SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò: Trường THPT Chun Lương Thế Vinh
Mã số:……………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
VẬN DỤNG CÁC THAO TÁC
LẬP LUẬN VÀO BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN
Người thực hiện: Trần Thò Châu Thưởng
Lónh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
Phương pháp giáo dục:
Lónh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mền Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 – 2014
1
×
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Trần Thị Châu Thưởng
2. Ngày tháng năm sinh: 04-10-1964
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: R317, đường A3, Võ Thị Sáu, phường Thống Nhất, thành
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại (NR): 0613.600660
6. Fax:
7. Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn
8. Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
phân môn làm văn trong trường phổ thông. Một trong những phương
diện được chú trọng là rèn cho học sinh các thao tác lập luận. Đây là
cách rất tốt, giúp hình thành cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản nghị
luận một cách chặt chẽ, sắc sảo.
2. Tuy nhiên, với nhiều lí do, học sinh được học các thao tác lập
luận nhưng lại chưa biết vận dụng vào bài văn nghị luận. Điều này khiến
cho việc dạy các thao tác lập luận kém hiệu quả.
3. Từ thực tế dạy học, chúng tôi viết sáng kiến kinh nghiệm:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN
VÀO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN nhằm đưa ra các giải pháp giúp giáo viên
ứng dụng vào việc rèn luyện cho học sinh biết cách lập luận trong văn
nghị luận.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
- Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng
trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực
4
biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Trước tác của
các nhà tư tưởng, nhà lí luận, nhà triết học đều viết dưới hình thức nghị
luận. Có thể nói, không có văn nghị luận sẽ rất khó hình thành các tư
tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống. Có năng lực nghị luận là một
điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội.
- Văn nghị luận thực chất là văn bản thuyết lí, văn bản nói lí lẽ nhằm
phát biểu các nhận định, tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm, thái độ trước một
vấn đề đặt ra. Để bài văn có sức thuyết phục cao, người viết phải biết lập
luận, tức là phải biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu vấn đề và
giải quyết vấn đề; biết dùng những lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều
mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.
Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so
sánh, tổng hợp, sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ.
14 8 (tập 2) Ôn tập về luận điểm
15 Viết đoạn văn trình bày luận điểm
16 Luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm
17 Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận
18 Luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn
nghị luận
19 Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn
nghị luận
20 Luyện tập đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào
bài văn nghị luận
21 9 (tập 2) Phép phân tích và tổng hợp
22 Luyện tập phép phân tích và tổng hợp
23 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
24 Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện
tượng đời sống
25 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
26 Liên kết câu và liên kết đoạn văn
27 Liên kết câu và liên kết đoạn văn (luyện tập)
28 Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư
tưởng, đạo lí
29 Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích)
30 Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích)
31 Cách làm bải nghị luận về một đoạn thơ, bài
thơ
32 Luyện nói : Nghị luận về một đoạn thơ, bài
thơ
NGỮ VĂN THPT CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
6
26 Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn
nghị luận
27 Diễn đạt trong văn nghị luận
28 Diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp theo)
NGỮ VĂN THPT CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
STT LỚP TÊN BÀI
1 10 Luận điểm trong bài văn nghị luận
2 Đề văn nghị luận
8
3 Thực hành thao tác chứng minh, giải thích, quy
nạp, diễn dịch
4 Thực hành viết các đoạn văn chứng minh, giải
thích, quy nạp, diễn dịch
5 Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn
nghị luận xã hội
6 Thao tác lập luận phân tích
7 Luyện tập thao tác lập luận phân tích (về xã hội)
8 Luyện tập thao tác lập luận phân tích (về tác
phẩm thơ)
9 Luyện tập thao tác lập luận phân tích (về tác
phẩm văn xuôi)
10 Thao tác lập luận so sánh
11 Luyện tập về thao tác lập luận so sánh
12 Luyện tập kết hợp các thao tác lập luận
13 Thao tác lập luận bác bỏ
14 Luyện tập về thao tác lập luận bác bỏ
15 Luyện tập phân tích đề, lập dàn ý bài nghị luận
văn học
16 Thao tác lập luận bình luận
17 Tóm tắt văn bản nghị luận
đề tài
Để việc dạy học các thao tác lập luận một cách có hiệu quả, chúng
tôi xin đưa ra các giải pháp sau:
2.1. Dạy lí thuyết có hệ thống
- Nhìn vào bảng thống kê ở trên, dễ dàng nhận thấy chương trình và
sách giáo khoa hiện hành đề cao vai trò của lập luận trong văn nghị luận.
Nếu trước đây chương trình và sách giáo khoa cũ (2000), cho giải thích,
chứng minh, phân tích là kiểu bài thì chương trình và sách giáo khoa
hiện hành quan niệm đây là thao tác lập luận, được kết hợp sử dụng trong
toàn bộ bài văn. Dạy học sinh biết lập luận là rèn năng lực tư duy và biểu
đạt, giúp cho bài văn nghị luận trở nên phong phú, lí lẽ sắc sảo hơn.
- Từ quan niệm trên, chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã
dành một thời lượng nhiều, xuyên suốt từ bậc THCS đến THPT để hướng
dẫn học sinh rèn các thao tác lập luận.
- Bên cạnh những ưu điểm trên, chương trình và sách giáo khoa hiện
hành vẫn có một vài hạn chế khiến việc dạy các thao tác lập luận chưa
giúp học sinh ứng dụng có hiệu quả vào bài văn. Trước hết, nhìn vào
phân phối chương trình, chúng ta dễ dàng nhận thấy các bài dạy thao tác
lập luận trải dài từ lớp 7 đến lớp 12. Điều này khiến cho bài dạy về từng
thao tác không liên kết với nhau. Người dạy lẫn người học coi đây là
10
những đơn vị kiến thức đơn lẻ. Phải mất 5 năm, đến lớp 12, chương trình
mới có bài Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận. Trong thực
tế, một bài văn, có khi một đoạn văn nghị luận thường được người viết sử
dụng nhiều thao tác lập luận.
