1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Dạy học Văn đã và đang là một công việc khó khăn và nhiều thách thức với cả
người dạy lẫn người học. Nhất là trong những năm gần đây, ngành Giáo Dục (GD)
nói chung và việc thi cử đối với môn Ngữ văn nói riêng liên tục đổi mới (về cấu
trúc đề thi, dạng câu hỏi, phạm vi kiến thức, mức độ phân hóa...). Hơn thế, học sinh
thường than phiền là Văn khó hiểu, khó nhớ, khó được điểm cao như các môn tự
nhiên hoặc các môn thi trắc nghiệm (Từ năm 2017, trừ môn Ngữ Văn thi ở hình
thức tự luận còn tất cả các môn thi khác như: Toán, Lí, Hóa, Sinh, Sử, Địa, Ngoại
ngữ, Giáo dục công dân đều thi ở hình thức trắc nghiệm khách quan trong kì thi
THPT Quốc Gia). Với những em học được (hiểu bài là viết được) đã khó thì với
những học sinh học yếu, mất gốc lại càng khó. Những học sinh này chậm hiểu,
thậm chí có hiểu cũng khó vận dụng. Để làm được bài ở mức độ 4 hay 5 điểm các
em còn phải học thuộc bài học theo kiểu học vẹt - nếu các em chăm chỉ. Còn với
những học sinh (HS) đã yếu, đã kém, lại lười và mất gốc thì thật sự là nỗi ám ảnh
của người dạy. Bài thi của những HS này thường có phổ điểm từ 0 đến 3. Và với
những em như thế thì môn văn thực sự là nỗi kinh hoàng!
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp nhiều năm, tiếp xúc với nhiều đối tượng
HS (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém...), tôi nhận ra rằng để HS có thể nhớ kiến thức,
có thể hiểu được bài học không phải ta chỉ dạy một lần, một bài là được. Để giúp
các em khắc sâu ghi bài học trong giờ Đọc hiểu văn bản (còn gọi là Đọc văn - từ
đây trở đi sẽ gọi là Đọc văn) nhất thiết người thầy phải tìm cách để các em được ôn
lại kiến thức một cách "vô thức" và "tự nhiên" nhất thông qua việc xâu chuỗi kiến
thức ở từng bài học, từng tiết học bằng việc người thầy giúp các em có cái nhìn kết
nối, liên hệ, so sánh mở rộng và nâng cao trong từng giờ, từng bài Đọc văn. Từ đó
hình thành cho các em thói quen tư duy, so sánh, liên hệ mở rộng giữa các bài học
có cùng chủ đề, giữa các chi tiết có sự tương đồng hay khác biệt, giữa những hình
ảnh có liên quan,...nhằm góp phần đánh thức kiến thức cũ, khơi gợi kiến thức mới,
đồng thời tạo nguồn cảm hứng cho bài học. Thói quen liên hệ mở rộng ngay trong
giờ đọc hiểu cũng sẽ hình thành ở các em kĩ năng này trong bài làm văn hướng tới
chinh phục bài văn nghị luận văn học (NLVH) trong đề thi THPT Quốc Gia.
mà học sinh được trang bị trong giờ Đọc văn, sẽ hướng dẫn và rèn luyện cho các
em kĩ năng vận dụng để làm tốt bài văn NLVH theo định hướng của đề thi minh
họa THPT Quốc gia 2018 - hướng tới chinh phục bài thi THPT Quốc gia 2018 dạng bài có yêu cầu liên hệ mở rộng và nâng cao kiến thức thuộc tác phẩm Ngữ
văn lớp 12 với tác phẩm Ngữ văn lớp 11.
"Hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức liên hệ, mở rộng, nâng cao
trong giờ Đọc văn để làm tốt bài làm văn NLVH trong đề thi THPT Quốc gia"
là một việc làm cần thiết. Nhằm khắc phục phần nào những tồn tại trong dạy học
văn, giúp học sinh làm tốt một phần quan trong trong bài thi THPT Quốc gia. Nó
đặc biệt ý nghĩa hơn trong xu hướng ra đề thi tránh học tủ, học vẹt ngày nay. Đồng
thời góp phần tạo nên không khí tươi mới sinh động hấp dẫn cho mỗi giờ đọc văn.
