình quân trên công nhân,chỉ số này có mối liên quan với chỉ số
GDP/ngời do sự tăng mức sống không thể xảy ra một cách tự động.Nếu chúng ta
muốn tăng GDP/ngời tăng lên thì phảI sản xuất nhiều hơn hoặc là tăng tỷ lệ gia nhập
lực lợng lao động trong dân số tức là sự gia tăng tốc độ việc làm song tỷ lệ việc làm
không thể tăng mãi.Vì vậy sự tăng hơn nữa của GDP bình quân chỉ có thể nhờ sản
phẩm trên đầu công nhân tăng lên.Do vậy GDP/công nhân đợc coi là thớc đo năng
suất lao động.
Chú ý:trong quan niệm về tăng trởng kinh tế,chúng ta nói đến GDP thực tế chứ
không phảI là GDP danh nghĩa.GDP thực tế phản ánh khối lợng thực tế của hàng hoá
và dịch vụ.
3.Nguồn gốc của tăng trởng kinh tế:
Việc tăng sản lợng đã cho thấy sự tăng trởng đợc tạo ra từ quá trình sản xuất.Quá
sản lợng đâù ra có thể biểu diễn dới dạng hàm số:
Y=F(Xi)
Trong đó:
Y-Giá trị sản lợng .
Xi-Các biến số đầu vào (các nhân tố kinh tế trực tiếp).
Các nhân tố này tác động tới mối quan hệ cung -cầu dới sự đIều tiết của thị tr-
ờng.Sự cân bằng của cung cầu dogiá cả thị trờng đIều tiết,sẽ tác động ngợc trở lạI các
luồng vào và sác định sản lợng mới của nền kinh tế.Xuất phát từ thực tế các nớc đang
phát triển cung cha đáp ứng đợc cầu,việc gia tăng sản lợng bắt nguồn từ sự thay đổi
các yiêú tố đầu vào của sản xuất.Do vậy chúng ta quan tâm chủ yếu các nhân tố mà
nguồn cung chịu tác động mạnh nhất,đó chủ yêú là vốn,lao động ,tàI nguyên và công
nghệ.
4
Vốn đầu t
Ta nhận thấy năng suất lao động của ngời công nhân không phụ thuộc hoàn
toàn vào tay nghề và kinh nghiệm của họ,mà nó phụ thuộc một cách đáng kể vào số
lợng và chất lợng của các yếu tố khác nh công cụ,máy móc thiết bị.ĐIều này thật
hiển nhiên khi ta thấy một ngời công nhân dù kĩ năng bản thân có tốt đến mấy mà
không có các trang thiết bị thì năng suất vẫn thấp.Nh vậy ,sự tăng lên trong sản lợng
bình quân của mỗi công nhân phụ thuộc rất lớn vào việc tăng vốn đầu t.
Vốn đầu t với t cách là yếu tố nguồn lực cho tăng trởng kinh tế,chúng ta chỉ quan
tâm trong khuôn khổ các hoạt động đầu t vốn sản xuất tức là bộ phận vốn trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế.Vốn sản xuất là một bộ
phận tàI sản quốc giađợc trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tạI cùng với
các yếu tố sản xuất khác ,để tạo ra sản phẩm hàng hoá (đầu ra).Do vậy nó bao
gồm các máy móc,thiết bị ,phơng tiện vận tảI,nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.Nếu
đứng trên góc độ tính chất của hoật động đầu t thì vốn đầu t đợc chia làm hai bộ phận
:Vốn đầu t khôI phục và vốn đầu t thuần thuý.Vốn đầu t khôI phục là bộ phận vốn có
tác dụng bù đắp các giá trị hao mòn của vốn sản xuất,đây chính là quỹ khấu
hao(Dp),còn vốn đầu t thuần thuý chính là phần tích luỹ đê táI sản xuất mở rộng quy
cho giá rẻ hơn mà tốn chi phí đâù vào hơn. Bên cạnh đó là sự xuất hiện các ản phẩm
mới mang hàm lợng kỹ thuật cao đã tạo ra những nhu cầu mới, thị trờng mới, khiến
cho chu kỳ sống của các sản phẩm khác cũng trở nên ngắn hơn.
Đây là một lợi thế rát tốt cho các nớc đang phát triển, vì chi phí thời gian và tiền
của để cho ra đời các phát minh mới sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc mua kỹ
thuật và công nghệ cho sản xuất gia tăng sản lợng và thúc đẩy tăng trởng.
4.2Các nhân tố phi kinh tế:
Trong xã hội luôn tồn tạI nhiều mối quan hệ đan xen tác động qua lạI với
nhau,do vậy mà tăng trởng không chỉ phụ thuộc các nhân tố kinh tế mà nó còn chịu
tác động từ các nhân tố phi kinh tế.Các nhân tố phi kinh tế có thể coi là các nguồn
lực không trực tiếp nhằm mục tiêu kinh tế nhng gián tiếp có ảnh hởng tới sự tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế gọi chung là các nhân tố phi kinh tế.
