Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và một số chỉ số miễn dịch ở bệnh nhân sau ghép thận - Pdf 12

Bộ Giáo dục v đo tạo - Bộ quốc phòng
Học viện quân y
Bùi Văn mạnh

Nghiên cứu lâm sng, cận lâm
sng v một số chỉ số miễn dịch ở
bệnh nhân sau ghép thận
Chuyên ngành: Nội thận tiết niệu
Mã số: 62.72.20.20

Tóm tắt Luận án tiến sĩ y học
H Nội 2009
Luận án đợc hon thnh tại học viện quân y
Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Đỗ Tất Cờng
2. TS Lê Văn Don

Phản biện 1: PGS.TS Đỗ Thị Liệu

Phản biện 2: PGS.TS Trần Thị Chính

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thanh Liêm Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp

1
Đặt vấn đề
Ghép thận là biện pháp điều trị tối u cho bệnh nhân suy
thận mạn (STM) giai đoạn cuối. Trờng hợp ghép thận đầu tiên
đợc thực hiện thành công trên thế giới vào năm 1954 tại Hoa Kỳ.
Ca ghép thận đầu tiên ở Việt Nam đợc thực hiện ngày 04/6/1992
tại Học viện quân y. Sau ghép thận bệnh nhân phải dùng thuốc
chống thải ghép suốt đời. Vì vậy, ngoài tác dụng chống thải ghép,
thuốc ức chế miễn dịch còn gây ra những thay đổi về trạng thái
miễn dịch cũng nh một số tác dụng phụ ở ngời nhận thận. Đến
nay các nghiên cứu trong nớc về diễn biến chức năng thận sau
ghép, các biến chứng có thể gặp sau ghép, sự thay đổi tình trạng
miễn dịch của các bệnh nhân ghép thận dới ảnh hởng của các
thuốc chống thải ghép đợc sử dụng lâu dài còn cha nhiều. Vì vậy
chúng tôi chọn đề tài
Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và một
số chỉ số miễn dịch ở bệnh nhân sau ghép thận
,
nhằm mục tiêu:
1. Nghiên cứu một số chỉ tiêu lâm sàng, cận lâm sàng để đánh
giá chức năng thận ghép và một số biến chứng thờng gặp ở bệnh
nhân sau ghép thận.
2. Nghiên cứu biến đổi một số chỉ số miễn dịch ở bệnh nhân sau
ghép thận.
Đóng góp mới của luận án
Với việc nghiên cứu theo dõi dọc nhiều chỉ tiêu đánh giá chức
năng thận ghép; các biến chứng chính thờng gặp sau ghép; sự hình


thờng xuyên đợc lọc máu,
chiếm tỉ lệ khoảng 2,8% nhu cầu phải điều trị.
1.2. Ghép thận
1.2.1. Sự phát triển kỹ thuật ghép thận trên thế giới
Từ đầu thế kỷ XX đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về
ghép thận của nhiều tác giả về ghép thực nghiệm, miễn dịch ghép,
thuốc chống thải ghépTrờng hợp ghép thận thành công đầu
tiên trên ngời giữa một cặp anh em sinh đôi đợc tiến hành
ngày 23/12/1954 ở Boston (Mỹ). Sự phát hiện hệ thống kháng
nguyên bạch cầu ngời (HLA) làm cho các nhà khoa học hiểu biết
rõ hơn về miễn dịch ghép cùng với việc tìm ra hàng loạt thuốc
chống thải ghép mới đã cải thiện đáng kể tiên lợng của bệnh
nhân ghép thận.
Đến năm 2004 đã có 91/192 nớc trên thế giới có
khả năng ghép thận, trong đó Trung Quốc là quốc gia có số bệnh
nhân đợc ghép thận từ ngời chết não lớn nhất thế giới, với thời
gian sống thêm dài nhất của bệnh nhân sau ghép thận là 27 năm.

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều bệnh nhân ghép thận sống trên
40 năm.

3
1.3.2. Các phơng pháp theo dõi, đánh giá chức năng thận ghép
Đánh giá chức năng bài xuất của thận ghép: theo dõi số lợng
nớc tiểu/24h, c biệt giai oan sm rất cần thiết để đánh giá
diễn biến chức năng thận ghép.