Các em có cơ hội “vừa học vừa ôn tập”, “vừa học vừa sáng tạo”. Giờ học Văn vì
thế cũng bớt nhàm chán, đơn điệu hơn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trong thực tiễn thi cử của HS ở bộ môn Văn (ở đây tôi chủ yếu bàn về bài làm
văn NLVH), dù là bài thi nào, kì thi nào (thi HS giỏi, thi THPT Quốc gia, thi học
kì...) thì nhiệm vụ của người thí sinh là sau khi giải quyết tốt nhất yêu cầu chính
của đề bài, nếu muốn được điểm khá giỏi (điểm 8; 9; 10) các em đều phải có phần
liên hệ mở rộng khẳng định và nâng cao về vấn đề đã phân tích, cảm nhận – cho dù
đề bài không yêu cầu cụ thể. Đây là một trong những phần quan trọng chứng tỏ
2
năng lực và vốn kiến thức sâu rộng của người viết. Và cũng chính là cơ sở quan
trọng để các giám khảo lấy làm căn cứ quyết định mức điểm cộng cho bài viết. Khi
chúng tôi đi chấm thi HS giỏi, chấm thi THPT Quốc Gia điều này lại càng rõ ràng
hơn bao giờ hết.
Nghiên cứu và áp dụng đề tài "Hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức liên
hệ, mở rộng, nâng cao trong giờ Đọc văn để làm tốt bài làm văn NLVH trong
đề thi THPT Quốc gia", tôi kì vọng có thể hình thành ở HS những kiến thức kĩ
năng cần thiết giúp các em tự tin hơn trong mỗi bài thi, hào hứng hơn trong mỗi bài
chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn
của người đọc”. “Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản”.[3]
Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc
đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo
nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”.[4] Như vậy, đọc
hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng
tiếp nhận của HS. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn,
nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình
cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Với quan điểm
phát huy vai trò chủ thể của HS, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật
ngôn từ), mà phương pháp dạy học Văn thay bằng khái niệm “Đọc hiểu văn bản”
-còn gọi là "Đọc văn".
Liên hệ được hiểu là: từ sự việc, hiện tượng này nghĩ đến sự việc, hiện
tượng khác dựa trên những mối quan hệ nhất định.[5] Trong dạy đọc
văn, liên hệ là một hoạt động thường xuyên của người thầy giúp HS có
cơ sở để ghi nhớ thức của bài học. Giáo viên có thể hướng dẫn HS của
mình liên hệ giữa chi tiết, hình ảnh, nhân vật, sự kiện ở tác phẩm này
với chi tiết, hình ảnh, nhân vật, sự kiện ở tác phẩm khác, với hiện thực
đời sống và những trải nghiệm thực tế của bản thân...nhằm khắc sâu
kiến thức đã học một các tự nhiên nhất. Đây là một hoạt động khá khó
khăn đòi hỏi người người dạy phải nghiên cứu kĩ càng và thao tác
nhanh gọn rõ ràng mới thuyết phục được học sinh trong khoảng thời
gian eo hẹp (ba đến năm phút) của một giờ học.
Trong giờ Đọc văn, những liên hệ có thể được tiến hành đa dạng, nhiều mức
độ như: nhan đề, cảm hứng, đề tài, nhân vật, chi tiết, hình ảnh... Có thể liên hệ với
tác phẩm của cùng tác giả hoặc khác tác giả; có thể liên hệ tác phẩm cùng trong
chương trình THPT hoặc ngoài chương trình. Liên hệ còn có thể xảy ra ở những
vấn đề trong tác phẩm và những trải nghiệm trong chính thực tế đời sống của người
dạy và người học.
thi trong 120 phút trong nhiều lần thi tại trường tôi, rất nhiều HS của chúng tôi
không hoàn thành bài viết của mình, điển hình như các em Nhữ Văn Vùng, Đỗ Văn
Tùng, Lê Thị Uyên... (Lớp 12A5 năm học 2016 - 2017), Em Lê Tiến Tuấn, Đỗ Thị
Trang, Phạm Thị Quỳnh, Hoàng Thị Duyên, (Lớp 12A1 năm học 2017 - 2018).