Đặc đIểm chung của các nhân tố này là:
+Không thể lợng hoá đợc các ảnh hởng của nó,do vậy không tiến hành tính
toán,đối chiếu cụ thể đợc.
+Các nhân tố này có phạm vi ảnh hởng rộng và phức tạp trong xã hội,không
thể đánh giá một cách tách biệt rõ rệt đợc và không có ranh giới rõ ràng.
Có thể coi các nhân tố sau đây là các nhân tố phi kinh tế:địa vị của thành viên
trong cộng đồng;cơ cấu gia đình,cơ cấu giai cấp xã hội,cơ cấu dân,cơ cấu tôn giáo,cơ
cấu thành thị-nông thôn,cơ cấu và qui môcác đơn vị cộng đồng trong xã hội,các thể
chế chính trị-kinh tế-xã hội,...
ở đây chúng ta đI vào phân tích nhân tố thể chế chính trị-kinh tế-xã hội,vì có thể
coi đây nh một nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trởng và phát triển.Thể chế
biểu hiện nh một lực lợng đạI diện cho ý chí của một cộng đồng nhằm đIều chỉnh các
mối quan hệ kinh tế,chính trị,xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra.Do vậy, nhà n-
ớc trong vai trò là ngời đạI diện cho ý chí của xã hội cũng đa ra những tác động của
mình tới tăng trởng kinh tế.Chủ yếu các tác động đó nhằm giúp ngăn ngừa những trở
ngạI và phát huy những nhân tố thuận lợi cho quá trình tăng trởng và phát triển.Các
tác động nếu không phù hớp sẽ gây ra những cản trở,mất ổn định.Ngợc lạI,nó sẽ tạo
đIũu kiện thúc đẩy tăng trởng.Việc nằy,thực chất cũng chỉ là những tác động gián
Công thức trên thể hiện:tốc độ ăng rởng kinh tế(g)là một đạI lợng tỷ lệ thuận với
tỷ lệ tích luỹ trong GDP(s)và tỷ lệ nghịc với hệ số ICOR(k).
Căn cứ cơ bản của phơng pháp lập kế hoạch từ mô hình này là dựa vào tiết kiệm và
đầu t của kỳ gốc .Có thể lập kế hoạch tăng trởng kinh tế của thời kỳ kế hoạch theo
các bớc :
*Xác định hệ số ICOR kỳ kế hoạch. Hệ số ICOR kỳ kế hoạch đợc xác định theo
phơng pháp dự báo có tính đến khả năng nguồn lực cụ thể của đất nớc, của từng
ngành kinh tế. ĐIều này phảI dựa trên các dự báo về khoa học, công nghệ, khan hiếm
nguồn lực.
*Thống kê đánh giá mức độ khấu hao của vốn sản xuất kỳ gốc, trên cơ sở đó
tính đợc mức độ mất mát của vốn sản xuất mà kỳ kế hoạch không còn sử dụng đợc.
Bằng cách thống kê các con số tiết kiệm và đIều chỉnh số liệu theo các hệ số đầu t và
tiết kiệm.
*Xác định tổng tích luỹ kỳ gốc và khả năng chuyển nguồn tích luỹ này thành
vốn sản xuất kỳ kế hoạch theo hệ thống huy động tiết kiệm vào đầu t và tỷ lệ vốn đầu
t chuyển thành vốn sản xuất kỳ kế hoạch.Ta thống kê xây dựng hệ số tỷ lệ khấu
hao(
0
).
Từng ngành,lĩnh vực kinh tế: có thể sử dụng phơng pháp thống kê có đIều
chỉnh hợp lý.
7
Ngành nông nghiệp.
Ngành công nghiệp.
Ngành dịch vụ.
Xuất nhập khẩu.
*Xác định tổng quy mô sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế:
Tính tổng giá trị GDP,GNP cho toàn bộ nền kinh tế và cho các ngành kinh tế(nông
nghiệp,công nghiệp, dịch vụ, xuất-nhập khẩu) theo các mức giá khác nhau:
Theo giá cố định(hiện nay chúng ta sử dụng giá năm 1994 làm năm gốc).
pháp cho kế hoạch tăng trởng kinh tế. Đồng thời nó phảI hoàn thành cả nhiệm vụ là
kế hoạch mục tiêu cho tăng trởng ngành và lĩnh vực.