(5) TCD8 gây độc, hủy tế bào tạng ghép.
Cơ chế thải ghép trong ghép đồng loại không phù hợp bao
gồm các yếu tố tế bào (lympho bào B và T), các yếu tố thể dịch
(IgG, IgM, kháng thể kháng tạng ghép ) và một số cytokine.
3
1
2
4
54
Phân loại phản ứng thải ghép: bao gồm thải ghép nhanh, thải
ghép tối cấp, thải ghép cấp và thải ghép mạn.
Các biện pháp chống thải ghép
- Đọ kháng nguyên hệ HLA và kháng nguyên hệ ABO
- Đọ chéo huyết thanh ngời cho và nhận
- Xác định kháng thể kháng HLA trớc ghép
- Sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch sau ghép
- Theo dõi sát tình trạng lâm sàng, chức năng thận ghép
- Sinh thiết thận ghép theo kế hoạch
1.3.4. Tình hình nghiên cứu ghép thận ở Việt Nam
Đến nay (2008) hơn 200 ca ghép thận đã đợc tiến hành thành
công tại hàng chu

c bệnh viện l

n trong cả nớc, trong đó Bệnh
viện Chợ Rẫy và Bệnh viện 103 là những cơ sở ghép nhiều nhất,
kết quả ghép ngày một tốt hơn. Hiện nay đã có một số công trình

bình 37,511,6 năm.
- Nhóm chứng: 45 ngời khoẻ mạnh (17 nam, 28 nữ), tuổi trung
bình 329 năm, để so sánh với nhóm bệnh nhân ghép thận về số
lợng tế bào TCD4, TCD8, TCD3 và tỉ lệ các tế bào.
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân
- Tiêu chuẩn lựa chọn: gồm các bệnh nhân ghép thận đợc theo
dõi đầy đủ lâu dài sau ghép theo định kỳ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân ghép nhiều tạng khác nhau;
bệnh nhân sau ghép không theo dõi đầy đủ theo định kỳ.
- Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: ở thời điểm lấy mẫu nghiên cứu
ngời đợc chọn không bị các bệnh tự miễn, không mắc các bệnh
nhiễm khuẩn đang hoạt động, không bị nhiễm HIV.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả, tiến cứu kết hợp với hồi cứu
2.2.2. Phơng pháp thu thập số liệu
- Nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia tuyển chọn, điều trị trớc,
trong và sau mổ những bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện 103, trực
tiếp theo dõi cho các bệnh nhân sau ghép để thu thập số liệu.
- Lập phiếu nghiên cứu; lập sổ theo dõi bệnh nhân lâu dài
2.2.3. Các số liệu thu thập
* Đối với nhóm bệnh nhân (nhóm I và nhóm II)

- Dữ liệu hành chính: tuổi, giới, bệnh thận mắc phải, nguồn
thận ghép, quan hệ với ngời nhận, ngày ghép, đọ chéo, kháng thể
kháng HLA trớc ghép, HLA ngời cho và nhận (nhóm I).
- Các thông số về lâm sàng sau ghép: nớc tiểu/24 giờ; huyết
áp; biến chứng sớm sau mổ; triệu chứng lâm sàng và thời gian xảy
ra đợt thải ghép; các đợt nhiễm trùng do vi khuẩn, virus, nấm; biến
chứng tim mạch; tác dụng phụ của các thuốc chống thải ghép.
- Các thông số cận lâm sàng:

thập kỷ 90-thế kỷ XX (Bộ y tế-2004)
- Đánh giá sự hình thành kháng thể kháng HLA trớc ghép: tỉ lệ
bệnh nhân dơng tính với kháng thể kháng HLA trớc ghép
- Chẩn đoán thải ghép cấp: sốt, tăng cân, phù trớc xơng
chày, lợng nớc tiểu giảm, tăng huyết áp, chỉ số trở kháng mạch
thận lớn hơn 0.7, thận ghép to và đau, creatinin tăng 25% so với
ban đầu; sinh thiết thận ghép: tế bào bạch cầu đơn nhân thâm nhập
mô ghép, viêm nội mạc mạch máu, viêm và hoại tử ống thận (theo
Cơ quan quốc gia về điều phối tạng và đăng ký ghép thận Hoa Kỳ)
- Đánh giá kết quả sau ghép:
+ Mất chức năng thận ghép: bệnh nhân tử vong hoặc thận
ghép mất hoàn toàn chức năng phải trở lại điều trị bằng lọc máu
hoặc ghép thận lại 7
+ Thời gian sống thêm của thận ghép: tỉ lệ bệnh nhân sống
với thận ghép còn chức năng qua từng năm
+ Thời gian sống thêm của bệnh nhân: tỉ lệ bệnh nhân đang
sống với thận ghép còn hoặc đã mất chức năng qua từng năm
2.2.5. Phơng pháp tiến hành các xét nghiệm
- Xét nghiệm xác định hệ số thanh thải creatinin (HSTTCr):