Đáng chú ý là trong số những HS không làm bài xong có cả những em là HS khá,
giỏi. Có em xong được bài lại vội vàng mà "quên" phần mở rộng nâng cao để
khẳng định vấn đề khiến bài làm có kết quả không như mong muốn.
Những lần thi thử cuối cùng tại trường (Trường THPT Triệu Sơn 5) đa phần
các em đã khắc phục được lỗi chưa hoàn thành bài viết. Nhưng phần liên hệ nâng
cao mở rộng ở cuối bài thì một số em vẫn còn "bỏ sót". Tìm hiểu nguyên nhân tôi
được biết do các em chưa hình thành được kĩ năng này một cách thuần thục, nên
lúc đi thi, thời gian thúc bách các em không nghĩ ra kịp và đành "bỏ qua". Đó là
5
một trong những điều khiến các em nuối tiếc nhất khi cô giáo chữa lại bài viết và
rút kinh nghiệm cho lần thi sau.
Để giúp các em HS của mình bình tĩnh, tự tin và khắc phục những tồn tại nêu
trên trong bài viết, bản thân tôi đã trao đổi với đồng nghiệp trong tổ bộ môn và đã
từng bước tiến hành "Hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức liên hệ, mở rộng,
nâng cao trong giờ Đọc văn để làm tốt bài làm văn NLVH trong đề thi THPT
Quốc gia".
2.3. Những giải pháp thực hiện
2.3.1. Hình thành cho học sinh những kiến thức, kĩ năng liên hệ, mở rộng,
nâng cao trong giờ Đọc văn
Như trên đã nói, trong mỗi giờ đọc văn trên lớp tôi đã hình thành kĩ năng liên
hệ hoặc tạo mối liên hệ giữa các tác phẩm với nhau dù đó chỉ là một chi tiêt, một
hình ảnh có ý nghĩa có ý nghĩa tương đồng...Việc hình thành kiến thức liên hệ, mở
rộng và nâng cao trong giờ học văn thường được tôi tiến hành cả ở 3 khối lớp và ở
chính nhà thơ. Tôi cũng liên hệ để thấy được sự "gặp gỡ" giữa Huy Cận với Hồ Chí
Minh trong bài thơ "Chiều tối" của Người. Thi liệu cũ, nhưng tấm lòng và nỗi niềm
lại mang vẻ đẹp riêng, rất hiện đại, rất nhân bản...
Ví dụ 4: Khi dạy bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu lúc nhấn mạnh quan niệm mới
mẻ của nhà thơ về dòng chảy tuyến tính bất tận của thời gian và khát vọng sống
mạnh mẽ, mãnh liệt của nhân vật trữ tình trong khổ thơ cuối bài thơ "Vội vàng":
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Tôi lại định hướng các em liên hệ với khát vọng táo bạo mãnh liệt của Xuân
Quỳnh trong hai khổ thơ cuối của bài thơ "Sóng" :
“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”.
Ví dụ 5: Khi tìm hiểu truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài đến chi tiết
tiếng sáo - biểu tượng đẹp cho tự do, tình yêu, hạnh phúc ngay từ đầu đã đánh thức
tâm hồn đang an phận, nhóm lên những khát khao. Điệu hồn tha thiết của người
Mèo làm hồi sinh tâm hồn và giục giã Mị hành động như một người tự do rồi đưa
Mị đến với bầu trời của tự do, tình yêu, hạnh phúc, thoát khỏi hiện tại éo le trong