I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG VN LAI QUN Lí NH NC V S THAM GIA
CA CNG NG TRONG LNH VC PHềNG
CHNG
BUễN BN NGI VIT NAM
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế Hµ néi - 2007
Mục Lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục mở đầu
1
Ch-ơng 1
: Những vấn đề lý luận cơ bản về buôn bán
ng-ời, quản lý nhà n-ớc và sự tham gia của
cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời
26
1.2.3.
Nội dung quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời
27
1.2.4.
Các hình thức quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời
27
1.2.5.
Ph-ơng pháp quản lý nhà n-ớc về phòng chống buôn bán ng-ời
28
1.2.6.
Hệ thống các cơ quan nhà n-ớc phòng chống buôn bán ng-ời
29
1.3.
Sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời
31
1.3.1.
Cơ sở lý luận về sự tham gia của cộng đồng trong phòng
chống buôn bán ng-ời
31
1.3.2.
Vai trò của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời
33
1.3.3.
Nội dung hoạt động của cộng đồng trong phòng chống buôn
bán ng-ời
35
Ch-ơng 2
: thực trạng buôn bán ng-ời, quản lý nhà n-ớc
Thực trạng hệ thống các cơ quan nhà n-ớc phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
74
2.2.4.
Thực trạng nguồn nhân lực và tài chính trong phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
76
2.2.5.
Hợp tác quốc tế tr-ớc đây và hiện nay về phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
78
2.3.
Thực trạng tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn
bán ng-ời ở Việt Nam
87
2.3.1.
Hoạt động của Hội phụ nữ Việt Nam
88
2.3.2.
Hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
90
2.3.3.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
93
2.3.4.
Hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam
94
2.3.5.
Hoạt động của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
96
Việt Nam
105
3.2.1.
Ph-ơng h-ớng hoàn thiện hoạt động quản lý nhà n-ớc trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
105
3.2.2.
Các giải pháp cơ bản đối với hoạt động quản lý nhà n-ớc
trong phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
106
3.3.
Ph-ơng h-ớng hoàn thiện và các giải pháp cơ bản đối với các
hoạt động của cộng đồng trong phòng chống buôn bán ng-ời ở
Việt Nam
119
3.3.1.
Ph-ơng h-ớng hoàn thiện hoạt động của cộng đồng trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
119
3.3.2.
Các giải pháp cơ bản đối với hoạt động của cộng đồng trong
phòng chống buôn bán ng-ời ở Việt Nam
119
Kết luận
127
Danh mục tài liệu tham khảo
130
2
Khảo sát gần đây cho thấy, hiện nay ở Campuchia có khoảng 18.000 người
làm việc trong lĩnh vực tình dục, trong đó có 66% là người Khơ-me, 33% là
người Việt Nam và 1% là người nước khác gần 5.000 phụ nữ và trẻ em
Việt Nam đang bị khai thác và bóc lột tình dục tại Campuchia. Một số phụ
nữ và trẻ em Việt Nam được đưa qua biên giới Việt Nam vào Campuchia rồi
vượt biên vào Thái Lan, sau đó được tiếp tục bán cho các nhà chứa ở
Malaysia [11].
Trước tình hình nói trên, Chính phủ đã phê chuẩn "Chương trình
hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004
đến năm 2010" và thành lập Ban chỉ đạo của Chính phủ để triển khai Chương
trình trên phạm vi toàn quốc.
Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ
em đã được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tích cực, đã làm được nhiều
việc theo chương trình đề ra, bước đầu đạt được một số kết quả tốt, góp phần
hạn chế tình hình phức tạp của hoạt động tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em,
tạo chỗ dựa cho quần chúng chủ động phòng ngừa và tích cực tham gia đấu
tranh chống tội phạm… Các hạn chế là: 1) Công tác phòng chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em mang tính xã hội sâu sắc, song sự quan tâm chỉ đạo
của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cơ sở và vai trò hoạt động của
các ngành chức năng làm chưa hết trách nhiệm, chưa tạo ra được phong trào
rộng khắp và chưa thu hút được các tầng lớp nhân dân tham gia, nâng cao
cảnh giác, tích cực chủ động phòng ngừa, tham gia đấu tranh chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em nên hiệu quả còn chưa cao. 2) Tình hình hoạt động
của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em vẫn còn diễn biến phức tạp, có xu
hướng tăng và quốc tế hóa, trong nước còn tiềm ẩn nhiều đường dây, băng ổ
nhóm hoạt động ngầm mà ta chưa có điều kiện khám phá, bóc gỡ. Trong khi
đó, lực lượng chuyên trách để đấu tranh chống loại tội phạm này vừa thiếu,
130/CP còn chậm (đến ngày 30/11/2005, Thủ tướng Chính phủ mới phê
duyệt) đã gây ảnh hưởng đến việc triển khai ở địa phương [3].