)(
73,1)/(
)/(
2
mSPcre
phutmlVUcre
phutmlHSTTCr ì


n % n %
p
Nam 23 69,7 57 67,1
Giới
Nữ 10 30,3 28 32,9
p>0,05
Tuổi trung bình (SD) 36,0 9,1 37,511,6 p>0,05
Thời gian theo dõi (tháng) 32,6 32,3 38,928,7 p>0,05 8
Tỉ lệ nam-nữ, tuổi trung bình, thời gian theo dõi của 2 nhóm
không khác nhau (p>0,05). Phần lớn bệnh nhân của nhóm II đợc
ghép thận từ năm 2000 trở đi.
Bảng 3.2: Quan hệ huyết thống giữa ngời cho-nhận (nhóm I)
Quan hệ cho - nhận Số cặp ghép Tỉ lệ %
Anh - chị em ruột 19 57,6
Bố - mẹ đẻ 13 39,4
Họ hàng 1 3,0
Tổng số 33 100
Phần lớn ngời cho là anh-chị-em (57,6%) và bố-mẹ (39,4%).
3.2. Diễn biến chức năng thận sau ghép
Bảng 3.3: Thay đổi số lợng nớc tiểu 24h sau ghép thận (ml)
Nhóm I Nhóm II Thời gian
sau ghép
n
Số lợng n Số lợng
p
1 tháng


27 2077

785
76
2231

266 >0,05
60 tháng
2

19 2050

234
60
2244

219 >0,05
Trong năm đầu sau ghép số lợng nớc tiểu 24h ở nhóm II
nhiều hơn so với nhóm I (p<0,05).

Bảng 3.4: áp lực thẩm thấu nớc tiểu mẫu sáng sớm
n SD (mOsmol.kg) 95%CI
Ngời bình thờng
1
800 30

p 1 - 2 < 0,01
Sau ghép 6 tháng
2

90 131,0 72,1 8,6 3,7
p 1 - 2 < 0,01 > 0,05
60 tháng
2
55 211,9 225,7

10,7 5,5

Trong 2 năm đầu, giá trị creatinin máu trung bình vẫn ở mức suy
thận giai đoạn I. Sau ghép 5 năm, creatinin tăng lên và khác nhau có
ý nghĩa so với các thời điểm trớc đó (p <0,01).
Bảng 3.6: Hệ số thanh thải creatinin sau ghép
Thi điểm sau ghép thận (năm) HSTTCr
(ml/phút)
1 nm 2 nm 3 nm 4 nm 5 nm
>60 % 37,3 42,2 38,1 33,3 35,2
n 41 33 33 29 20 60-
41
% 40,2 36,7 39,3 40,3 37,0
n 22 17 15 14 6 40-
21
% 21,5 18,9 17,9 19,4 11,1
n 1 2 4 5 9 20
% 1,0 2,2 4,7 7,0 16,7
Cộng 102 90 84 72 54
Tỉ lệ bệnh nhân có chức năng thận ghép bình thờng ở 1 năm, 3
năm và 5 năm sau ghép là 37,3%; 38,1% và 35,2%.
Bảng 3.7: Thời gian sống thêm sau ghép của thận
Thời gian Nhóm I Nhóm II p Kết quả chung
1 năm 81,8 % 92,9 % >0,05 87,4 %

