Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Y tế Nghiên cứu kết quả của hoạt động mổ quặm
tại cộng đồng trong chơng trình phòng chống
bệnh mắt hột ở việt nam Chuyên ngành : Nhãn Khoa
M số : 3. 01. 46
Tóm tắt Luận án tiến sỹ y học
Hà nội 2009
Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại Học Y Hà Nội Ngời hớng dẫnkhoa học: Gs. TS. Nguyễn trọng nhân Phản biện 1: PGS. TS. Đỗ Nh Hơn
Phản biện 2: PGS. TS. Hoàng Ngọc Chơng
Phản biện 3: PGS. TS. ĐInh Thị Khánh
dụng cho những kết quả nhất định về khả năng điều chỉnh quặm, tỷ lệ tái phát và mức
độ hài lòng của bệnh nhân sau phẫu thuật.
ở Việt Nam hoạt động phòng chống bệnh mắt hột luôn là một trong những nội
dung chính của chơng trình phòng chống mù loà. Tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở cộng
đồng đã giảm xuống gần đến mức thanh toán bệnh mắt hột gây mù (7,05% theo kết
quả điều tra năm 1995). Bộ Y tế và ngành Mắt Việt Nam đã quyết tâm loại trừ bệnh
mắt hột gây mù vào năm 2010. Chơng trình phòng chống bệnh mắt hột đang đợc
triển khai chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và Bắc miền Trung. Phẫu thuật quặm theo
phơng pháp Cuenod-Nataf cải biên đã đợc thực hiện cho hàng triệu bệnh nhân
quặm tại cộng đồng. Tuy nhiên cho đến nay cha có một nghiên cứu nào có hệ thống
đợc tiến hành để đánh giá hiệu quả lâu dài của phơng pháp, mức độ tái phát, ảnh
hởng của phẫu thuật đối với chất lợng sống của bệnh nhân, các yếu tố liên quan tới
hoạt động mổ quặm tại cộng đồng.
Nghiên cứu này đợc thực hiện nhằm các mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả của phẫu thuật quặm tại cộng đồng
2. Phân tích các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
3. Đánh giá mức độ cải thiện chất lợng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
2
Chơng 1
Tổng quan
1.1. Bệnh mắt hột và biến chứng lông xiêu, quặm
1.1.1 Tác nhân gây bệnh mắt hột
Bệnh mắt hột là một viêm kết giác mạc mạn tính do Chlamydia trachomatis gây ra.
Khi nhiễm C. trachomatis tái phát nhiều lần tại kết mạc sẽ gây ra bệnh mắt hột trên
lâm sàng
nhổ lông xiêu đợc phát hiện trên 1/2 chiều dài bờ mi.
Tuỳ theo vị trí của lông xiêu trên bờ mi mà đợc phân loại thành các nhóm
+ Lông xiêu ở 1/3 trong phía mũi của bờ mi
+ Lông xiêu ở 1/3 giữa của bờ mi
+ Lông xiêu ở 1/3 ngoài phía thái dơng của bờ mi
Quặm xuất hiện khi có sự thay đổi hớng của hàng chân lông mi, mắt có lông xiêu
nhng không có quặm khi tất cả các chân lông xiêu đều quan sát đợc ở t thế bình
thờng của mi.
+ Quặm nhẹ khi có ít nhất 1 chân lông mi của các lông xiêu không quan sát đợc.
+ Quặm nặng khi tất cả các chân lông xiêu không quan sát đợc ở t thế bình thờng
của mi trên.
1.1.4 Tiến triển tự nhiên của lông xiêu và quặm trong bệnh mắt hột, vai trò của
lông xiêu và quặm trong cơ chế gây ra mù loà
Nghiên cứu ở Gambia trên những bệnh nhân quặm từ chối mổ trong vòng 4 năm cho
thấy ngay cả khi tỷ lệ mắt hột hoạt tính dới 1%, có 29% số mắt ban đầu không có
quặm xuất hiện quặm, 37% số mắt có quặm nhẹ tiến triển thành những mắt có quặm
nặng. Viêm kết mạc và mắt hột hoạt tính là những yếu tố phối hợp với tiến triển của
quặm và sẹo giác mạc trong nghiên cứu. Một nghiên cứu khác cũng tại Gambia còn
cho thấy tốc độ tiến triển của quặm còn nhanh hơn nữa khi mắt hột hoạt tính có tỷ lệ
cao hơn, trong vòng 1 năm theo dõi có 46% số ca quặm một mắt tiến triển thành
quặm hai mắt và 33% số mắt quặm nhẹ tiến triển thành quặm nặng.