8
*Xác định các giảI pháp để thực hiện kế hoạch tăng tr ởng;
Bao gồm việc xây dựng các chính sách cần thiết có liên quan tới tăng trởng kinh
tế nh chính sách về tăng cờng các yếu tố nguồn lực đó là yếu tố vốn, lao động, tàI
nguyên, khoa học- công nghệ. Xây dựng các chính sách này phảI dựa trên các mối
quan hệ tác động qua lạI của các vấn đề đối với tăng trởng kinh tế.
*Đối với toàn nền kinh tế cần đa ra các chính sách tăng trởng nhanh đI đôI với
các vấn đề có liên quan tính chất hệ quả trực tiếp của tăng trởng nh lạm phát thất
nghiệp, các cân đối cũng nh khả năng huy động nguồn lực vào tăng trởng để đạt
mục tiêu đề ra. Đa ra một số giảI pháp đI cùng với các kịch bản có khả năng xuất
hiện trong thời kỳ kế hoạch.
Trong việc sử dụng mô hình Harrod-Domar ta có thể đối chiếu nhu cầu nguồn
lực cần có của nền kinh tế tính đợc từ trên so với khả năng có đợc từ đIều tra phân
tích thống kê để có các giảI quyết các mất cân đối. Nếu nhu nhỏ hơn khả năng thì
cần đề nghị mức tăng trởng cao hơn so với yêu cầu, trong trờng hợp d thừa vốn ta có
thể đầu t công nghệ cao hơn.
Nếu nhu cấu lớn hơn khả năng thì có hai giảI pháp :
(1)Xây dựng hớng bù đắp bằng cách khai thác thêm nguồn trong nớc hoặc ngoàI
nớc.Tuy nhiên,việc này sẽ làm tăng cung ứng tiền dẫn đến lạm phát tăng lên.Nếu sử
dụng cách này phảI đI cùng với các giảI pháp chống lạm pháp trong tăng trởngkinh
tế.
(2)Thay đổi cơ cấu ngành:tập trung tăng trởng những ngành có hệ số ICOR
thấp,giảm tỷ trọng những ngành có hệ số ICOR cao .Những ngành có hệ số ICOR
thấp là những ngành sử dụng tỷ lệ vốn không cao,nhiều lao động nh:nông
nghiệp,công nghiệp chế biến...
*Đối với các ngành và lĩnh vực: xây dựng các chính sách tăng trởng của các bộ
phận, cơ cấu trong ngành và lĩnh vực theo mục tiêu chung của ngành. ĐI cùng với
các giảI pháp về nguồn lực cho các bộ phận đó.
vấn đề lạm phát gia tăng. Do vậy, trên cơ sở đặt mục tiêu tăng trởng, phảI xác định
các mục tiêu về việc làm và lạm phát, tìm ra các giảI pháp, chính sách khống chế.
Kế hoạch tăng trởng kinh tế có liên quan trực tiếp tới chơng trình xoá đói giảm
nghèo và công bằng xã hội. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vấn đề tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội gần nh là hai hoạt động mang tính đánh đổi. Để
giảI quyết bàI toán xoá đói giảm nghèo, phảI đặt mục tiêu tăng trởng nhanh, nhng
đIều đó có thể làm cho sự phân hoá xã hội trở nên gay gắt hơn. Vấn đề là trong từng
giai đoạn phát triển của đất nớc, đặt mục tiêu nào lên trớc: Hiệu quả hay công bằng
xã hội, đIều này đòi hỏi kế hoạch tăng trởng phảI căn cứ vào chiến lợc phát triển
kinh tế-xã hội.
Giữa các kế hoạch tăng trởng ngành và lĩnh vực phảI có sự liên kết hợp lý với
nhau sao cho ăn khớp với kế hoạch chuyển dịch cơ cấu và cân bằng với kế hoạch
tăng trởng chung. Kế hoạch này có ảnh hởng đến kế hoạch phân bổ nguồn đầu vào
cho các ngành kinh tế. Đặc biệt là đối với vấn đề vốn và lao động, vốn ít đòi hỏi đầu
t vào các ngành cho giá trj sản lợng cao, công nghiệp, dịch vụ đợc tập trung nhiều và
giảm đI ở bộ phận nông nghiệp, một phần lao động trong nông nghiệp sẽ phảI
chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác hoặc thất nghiệp, nhất là khi công nghiệp đợc
đầu t cao vào những ngành kĩ thuật cao nhân công ít. ĐIều này lạI gây ra các vấn đề
xã hội về giảI quyết thất nghiệp.
Phần II : thực trạng tăng trởng kinh tế
giai đoạn 1996 -2000.