20 4 (20,0) 65 13 (20) p >0,05
Tỉ lệ mất chức năng thận giữa 2 nhóm trong cùng một giai đoạn
trớc và sau năm 2000 không khác nhau (p >0,05) nhng lại khác
nhau có ý nghĩa giữa 2 giai đoạn ở mỗi nhóm (p <0,05).
Bảng 3.9: Nguyên nhân gây mất chức năng thận ghép
Nhóm I Nhóm II Nguyên nhân gây mất chức
năng thận ghép
n % n %
Bệnh thận ghép mạn tính 5 33,3 10 37,0
Không có chức năng từ đầu 2 13,4 - -
Do bệnh thận ghép mạn
tính (CAN)
3 20,0 6 22,2
Tử
vong
Do nguyên nhân khác 5 33,3 11 40,8
Tổng số 15 100 27 100
Nguyên nhân gây mất chức năng thận sau ghép không khác
nhau giữa 2 nhóm (p >0,05).
Bảng 3.10: Thời gian mất chức năng thận ghép
Nhóm I (n = 15) Nhóm II (n = 27) Thời gian sau
ghép (tháng)
n Tỉ lệ % N Tỉ lệ %
< 6 7 46,7 12 44,4
6 - 12 4 26,7 8 29,6
> 12 4 26,6 7 26,0
Cộng 15 100 27 100
Phần lớn bệnh nhân ở cả 2 nhóm thận ghép mất chức năng
trong năm đầu, đặc biệt 6 tháng đầu sau ghép (46,7% ở nhóm I và
44,4% ở nhóm II).

Nhóm II 20 3 (15) 65 9 (13,8) p>0,05
Tỉ lệ tử vong trong 2 năm đầu sau ghép ở 2 giai đoạn 1992-1999
và 2000-2007 của nhóm I khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05),
nhng ở nhóm II khác biệt không có ý nghĩa (p< 0,05).
Bảng 3.14: Giá trị huyết áp trung bình sau ghép thận
Thời gian
sau ghép
Huyết áp tâm thu
( SD)
Huyết áp tâm trơng
( SD)
3 tháng
1
133,5 11,7 84,8 6,7
12 tháng
1
132,4 10,4 84,4 5,7
24 tháng
1
132,7 10,7 82,8 5,1
p 1 - 2 < 0,05
60 tháng
2
139,2 15,7 88,8 7,0 12
ở những năm đầu giá trị huyết áp trung bình vẫn ở giới hạn bình
thờng cao. Từ năm thứ 5 huyết áp bắt đầu tăng rõ (p<0,05).
Bảng 3.15: Tỉ lệ thải ghép cấp sau ghép

Tăng cân từ 0,5 - 3 kg/24 giờ 60 92,3
Phù nhẹ trớc xơng chày 46 70,8
Tăng urê và creatinin 25% ban đầu 65 100
Các đợt thải ghép cấp đều có tăng urê và creatinin 25% giá trị
ban đầu trớc khi xảy ra thải ghép cấp, kèm hiện tợng tăng cân và
giảm số lợng nớc tiểu. 13
Bảng 3.18: Thời gian xảy ra thải ghép cấp sau ghép
Nhóm I (23 đợt) Nhóm II (42 đợt) Thời gian thải
ghép cấp
n % n %
Tháng đầu 16 69,6 24 57,1
Tháng thứ 2-3 5 21,7 12 28,6
Sau 3 tháng 2 8,7 6 14,3
ở cả 2 nhóm, các đợt thải ghép cấp phần lớn xảy ra trong tháng
đầu sau ghép (69,6% ở nhóm I và 57,1% ở nhóm II).
Bảng 3.19: Một số biến chứng hay gặp sau ghép
Nhóm I (1) Nhóm II (2)