1.2 Phẫu thuật điều trị lông xiêu và quặm
1.2.1 Nguyên tắc phẫu thuật điều trị lông xiêu và quặm do mắt hột
- Tách và cắt bớt cơ vòng mi nhằm làm yếu tác động của cơ.
- Cắt bớt da mi, ghép kết mạc nhằm phục hồi tơng quan giữa da mi và kết mạc.
4
- Rạch bờ tự do mi, ghép niêm mạc trong các trờng hợp lông xiêu và bờ mi bị xoá.
- Tác động đến sụn mi do trong mắt hột sụn mi chịu những biến đổi tơng đối đặc
hiệu là dày và biến dạng sụn mi.
1.4 Phân tích các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
1.4.1 Các yếu tố cản trở bệnh nhân mổ quặm
Tìm hiểu các yếu tố cản trở bệnh nhân đi mổ quặm là một trong những khâu cần khảo
sát để đánh giá kết quả của hoạt động mổ quặm tại cộng đồng. Thông qua các câu trả
lời của bệnh nhân về lý do họ không đi mổ, các khâu của hoạt động mổ quặm có thể
đợc cải tiến và hoàn thiện nhằm nâng cao số lợng bệnh nhân đợc phẫu thuật quặm
trong cộng đồng cũng nh đề ra các hoạt động hỗ trợ giúp cho bệnh nhân biết đến
phẫu thuật và tham gia nhiều hơn khi có đợt mổ.
1.5 Đánh giá mức độ thay đổi chất lợng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật mổ
quặm
1.5.1 Đánh giá thay đổi về chất lợng sống
Việc đánh giá mức độ cải thiện chất lợng sống ở các bệnh nhân mổ quặm sẽ cho
phép hiểu biết rõ hơn ý nghĩa của phẫu thuật mổ quặm đối với bệnh nhân trong cuộc
sống của họ, đánh giá chính xác vai trò của công tác mổ quặm.
1.5.2 Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân với phẫu thuật
Nghiên cứu các yếu tố cản trở cũng nh sự hài lòng của bệnh nhân đối với phẫu thuật
sẽ cho phép đề ra những giải pháp để tăng nhanh số lợng mổ, nâng cao chất lợng
phẫu thuật không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn về công tác tổ chức và hình thức thực
hiện dịch vụ mổ quặm tại cộng đồng ở Việt Nam.
1.6 Chơng trình phòng chống bệnh mắt hột ở Việt Nam
Là một nớc nằm trong vùng có bệnh dịch lu hành, mắt hột trong nhiều năm đã từng
là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở Việt Nam. Tỷ lệ bệnh mắt hột hoạt tính trong
nhân dân đã giảm xuống còn 7,05% theo điều tra năm 1995 của Viện Mắt. Bệnh mắt
hột hiện đứng hàng thứ 4 trong số các nguyên nhân gây mù sau các bệnh đục thể thuỷ
tinh, glôcôm và viêm màng bồ đào, bệnh bán phần sau. Tình hình phòng chống bệnh
mắt hột hiện có những đặc điểm mới bao gồm:
- Quyết tâm của Bộ Y tế và ngành Mắt Việt Nam tham gia vào chơng trình "Thị giác
2020" trong đó có mục tiêu cụ thể là loại trừ bệnh mắt hột gây mù loà ở Việt Nam vào
năm 2010.
2.2 Phơng pháp nghiên cứu
7
2.2.1 Ngời tham gia nghiên cứu
Nhân lực tham gia vào nghiên cứu bao gồm các bác sỹ mắt tuyến tỉnh và tuyến huyện,
cán bộ y tế xã và thôn, cán bộ phỏng vấn và cán bộ điều phối hoạt động nghiên cứu.