- Để khắc phục hạn chế trên, theo chúng tôi, khi dạy bài học về các
thao tác lập luận, giáo viên cần nhắc lại những thao tác đã học nhằm giúp
cho học sinh nắm lí thuyết một cách có hệ thống, thấy được mối quan hệ
giữa các thao tác lập luận trong một bài văn, đoạn văn.
- Bên cạnh đó, khi dạy các thao tác lập luận, giáo viên thường xuyên
cung cấp kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, để học sinh có thể học tập và
áp dụng vào bài viết của mình, người dạy có thể thêm câu hỏi dẫn dắt:
+, Xác định luận điểm, luận cứ trong đoạn văn trên?
+, Để làm sáng tỏ và vững chắc hơn luận điểm của mình, Chế Lan
Viên đã dùng thao tác lập luận nào?
2.2. Tích hợp dạy các thao tác lập luận trong các bài đọc
văn
- Một biện pháp rèn luyện năng lực lập luận cho học sinh là tích hợp
dạy các thao tác lập luận trong các bài đọc văn. Đây là một cách luyện
tập đơn giản và khá hữu hiệu.
- Trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nhiều văn bản
nghị luận được chọn cho phân môn đọc văn. Đây là một thuận lợi cho
giáo viên trong việc rèn thêm kĩ năng lập luận cho học sinh.
- Đặc điểm của văn nghị luận là có hệ thống luận điểm, luận cứ và
lập luận. Những bài văn nghị luận mẫu mực thường có lập luận chặt chẽ,
vận dụng nhuẫn nhuyễn các thao tác lập luận nhằm tăng sức thuyết phục
cho các luận điểm. Trong quá trình đọc – hiểu văn bản nghị luận, giáo
viên cần hướng dẫn cho học sinh nhận ra các nghệ thuật lập luận các tác
giả đã sử dụng, để qua đó các em có ý thức học tập, vận dụng lập luận
vào bài văn, đoạn văn.
Xin đưa ra một số ví dụ sau:
12
Thao tác lập luận Văn bản
- Giải thích
- Chứng minh
- Bình luận
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia,
nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao;
nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp.
Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai
núi U-ran đến Thái Bình Dương.
13
Chúng ta đã không hoàn thành được một số
mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về
Cam kết phòng chống HIV/AIDS. Nhưng điều
quan trọng hơn chúng ta đã bị chậm trong việc
giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ
tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải
giảm được ¼ số thanh niên bị nhiễm HIV ở các
nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra
chúng ta phải giảm được một nửa tỉ lệ trẻ sơ
sinh bị nhiễm; và lẽ ra chúng ta phải triển khai
các chương trình chăm sóc tòan diện ở khắp mọi
nơi. Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không
đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005.
(Thông điệp nhân ngày thế giới phòng
chống AIDS, 1- 12- 2003 Cô-phi An-nan)
- Giáo viên có thể tích hợp dạy thao tác lập luận trong các bài đọc
văn sau:
Lớp 10
+, Hiền tài là nguyên khí của quốc gia - Thân Nhân Trung
+, Tựa “Trích diễm thi tập” – Hoàng Đức Lương
Lớp 11
+, Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm
+, Xin lập khoa luật (Trích Tế cấp bát điều) – Nguyễn Trường Tộ
+, Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh
+, Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn
An Ninh
+, Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác – Ăng-ghen
14
tập luyện tập khác.
- Một số dạng bài tập giáo viên có thể biên soạn thêm:
+, Luyện nhận biết luận điểm, luận cứ.
+, Luyện nhận biết cách thức lập luận.
+, Luyện xây dựng luận điểm, luận cứ.
+, Luyện lựa chọn thao tác lập luận khi đã có luận điểm, luận cứ.
+, Luyện viết một thao tác lập luận theo yêu cầu của đề.
+, Luyện chữa lỗi lập luận trong một đoạn văn, bài văn.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Như trên chúng tôi đã trình bày, văn bản nghị luận là một trong
những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có
vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu
sắc trước đời sống. Để có một bài văn nghị luận hay, người viết cần có
luận điểm mới mẻ, độc đáo, luận cứ xác đáng, sắc sảo và nghệ thuật lập
luận giàu sức thuyết phục. Luận điểm là nội dung còn lập luận là hình
thức diễn đạt nội dung ấy; lập luận là cách nói, là phương pháp thuyết
phục đối tượng.
- Việc rèn cho học sinh thao tác lập luận không chỉ giúp các em viết
bài văn hay mà điều quan trọng nhất là các em được rèn phương pháp tư
duy, hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống.
Với tất cả mục đích trên, chúng tôi đã viết SKKN HƯỚNG DẪN
HỌC SINH VẬN DỤNG CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN VÀO BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN.
Sáng kiến kinh nghiệm này là kết quả một quá trình thực hiện trong
nhiều năm, được ứng dụng vào thực tế giảng dạy ở Trường THTP chuyên
Lương Thế Vinh và đã mang lại kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi
môn Ngữ văn cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp tỉnh.
16
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Qua thực tế dạy học, chúng tôi có một số đề xuất sau:
Họ và tên tác giả: Trần Thị Châu Thưởng Đơn vị: Tổ Văn
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn: Văn
Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác:
1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào thực tế cuộc sống: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
18
×