Biến chứng
n % n %
p
(1)-(2)
Đột quỵ não 5

15,2 4 4,8
> 0,05
Nhiễm trùng tiết niệu

Thông số Kháng thể kháng HLA trớc ghép
Creatinin máu r = 0,315 (p < 0,05) 1 năm sau
ghép
HSTTCr r = - 0,368 (p < 0,05)
Creatinin máu r = 0,3637 (p < 0,05) 2 năm sau
ghép
HSTTCr r = - 0,470 (p < 0,05)
Tơng quan giữa kháng thể kháng HLA hình thành trớc ghép
và creatinin máu sau ghép là tơng quan thuận, mức độ vừa
(r=0,315 ở 1 năm sau ghép và r=0,3637 ở 2 năm sau ghép).
Tơng quan giữa kháng thể kháng HLA hình thành trớc ghép
và HSTTCr sau ghép là mối tơng quan nghịch, mức độ vừa
(r = - 0,368 ở 1 năm sau ghép và r = - 0,470 ở 2 năm sau ghép).
Bảng 3.23: Biến đổi số lợng các tế bào lympho T ở bệnh nhân sau
ghép thận 1 năm và 2 năm
Xét nghiệm
(tb/l)
Nhóm chứng
(n=45) (1)
1 năm sau ghép
(n=35)(2)
2 năm sau ghép
(n=35)(3)
TCD4 728,9211,0 504,4321,3 756,7540,4
p p(1)-(2)<0,001; p (2)-(3)<0,001; p (1)-(3)>0,05
TCD8 546,3182,1 615,5280,2 572,2406,7
p p (1)-(2)>0,05; p (2)-(3)>0,05; p (1)-(3)>0,05
TCD4/TCD8 1,436 0,484 0,8730,503 1,4260,746
p p (1)-(2)<0,001; p(2)-(3)<0,001; p(1)-(3)>0,05
Số lợng TCD4 và TCD4/TCD8 giảm ở thời điểm 1 năm sau

4.1. Diễn biến lâm sàng, cận lâm sàng sau ghép
4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới và sự phù hợp kháng nguyên ghép
Tỉ lệ nam và nữ của 2 nhóm tơng đơng nhau, trong đó nam
chiếm khoảng hai phần ba ở cả 2 nhóm, điều này phù hợp với tỉ lệ
suy thận mạn chung trong dân số là nam nhiều hơn nữ. Tuổi trung
bình đợc ghép thận là 36,09,1 (tuổi), độ tuổi nhiều nhất là từ 21-
50 tuổi (87,1%), cho thấy tuổi bị bệnh còn khá trẻ (bảng 3.1). Tr-
ơng Văn Việt (2005) thấy tuổi trung bình của ngời nhận thận là
36,77,5 (tuổi), độ tuổi ghép thận nhiều nhất là 21-50 tuổi.
Bảng 3.2 cho thấy phần lớn nguồn thận cho là anh-chị-em ruột
(56,7%) và bố mẹ (39,4%). Phần lớn ngời cho và nhận phù hợp
HLA 1 haplotype và đều cùng nhóm máu hệ ABO. Trong thực tế,
đối với kháng nguyên hồng cầu, tiêu chuẩn chọn cặp ghép chỉ cần
đảm bảo nguyên tắc hoà hợp cho-nhận.
4.1.2. Diễn biến chức năng thận sau ghép
Bảng 3.3 cho thấy số lợng nớc tiểu/24h hồi phục tốt sau ghép

đa niệu rõ rệt trong năm đầu sau ghép (p<0,05), có thể do
liên quan đến thiếu máu, hoại tử ống thận trong quá trình lấy
thận và bảo quản thận ghép.
Giá trị trung bình áp lực thẩm thấu
nớc tiểu sau ghép thận ở các thời điểm nghiên cứu thấp hơn so với 16
bình thờng (p<0,01) (bảng 4). Điều này chứng tỏ chức năng bài tiết
nớc tiểu của thận sau ghép phục hồi nhng chức năng ống thận
phục hồi không hoàn toàn, do vậy khả năng cô đặc nớc tiểu giảm
rõ. Diễn biến này phù hợp với mô tả sự phục hồi nớc tiểu sau ghép
ở cả bệnh nhân nhận thận từ ngời sống cho thận và từ ngời chết
17
nhân có HSTTCr trên 60 ml/phút (không suy thận) chiếm 37,3%;
38,1% và 35,2% ở 1 năm, 3 năm và 5 năm sau ghép. Sau ghép 5
năm tỉ lệ bệnh nhân suy thận giai đoạn trên IIIa (HSTTCr 20
ml/phút) là 16,9%. Rodrigo E. (2003) thấy ở bệnh nhân ghép thận
do chỉ có một thận ghép hoạt động nên mức HSTTCr tính theo công
thức Cockcroft-Gault phần lớn từ 40-100 ml/phút. Trong nghiên cứu
này tỉ lệ bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinin trên 40 ml/phút sau
ghép thận 1 năm là 77,9% và 5 năm là 72,2%.
* Thay đổi huyết áp sau ghép thận
Các thuốc ức chế miễn dịch (cyclosporin, corticoid) có tác dụng
phụ gây tăng huyết áp (THA), ngoài ra trên nền bệnh nhân đã bị
THA từ trớc do bị suy thận mạn nên nhiều bệnh nhân sau ghép
thận phải dùng thuốc chống THA, tuy nhiên liều lợng và số lợng
thuốc phối hợp đã giảm nhiều so với trớc ghép.
Trong nghiên cứu này, mặc dù sau ghép thận huyết áp đã đợc
cải thiện nhng trong 5 năm đầu giá trị trung bình của huyết áp tâm
thu (HATT) ở các thời điểm sau ghép vẫn còn cao, ở mức 130
mmHg <HHTT<140 mmHg; sau 5 năm giá trị trung bình huyết áp
tâm thu và huyết áp tâm trơng so với trớc đó đã tăng lên rõ rệt
(p<0,05) (bảng 3.14). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của nhiều
tác giả khác. Colm C. Magee (2004) thấy THA gặp ở 80% số bệnh
nhân sử dụng cyclosporin để chống thải ghép. Fernando G. Cosio
(2001) còn thấy THA ở giai đoạn sớm có giá trị tiên đoán nguy cơ
thải ghép cấp khi thấy ở nhóm bệnh nhân bị thải ghép cấp có tới
81% trớc đó có THA. Vì vậy theo dõi, kiểm soát tốt huyết áp sau
ghép có ý nghĩa rất quan trọng.
* Thời gian sống thêm của thận ghép và của bệnh nhân