2.2.2 Phơng tiện nghiên cứu
Cho cán bộ phỏng vấn tỉnh: Phơng tiện khám và đo thị lực
Trang thiết bị cho mổ quặm tại xã
2.2.3 Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc loại mô tả tiến cứu đợc thiết kế cho các vấn đề sau:
1. Đánh giá kết quả của phẫu thuật quặm tại cộng đồng
Các bệnh nhân quặm trong 30 xã của nghiên cứu sẽ đợc mổ với phơng pháp
Cuenod-Nataf cải biên. Vào thời điểm 1 năm sau phẫu thuật các cán bộ nghiên cứu
tỉnh sẽ khám xác định các ca quặm trong số bệnh nhân nghiên cứu, mức độ quặm, các
trờng hợp mắc mới sẽ đợc phát hiện và phân tích thống kê sẽ xác định tỷ lệ tái phát
quặm trong các bệnh nhân đợc phẫu thuật, các yếu tố liên quan với tình trạng tái
phát và mắc mới.
2. Các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
Các bệnh nhân quặm sẽ đợc khám lâm sàng và phỏng vấn để nghiên cứu các vấn đề
liên quan đến hoạt động mổ quặm nh đặc điểm của bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng
của mắt bị lông xiêu và quặm, các yếu tố cản trở bệnh nhân đi phẫu thuật, mức độ
hiểu biết của bệnh nhân và kiến thức về bệnh quặm và phơng pháp điều trị. Thị lực
và chức năng thị giác của bệnh nhân quặm cũng đợc thăm khám và theo dõi. Các
yếu tố khác nh độ bao phủ của phẫu thuật quặm, phơng thức tổ chức và thời gian
mổ cũng đợc xem xét và bàn luận.
3. Đánh giá mức độ cải thiện chất lợng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
Tất cả các bệnh nhân quặm sẽ đợc đo thị lực, hỏi về các hoạt động liên quan đến
chức năng thị giác khác nhau của bệnh nhân để có thể đánh giá ảnh hởng của lông
xiêu và quặm tới thị lực và chức năng thị giác của các bệnh nhân quặm trớc mổ.
đợc sử dụng để tính toán xác định các thông tin cần thu thập của nghiên cứu.
- Phiếu mẫu nghiên cứu 1 đợc phân tích để tìm hiểu các thông tin liên quan đến bệnh
nhân và các mắt đợc mổ quặm trong nghiên cứu.
9
- Phiếu mẫu số 2 sẽ đợc xử lý để có các thông tin liên quan đến các trở ngại khiến
cho bệnh nhân quặm trong cộng đồng không đi mổ, hiểu biết của bệnh nhân về bệnh
quặm và phẫu thuật, nguồn thông tin mà bệnh nhân đã tiếp cận
- Phiếu mẫu số 3 đợc thực hiện 2 lần vào thời điểm ban đầu và vào thời điểm 6 tháng
sau phẫu thuật. Kết quả sẽ đợc phân tích để đánh giá chức năng thị giác liên quan
đến chất lợng sống của bệnh nhân trớc và sau mổ quặm.
Nếu bệnh nhân không gặp khó khăn gì trong hoạt động với các chức năng thị giác cơ
bản nh nhìn xa, nhìn gần, nhìn đêm, đi lại, hoạt động thờng ngày sẽ đợc tính +10
điểm, nếu gặp ít khó khăn đợc tính -5 điểm, nếu nhiều khó khăn đợc tính -10 điểm
và nếu không thực hiện đợc sẽ đợc tính -20 điểm. Đối với các hoạt động phức tạp
đòi hỏi chức năng thị giác nâng cao về hoạt động xã hội, giải trí, xem đồng hồ đếm
tiền, làm việc thì số điểm đợc tính tơng ứng là +20, -5, -10 và -20 điểm.
Tổng số điểm qua các câu hỏi đợc phân loại thành:
- Chức năng thị giác rất tốt khi có điểm trên 100
- Chức năng thị giác tốt khi số điểm từ 25 đến 99
- Chức năng thị giác tổn hại nhẹ khi số điểm từ -99 đến 0
- Chức năng thị giác tổn hại nặng khi số điểm nhỏ hơn -100.
Phân tích kết quả về chức năng thị giác sẽ đợc tiến hành theo tuổi, giới và khu vực
địa lý cũng nh loại tổn hại chức năng thị giác đợc nghiên cứu.
- Phiếu mẫu nghiên cứu 4 đợc phân tích để có kết quả của phẫu thuật ở thời điểm 1
năm sau mổ liên quan đến tình trạng tái phát, các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ mắc mới
quặm, thị lực và chức năng thị giác, tình trạng khó chịu và mức độ hài lòng của bệnh
nhân sau phẫu thuật.