10
I.nhiệm vụ tăng trởng kinh tế chủ yếu của kế hoạch giai
1996-2000:
Kế hoạch 5 năm 1996-2000 đợc xây dựng trong bối cảnh kinh tế có nhiều thuận
lợi, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991-1995 đều đạt và vợt mức
kế hoạch đề ra đa nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang thời kỳ
mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đạI hoá đất nớc. Kế hoạch đặt mức phấn đấu
cao, thực hiện đồng thời 3 mục tiêu về kinh tế-xã hội: tăng trởng cao, bền vững và
có hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị tiền đề cho bớc phát triển
Tuy nhiên,nếu xét theo sự đóng góp của các nhân tố sản xuất vào tốc độ tăng tr-
ởng thì ta thấy tăng trởng tuy giảm về số lợng nhng đã có dấu hiệu khả quan về chất
lợng. Tổng năng xuất các nhân tố sản xuất (TFP) sau khi đã trừ đI các yếu tố đóng
góp vê chất lợng(lao động và vốn sản xuất) cho tăng trởng, hay nói cách khác TFP là
phần đóng góp vào tăng trởng kinh tế do đóng về sự gia tăng hiệu quả trong nền kinh
tế, bao gồm tăng năng suất lao động, hiện đạI hoá quy trình sản xuất, thay đổi phơng
thức quản lý...Và phần đóng góp này tăng dần về tỷ trọng hiệu quả so với phần đóng
góp của vốn và lao động. ĐIều này cho thấy hiệu quả đầu t của chúng ta đã đợc phát
huy,tuy tốc độ tăng trởng giảm nhng trình độ phát triển của nền kinh tế đợc nâng cao
hơn.
Nếu xét theo góc độ cơ cấu kinh tế ngành và lĩnh vực ta thấy sự tích cực trong xu
hớng đóng góp nh ngành có mức độ ảnh hởng cao là ngành công nhiệp phát triển
nhanh hơn, sau đó la dịch vụ và nông nghiệp.
2.Tốc độ tăng trởng trong các ngành,lĩnh vực:
*Ngành nông nghiệp: ngành nông nghiệp phát triển liên tục góp phần quan trọng
vào mức tăng trởng chung và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội. Giá trị sản xuất
nông-lâm-ng nghiệp tăng bình quân hàng năm 5,7% so với mục tiêu đề ra 4,5-5%
trong đó nông nghiệp tăng 5,6%, âm nghiệp tăng 0,4% và ng nghiệp tăng 8,4%.
Giá trị tăng trởng và tổng sản phẩm ngành nông nghiệp thời kỳ1996-2000
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
g
NN
(%) 4,4 4,33 3.53 5.23 4.63
Va
NN
(tỷ đồng)
(so với 1994)
53.577 55.895 57.866 60.895 63.717
Tốc độ tăng trởng của ngành nông nghiệp tơng đối ổn định ,GDP tăng đều hàng
là các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chế biến và khai thác; sản lợng dầu thô
năm 2000 so với 1995 gấp 2,1 lần, kết hợp với dịch vụ khai thác dầu khí chiếm
khoảng 11,2% tổng giá trị sản xuất toàn ngành; công nghiệp sản xuất thực phẩm và
đồ uống chiếm khoảng 20%, công nghiệp sản suất và phân phối đIện, khí đốt, hơI n-
ớc chiếm khoảng 5,4%.
Tuy nhiên, nếu xét mức độ ảnh hởng của toàn ngành đợc tách ra chi phí sản xuất
là sản phẩm trong nớc và ngoàI nớc cho thấy một số ngành nh xe máy, máy chuyên
dùng, máy thông dụng, máy công cụ ôtô, thiết bị vận tảI, máy móc thiết bị đIện, máy
móc thiết bị truyền thanh, truyền hình, kim loạI đen, kim loạI màu, dệt, may, da có
mức độ ảnh hởng chung(không tách chi phí đầu vào là sản phẩm dợc sản xuất trong
nớc hay sản phẩm nhập khẩu) rất cao. Nhng khi tính mức độ ảnh hởng của các ngành
cho các sản phẩm sản xuất trong nớc thì mức độ ảnh hởng này nhỏ đI rất nhiều, thậm
chí ở nhiều ngành còn nhỏ hơn mức ảnh hởng bình quân của nền kinh tế. ĐIều này
chỉ ra mức ảnh hởng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí đầu vào của các
ngành. Nh vậy, bộ phận có mức độ ảnh hởng cao đến nền kinh tế lạI đòi hỏi sản
phẩm nhập khẩu làm chi phí đầu vào lớn.
Mặc dù mức độ ảnh hởng của khu vực này đến tăng trởng kinh tế là lớn nhất nhng
nhìn chung,ngành vẫn cha đủ sức tự chủ,hơI mỏng manh và phụ thuộc.
*ngành dịch vụ:
13
Giá trị và giá trị tăng trởng ngành dịch vụ thời kỳ 1996-2000
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
g
DV
(%) 8,8 7,14 5,08 2,25 5,32
VA
DV
(tỷ đồng)
(so với 1994)
93.240 99.895 104.966 107.33 113.036