giữa 2 giai đoạn trong mỗi nhóm lại khác nhau (p<0,05). Điều này
thể hiện sự tiến bộ trong tuyển chọn, phẫu thuật, theo dõi và điều trị
sau ghép cho bệnh nhân từ năm 2000 đến nay.
- Trớc năm 2000 việc định lợng nồng độ cyclosporin cha
thực hiện đợc, vì vậy việc điều chỉnh liều thuốc chống thải ghép
khó khăn, ảnh hởng trực tiếp đến kết quả ghép.
Arthus J.M. (2002) nhận xét 5 nguyên nhân chính gây mất chức
năng thận: tắc mạch, thải ghép cấp, thải ghép mạn, không tuân thủ
điều trị, tử vong khi thận còn chức năng. Nhiều nghiên cứu cho thấy
ở 6 tháng đầu sau ghép, tỉ lệ mất chức năng thận cao do thải ghép
cấp, còn từ năm thứ 5 trở đi thờng do thải ghép mạn hay do tử vong
bởi các biến cố tim mạch hoặc nguyên nhân khác.
Thời gian sống thêm của bệnh nhân là tỉ lệ bệnh nhân đang
sống với thận ghép có thể còn hoặc không còn chức năng qua từng
năm. Thời gian sống thêm 1 năm sau ghép ở thập kỷ 1980s, năm
1993 và 2004 là 80%, 95% và 98%. Alan Jardine (2001) thấy bệnh
nhân tử vong với thận ghép còn chức năng là nguyên nhân thứ 2 gây
mất chức năng thận, phần lớn do các biến cố tim mạch và hay gặp
nhất trong năm đầu.
Bảng 3.11 cho thấy thời gian sống thêm của bệnh nhân 1 năm, 2
năm, 5 năm sau ghép của nhóm I thấp hơn nhóm II nhng không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05). Thời gian sống thêm của bệnh nhân ở
nhóm I thấp hơn nhóm II là do số bệnh nhân tử vong ở giai đoạn 19
từ 1992-1999 cao khi ghép thận mới triển khai với nhiều khó khăn
về kinh nghiệm, thuốc chống thải ghép, phơng tiện chẩn đoán Có
4 trong số 6 bệnh nhân tử vong ở giai đoạn này liên quan trực tiếp
đến đột quỵ não, trong đó có 2 bệnh nhân đồng thời bị nhồi máu cơ