2.3 Quy trình mổ quặm theo phơng pháp Cuenod-Nataf cải biên áp dụng trong
nghiên cứu
Có 142 bệnh nhân nam (26%) và 407 bệnh nhân nữ (74%). Tỷ lệ bệnh nhân quặm
tăng dần theo tuổi, trong đó nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ rất cao tới
71,6% trong số bệnh nhân quặm tại 30 xã. Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là khoảng 1/3.
3.1.3 Các yếu tố cản trở bệnh nhân đi mổ quặm
Trong số 549 bệnh nhân quặm đợc phát hiện tại 30 xã, 148 (27%) bệnh nhân đã
đợc mổ quặm còn lại 401 (73%) bệnh nhân cha đợc mổ quặm, 19 ngời không trả
lời, 382 ngời còn lại có các lý do bận công việc (36,6%), sợ mổ (17,3%) và đi lại
(13,1%) là những nguyên nhân chính cha đi mổ.
3.1.4 Trở ngại đối với những ngời đã đợc mổ quặm trớc đó
Trong số 148 ngời đã đợc phẫu thuật quặm trong quá khứ, 140 ngời (95%) chấp
nhận mổ lại quặm trong nghiên cứu.
3.1.5 Hiểu biết về bệnh quặm và phẫu thuật điều trị quặm
11
Các câu hỏi về kiến thức và nguồn thông tin về bệnh trong số 401 ngời bị quặm cha
đợc mổ tại 4 huyện trong nghiên cứu cho thấy 398 ngời (98%) biết rằng quặm có
thể chữa đợc bằng phẫu thuật, 352 ngời (88%) biết có những ngời khác đã đợc
mổ để chữa quặm, có 320 ngời (80%) đã đợc khuyên hoặc t vấn đi mổ quặm trong
số đó 265 ngời (66%) đã đợc cán bộ y tế tuyên truyền vận động và 55 ngời (14%)
nhận đợc lời khuyên từ những trờng hợp đã mổ quặm khác.
3.1.6 Chức năng thị giác của bệnh nhân quặm ở thời điểm ban đầu
Chỉ có 37,7% số bệnh nhân quặm có tổn hại chức năng thị giác trong đó chỉ có 4,4%
có tổn hại chức năng thị giác nặng (điểm dới -100) trong các xã đợc nghiên cứu.
Tổn hại chức năng thị giác nặng ở nam chiếm 39,7% so với ở nữ giới là 35,0%, sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
Nhóm tuổi trên 65, bệnh nhân tại Bình Lục Hà Nam có nguy cơ tổn hại chức năng thị
giác cao hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm khác.
Chức năng thị giác nhìn gần và xem ti vi là những hoạt động bị tổn hại nặng nhất xảy
ra ở 62,4% và 53,5% số bệnh nhân trong nghiên cứu.
Tại thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật 465 bệnh nhân đợc phỏng vấn để đánh giá chức
năng thị giác sau mổ.
Kết quả chung của chức năng thị giác ở thời điểm 6 tháng là rất tốt so với lần thăm
khám ban đầu. Không có trờng hợp nào có tổn hại chức năng thị giác nặng (điểm số
dới -100) và chỉ có 18,7% số ca có tổn hại chức năng thị giác ở mức độ nhẹ (điểm
số từ -25 đến -99).
Không có sự khác biệt về tổn hại chức năng thị giác theo giới ở thời điểm theo dõi 6
tháng sau mổ.
Có sự đảo ngợc về tổn hại chức năng thị giác ở thời điểm 6 tháng sau mổ so với thăm
khám ban đầu, các nhóm tuổi cao hơn có tỷ lệ tổn hại chức năng thị giác thấp hơn so
với các nhóm tuổi thấp hơn.
Tại các huyện tỷ lệ tổn hại chức năng thị giác ở thời điểm 6 tháng cũng thay đổi so
với thăm khám ban đầu. Bệnh nhân ở Bình Lục có tỷ lệ tổn hại thấp nhất so với các
huyện còn lại.
Trong số các hoạt động liên quan đến chức năng thị giác ở thời điểm 6 tháng hoạt
động nâng cao và giải trí là những loại có tổn hại nhiều hơn so với các loại khác.
3.4 Kết quả theo dõi ở thời điểm 1 năm sau phẫu thuật
13
Vào thời điểm khám lại 1 năm sau phẫu thuật chỉ có 463 bệnh nhân đợc theo dõi
chiếm 98,1%. Có 2 bệnh nhân chết và 6 bệnh nhân đi vắng. Trong số 463 bệnh nhân
đợc khám lại có 65 bệnh nhân bị quặm ở thời điểm 1 năm sau mổ trong đó có 50 ca
bị tái phát và 15 ca mắc mới. Tỷ lệ tái phát quặm theo bệnh nhân là 10,8% (khoảng
tin cậy 95%: 8,0 13,6) ở một hoặc hai mắt. Tỷ lệ mắc mới quặm trong số các mắt
cha có quặm khi thăm khám ban đầu là 5,6% (khoảng tin cậy 95%: 2,9 8,4)
(15/267 mắt). Các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc mới quặm là bệnh nhân tại các
xã của tỉnh Hà Nam (toàn bộ 15 ca), nữ giới (11 ca), tuổi trên 60 (14 ca) và có sẹo kết
mạc nặng (10 ca).
Tỷ lệ mắt hột hoạt tính giảm trong số bệnh nhân quặm sau một năm theo dõi (24,7%
so với 43,5%). Thị lực bệnh nhân có phần cải thiện sau phẫu thuật tỷ lệ mù chỉ còn
ở nhóm tuổi trên 70 có tới 68,8% số bệnh nhân có tổn hại chức năng thị giác.
Bệnh nhân thuộc huyện Tam Dơng tỉnh Vĩnh Phúc có tỷ lệ tổn hại chức năng thị
giác thấp hơn so với các huyện khác.
Tất cả các loại chức năng thị giác đều bị tổn hại trên 50% số bệnh nhân trừ chức năng
nhìn xa có mức độ tổn hại dới 50%.
3.4.2 Tình trạng hài lòng của bệnh nhân ở thời điểm 1 năm sau phẫu thuật
Trên 93% số bệnh nhân cả ở nam và nữ không cảm thấy khó chịu hoặc khó chịu nhẹ
do lông xiêu ở thời điểm 1 năm sau phẫu thuật. 97% số bệnh nhân đợc mổ trong
nghiên cứu hài lòng với phẫu thuật đã đợc thực hiện. Trong số 463 bệnh nhân đợc
hỏi liệu có khuyên ngời khác đi phẫu thuật quặm 373 ngời khuyên bệnh nhân khác
đi mổ chiếm 81,3%, 86 ngời khuyên bệnh nhân khác không nên mổ chiếm 18,7% và
có 4 ngời không trả lời câu hỏi này.
Chơng 4
Bàn luận
4.1 Đánh giá kết quả phẫu thuật quặm tại cộng đồng
4.1.1 Chơng trình phòng chống bệnh mắt hột ở Việt Nam
Kết quả điều tra mắt hột tại 23 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng và trung du
miền núi phía Bắc năm 2005 cho thấy số xã có tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở học sinh dới
10 tuổi trên 5% chỉ còn dới 200 nhng số ca quặm cần mổ tại các tỉnh lên tới trên
100.000. Với số lợng mổ đợc từ 20.000 đến 25.000 ca hàng năm nh hiện nay, sẽ là
một thách thức lớn đối với ngành Mắt và Bộ Y tế để có thể giải quyết số ca quặm còn
lại trong thời gian sắp tới.
15
Trong 30 xã của nghiên cứu này, khó khăn trong việc thanh toán quặm không chỉ đến
từ số lợng bệnh nhân tồn đọng cao mà còn thông qua tỷ lệ ca quặm tái phát trong số
bệnh nhân đợc mổ (27%) cho thấy việc duy trì hoạt động mổ quặm tiếp tục sau khi
đã thanh toán là rất cần thiết để giải quyết những trờng hợp tái phát và mắc mới tại
địa bàn. Tỷ lệ mổ chỉ đạt đợc 85,8% trong vòng 2 năm thực hiện cho thấy ngoài các
yếu tố cản trở bệnh nhân đi mổ còn có những trờng hợp chống chỉ định do bệnh toàn
với kết quả sớm sau mổ giống nhau và kết quả tính so sánh sử dụng thuật toán 2 cho
thấy khác biệt này không có ý nghĩa (P= 0,07) nên khác biệt về tái phát quặm sau mổ
giữa các huyện chủ yếu do các yếu tố đã nêu nh tuổi của bệnh nhân, tình trạng sẹo
kết mạc Khi phân tích hồi quy có điều kiện cho thấy yếu tố huyện không còn liên
quan với tái phát quặm của các bệnh nhân trong nghiên cứu.