tháng đầu, có thể do vi khuẩn, virus, nấm Bảng 3.19 cho thấy tỉ lệ 20
nhiễm trùng ở nhóm II cao hơn so với nhóm I và có loại nhiễm trùng
không gặp ở nhóm I nhng lại gặp ở nhóm II với tỉ lệ cao nh viêm
phổi nặng (9,4%). Viêm phổi ở bệnh nhân ghép thận thờng rất
nặng và tỉ lệ tử vong cao. Trong số 8 bệnh nhân bị viêm phổi nặng ở
nhóm II có 5/8 bệnh nhân bị tử vong (62,5%). Sileri P. (2002) báo
cáo tỉ lệ tử vong do viêm phổi sau ghép là 12,5%. Viêm phổi thờng
gặp trong 6 tháng đầu sau ghép và sau các đợt điều trị xung để
chống thải ghép.
4.2. Biến đổi một số chỉ số miễn dịch sau ghép
4.2.1 Sự hình thành kháng thể kháng HLA ở bệnh nhân trớc khi
ghép thận
Đề tài này nghiên cứu sự hình thành kháng thể kháng HLA của
một số bệnh nhân ghép thận ở thời điểm trớc ghép và ảnh hởng
của kháng thể hình thành trớc ghép đến một số chỉ số chức năng
thận sau ghép, góp phần tiên lợng chức năng thận ghép. Bảng 3.20
cho thấy tần suất xuất hiện kháng thể kháng HLA trớc ghép khá
cao (69,2%). Trong số các bệnh nhân nghiên cứu này cha có bệnh
nhân nào đã đợc ghép tạng trớc đó. Vì phần lớn bệnh nhân nghiên
cứu đều đã đợc truyền máu trớc ghép (76,9%) (bảng 3.21) nên
các kháng thể này có thể hình thành do bệnh nhân đã đợc truyền
máu trớc ghép hoặc ở phụ nữ đã mang thai hoặc sinh đẻ nhiều lần.
Nhiều nghiên cứu cho thấy kháng thể hình thành trớc ghép lu
thông trong máu của ngời nhận có thể gây ra thải ghép tối cấp, gây
mất chức năng thận ghép tức thì ngay khi ghép. Kháng thể này có
thể hình thành ở một ngời đã ghép tạng trớc đó và tạng ghép đã bị
đào thải. Những phụ nữ sinh đẻ nhiều lần cũng có thể hình thành các

Một số nghiên cứu thấy kháng thể kháng HLA là yếu tố nguy
cơ gây mất chức năng thận sớm. Kháng thể kháng HLA kích hoạt
thải ghép cấp dịch thể xuất hiện sớm và làm giảm chức năng thận
nhiều hơn so với thải ghép cấp tế bào. Barr M.L.(2002) thấy nếu
kháng thể kháng HLA hình thành sớm trong năm đầu thì thời gian
sống thêm 5 năm của thận ghép giảm từ 70% xuống 53%. ở nhóm
bệnh nhân có kháng thể kháng HLA dơng tính trớc ghép tỉ lệ mất
chức năng thận ghép tăng lên có ý nghĩa thống kê (p<0,05) trong 3
tháng đầu sau ghép.
4.2.2. Biến đổi số lợng TCD4, TCD8, TCD3 sau ghép thận
Sau ghép việc điều chỉnh liều thuốc chống thải ghép dựa trên
cơ sở định lợng nồng độ thuốc trong huyết thanh. Tuy nhiên có
một số thuốc chống thải ghép dùng kết hợp không định lợng đợc
nồng độ trong máu. Hơn nữa tình trạng miễn dịch của cơ thể còn
phụ thuộc một số yếu tố nh nhiễm khuẩn, đặc điểm riêng biệt của
từng cá thể. Do vậy cùng với định lợng nồng độ thuốc chống thải
ghép, việc xác định số lợng TCD4, TCD8, TCD3 và tỉ lệ
TCD4/TCD8 ở BN ghép thận có ý nghĩa trong việc đánh giá một
phần đáp ứng miễn dịch của BN ghép dới ảnh hởng của thuốc
chống thải ghép, góp phần định hớng sử dụng thuốc chống 22
thải ghép hợp lý, tránh liều quá cao dễ gây nhiễm trùng do giảm đáp
ứng miễn dịch quá mức nhng cũng tránh việc ức chế miễn dịch
cha đủ liều dẫn đến giảm chức năng thận do các đợt thải ghép cấp
hoặc ảnh hởng đến kết quả dài do thải ghép mạn.
Xác định số lợng dới nhóm lympho T bằng máy FACS-Count
là kỹ thuật đợc áp dụng rộng rãi trên thế giới vì có tính chính xác
và độ tin cậy cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status