4.1.3.2 Tuổi của bệnh nhân
Trong nghiên cứu này tỷ lệ tái phát quặm sau mổ cũng cao hơn một cách có ý nghĩa
trong số bệnh nhân ở nhóm tuổi trên 70 so với các nhóm tuổi còn lại với nguy cơ
tơng đối bằng 2,49 (1,43 4,33) P<0,001. Các bệnh nhân dới 50 tuổi không có ca
nào tái phát trong khi đó tỷ lệ tái phát ở bệnh nhân trên 70 tuổi là 16,3%.
Nhóm bệnh nhân lớn tuổi có tỷ lệ sẹo kết mạc nặng cao nhất và là yếu tố chính dẫn
đến tái phát quặm ở những bệnh nhân này. Sẹo kết mạc nặng làm biến dạng sụn mi,
rút ngắn cùng đồ kết mạc nên phẫu thuật khó điều chỉnh và sự co kéo của sẹo sau mổ
làm cho quặm dễ tái phát hơn. Một điểm đáng chú ý là trong số những mắt mắc mới
quặm 0% (0/82 mắt) xuất hiện ở mắt có sẹo kết mạc nhẹ, 3,4% (5/149 mắt) xuất hiện
ở mắt có sẹo kết mạc trung bình và 28,6% (10/35 mắt) xuất hiện ở mắt có sẹo kết mạc
nặng. Tuy nhiên sẹo kết mạc không phải là yếu tố duy nhất gây tái phát quặm ở ngời
lớn tuổi do tuổi cao vẫn là yếu tố nguy cơ gây tái phát quặm ngay cả sau khi đã kiểm
soát loại trừ ảnh hởng do sẹo kết mạc khi phân tích. Lý do giải thích có thể do ở mắt
ngời già tổ chức liên kết lỏng lẻo hơn, quá trình làm sẹo kéo dài hơn ảnh hởng tới
khả năng điều chỉnh và duy trì tác dụng của phẫu thuật.
4.1.3.3 Tiền sử phẫu thuật
Trong nghiên cứu này tiền sử phẫu thuật quặm liên quan có ý nghĩa với tái phát quặm
sau mổ với nguy cơ tơng đối theo bệnh nhân là 2,49 (1,48 4,16) P <0,001 và theo
mắt là 2,32 (1,42 3,80) P <0,001.
17
Các yếu tố khác khi đánh giá theo bệnh nhân nh giới, phẫu thuật viên không liên
quan đến tái phát quặm sau phẫu thuật. Kết quả mổ không có sự khác biệt theo giới
18
mắt này đã có chỉnh non ngay sau mổ và động tác này không phải là nguyên nhân của
tái phát quặm. Hiệu quả thực sự của can thiệp này cần đợc nghiên cứu thêm trong
những nghiên cứu tiếp theo.
Không nh kết quả nghiên cứu ở Ethiopia thấy có mối liên quan giữa vị trí của lông
xiêu và tái phát quặm, tái phát quặm sau mổ trong nghiên cứu này không liên quan
đến vị trí lông xiêu ở 1/3 ngoài, 1/3 giữa hoặc trong của mi. Có thể kỹ thuật mổ
Cuenod Nataf cải biên cho kết quả điều chỉnh đồng đều trên toàn bộ chiều dài của
mi hoặc do cấu trúc giải phẫu mi khác nhau giữa ngời Châu á và Châu Phi.
4.2 Các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
4.2.1 Đặc điểm bệnh nhân quặm
Tỷ lệ lớn của ngời cao tuổi sẽ ảnh hởng tới kết quả phẫu thuật do tỷ lệ tái phát
quặm sau mổ tăng lên theo tuổi, ngoài ra thị lực, chức năng thị giác của bệnh nhân
quặm không chỉ bị ảnh hởng bởi lông xiêu và quặm mà còn do các bệnh khác gặp ở
ngời già nh đục thể thuỷ tinh, glôcôm, thoái hoá hoàng điểm tuổi già Các bệnh
toàn thân nh cao huyết áp, tiểu đờng cũng gặp nhiều hơn dẫn đến nhiều trờng hợp
chống chỉ định khi mổ quặm tại cộng đồng.
Trong số 549 ca quặm có 26% là bệnh nhân nam và 74% là bệnh nhân nữ. Tỷ lệ 1/3
này cho thấy nữ giới bị mắt hột nhiều hơn và nặng hơn so với nam giới. Điều này
đợc giải thích bởi ngời phụ nữ là ngời phải chăm sóc trẻ em trong quá khứ nên dễ
bị mắc và lây bệnh hơn. Mặt khác điều kiện vệ sinh cá nhân và chăm sóc bản thân của
ngời phụ nữ không đợc tốt bằng nam giới. Đặc biệt số bệnh nhân nữ giới ở lứa tuổi
trên 65 lên tới 251 ngời còn có thể liên quan đến tuổi thọ của nữ giới thờng cao hơn
dẫn đến nhiều ca quặm ở nữ giới hơn ở lứa tuổi này. Tỷ lệ này cũng gặp trong số
những bệnh nhân đợc mổ quặm tại 30 xã cho thấy không có yếu tố cản trở đi mổ khi
bệnh nhân là nữ giới nh các nớc đang phát triển khác. Điều này có thể đợc giải
thích bởi tỷ lệ đi học và tham gia công việc xã hội cao cũng nh vai trò của Hội phụ
nữ trong việc tuyên truyền vận động bệnh nhân đi mổ.
Đa số các trờng hợp quặm đều gặp ở giai đoạn muộn khi bệnh đã nặng. Có nhiều
1/3 giữa của mi. Tác dụng của phẫu thuật thờng kém hơn ở hai góc mi do ít gọt đợc
sụn hơn và mũi chỉ kéo sụn cũng ít hiệu quả hơn.
Trong số các mắt đợc thăm khám chỉ có 21 mắt (2,2%) có khuyết mi thờng do phẫu
thuật đợc thực hiện trớc đây gây ra. Tỷ lệ này cho thấy mức độ biến chứng của
phẫu thuật đã đợc thực hiện trong quá khứ không cao do tác dụng điều chỉnh quặm
20
đợc phân bố đều trên toàn bộ chiều dài mi là một đặc điểm tốt của phơng pháp
Cuenod Nataf cải biên.
4.2.3 Thị lực và chức năng thị giác của bệnh nhân quặm
Trên nhóm bệnh nhân quặm trong nghiên cứu với độ tuổi nh vậy có nhiều bệnh có
thể ảnh hởng đến thị lực của bệnh nhân, nếu so với tỷ lệ mù chung của ngời trên 50
tuổi trong cả nớc là 4,76% theo điều tra năm 2002 và đặc điểm có tới 60% số ca
quặm ở độ tuổi trên 65 thì có thể nói rằng bệnh quặm gây ra mù loà tơng đối ít trong
những bệnh nhân Việt Nam. Tỷ lệ mù này cũng tơng ứng với số bệnh nhân có sẹo
giác mạc (83 ca chiếm 17,6%). Sau khi đã đợc điều chỉnh theo tuổi và giới tính theo
dân số chung tỷ lệ mù trong số bệnh nhân quặm chỉ còn 1,27%.
Nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi có thị lực bị ảnh hởng bởi nhiều bệnh mắt khác nhau
nh đục thể thuỷ tinh, sẹo giác mạc do mắt hột, các bệnh của đáy mắt nên rõ ràng
có chức năng thị giác bị ảnh hởng nhiều hơn. Trong số 117 bệnh nhân đợc mổ tại
Hà Nam có tới 88 ca (75,2%) trong độ tuổi trên 65 trong khi đó tỷ lệ này ở Vĩnh Phúc
và Thanh Hoá lần lợt là 45,7% (48/105 ca) và 48,2% (120/249 ca). Tỷ lệ ngời già
cao trong số bệnh nhân quặm ở Hà Nam cho thấy bệnh mắt hột tiến triển trong thời
gian lâu hơn so với Vĩnh Phúc và Thanh Hoá đồng thời giải thích cho sự khác biệt về
chức năng thị giác của các bệnh nhân quặm ở tỉnh này.
Các chức năng thị giác đợc khảo sát ở thời điểm ban đầu cho thấy chức năng thị giác
liên quan đến hoạt động nhìn gần và giải trí bị tổn hại nhiều nhất gặp trong 62,4% và
53,3% các trờng hợp trong nhóm bệnh nhân đợc khảo sát. Chức năng thị giác liên
quan đến các hoạt động còn lại nh nhìn xa, nhìn đêm, đi lại, hoạt động thờng ngày,
hoạt động xã hội và nâng cao ít bị tổn hại hơn đều chiếm dới 50% số bệnh nhân
hoạch sản phẩm nông nghiệp, tránh mùa ma hoặc quá nóng, cần tuyên truyền thêm
cho bệnh nhân hiểu biết về bệnh quặm, nguy cơ gây mù và sự cần thiết của phẫu
thuật Khác với kết quả của các nghiên cứu khác các yếu tố nh trình độ học vấn,
giới tính, chi phí cho phẫu thuật không phải là những yếu tố chính cản trở bệnh nhân
đi phẫu thuật. Các bệnh nhân cha mổ trong nghiên cứu đều có kiến thức và hiểu biết
tốt về quặm do mắt hột và phẫu thuật điều trị quặm. Kết quả của các đợt tuyên truyền
và vận động trớc đó cho thấy 98% số ngời cha mổ biết rằng quặm có thể chữa
đợc bằng phẫu thuật, 88% biết có những ngời khác đã đợc mổ để chữa quặm, 80%
đã đợc khuyên hoặc t vấn đi mổ quặm trong số đó 66% đã đợc cán bộ y tế tuyên
truyền vận động và 14% nhận đợc lời khuyên từ những trờng hợp đã mổ quặm
khác. Số liệu trên cho thấy hiệu quả tốt của các hoạt động tuyên truyền cho bệnh nhân
22
quặm đợc thực hiện trong chơng trình phòng chống bệnh mắt hột ở Việt Nam.
Phơng thức tổ chức mổ quặm tại trạm y tế xã, rút ngắn thời gian nằm lại trạm y tế
sau mổ, phẫu thuật miễn phí cho phần lớn các ca quặm trong chơng trình là những
biện pháp có hiệu quả nhằm khắc phục những trở ngại khiến cho bệnh nhân không đi
mổ tại cộng đồng.
4.3 Đánh giá mức độ cải thiện chất lợng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
4.3.1 Tiến triển của thị lực và chức năng thị giác sau mổ quặm
Các bệnh nhân sau khi đợc mổ quặm có sự thay đổi nhẹ về thị lực theo hớng tốt lên
tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Tiến triển của chức năng thị giác qua các thời điểm theo dõi 6 tháng và 1 năm cho
thấy các kết quả khác nhau so với thời điểm ban đầu. Kết quả chức năng thị giác
chung cho thấy có sự cải thiện rõ rệt ở thời điểm 6 tháng sau mổ nhng sau đó lại
kém hơn ở thời điểm 1 năm sau phẫu thuật so với thời điểm ban đầu.
Kết quả này cho thấy chức năng thị giác của bệnh nhân đợc mổ quặm có sự thay đổi
nhng không bền vững. Cũng cần chú ý rằng chức năng thị giác không chỉ phụ thuộc
vào biến chứng quặm của mắt hột trong những bệnh nhân này, có nhiều bệnh mắt
khác đặc biệt trong nhóm bệnh nhân lớn tuổi có thể ảnh hởng đến chức năng thị
- Các yếu tố hàng đầu cản trở bệnh nhân đi mổ quặm bao gồm:
+ Bận việc không đi mổ đợc chiếm 36,6%
+ Sợ phẫu thuật chiếm 17,3%
+ Không tiếp cận đợc với dịch vụ 13,1%
3. Đánh giá mức độ cải thiện chất lợng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
- ở thời điểm 6 tháng sau mổ: Chức năng thị giác không tổn hại chiếm 81,3%, có tổn
hại chiếm 18,7%.
- ở thời điểm 1 năm sau phẫu thuật: Chức năng thị giác không tổn hại chiếm 45,4%,
có tổn hại chiếm 54,6%.
- 93% bệnh nhân không có khó chịu sau phẫu thuật.
- 97% số bệnh nhân đợc mổ hài lòng với phẫu thuật
- 81,3% bệnh nhân đợc phẫu thuật khuyên ngời khác đi mổ giống mình.