Xuất phát từ tình hình trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Quản lý nhà
nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực phòng chống buôn bán 4
người ở Việt Nam" với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận
và thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị về phương hướng cũng như
các giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoạt động
của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Buôn bán người, trên nhiều phương diện khác nhau ở cấp độ quốc tế và
quốc gia đã có nhiều công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả và cá nhân có
giá trị đã đóng góp đáng kể cho kho tàng lý luận về phòng chống buôn bán người.
Đề tài "Quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh
vực phòng chống buôn bán người ở Việt Nam", chỉ đề cập tới vấn đề quản
lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng ở cấp độ quốc gia hay cụ thể hơn
là ở Việt Nam, nên chúng tôi xin phép không trình bày các kết quả nghiên cứu
ở cấp độ quốc tế và ở các quốc gia khác, mà chỉ tóm lược tình hình nghiên
cứu đã được thực hiện ở Việt Nam.
Từ những năm 90 của thập kỷ, tình hình buôn bán người ở Việt Nam
có xu hướng gia tăng. Trong bối cảnh đó, cả về lý luận và thực tiễn đã đặt ra
nhiều vấn đề mới mẻ cần phải được giải quyết. Về lý luận đã có một số công
trình nghiên cứu mang tính khoa học do các cơ quan, tổ chức trong nước, Tổ
chức quốc tế hoặc các cá nhân thực hiện. Các công trình nghiên cứu đó có thể
được tóm lược và phân loại thành các nhóm dưới đây:
Các báo cáo kết quả khảo sát đánh giá tình hình buôn bán người của
các cơ quan, tổ chức trong nước và các Tổ chức quốc tế.
Về thể loại này, có rất nhiều báo cáo được thực hiện, đề cập tới các
người Việt Nam hoặc người nước ngoài.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam bao gồm: Nguyễn
Xuân Yêm: Tội phạm quốc tế những bàn tay bạch tuộc (Sách chuyên khảo),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Hoàng Văn Uẩn: Hoạt động xuất cảnh,
nhập cảnh trái phép qua biên giới Việt - Lào và công tác đấu tranh của Bộ
đội biên phòng, Hà Nội, 1998, Đề tài nghiên cứu khoa học; Nguyễn Quang 6
Dũng: Tổ chức tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu các vụ án mua bán
phụ nữ qua biên giới Việt - Trung, Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học, 1996;
Phạm Đăng Quyền: Điều tra tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên
giới của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1999, Đề tài nghiên cứu khoa
học; Trần Văn Thảo: Tội phạm có tổ chức và phòng ngừa tội phạm có tổ
chức, Hà Nội, 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học; Phạm Hỗ: Tội phạm xuyên
quốc gia liên quan đến Việt Nam, Hà Nội, 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học;
Đặng Xuân Khang: Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới Việt Nam
- Thực trạng và các giải pháp phòng ngừa, Hà Nội, 2005, Luận văn thạc sĩ
luật học
Các đề tài nghiên cứu nói trên đề cập tới hoạt động phòng ngừa và
điều tra tội phạm buôn bán người, chưa có đề tài nào đề cập tới hoạt động
quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán
người ở Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thứ nhất: Nghiên cứu khái quát, mang tính hệ thống các vấn đề liên
quan tới quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống
buôn bán người góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò và hoạt động quản lý của
Nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực này ở Việt Nam.
Thứ hai: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và sự tham gia của
cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam trong những năm
ngừa và đấu tranh; xây dựng chính sách tài chính quốc gia cho hoạt động
phòng chống buôn bán người v.v.
Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận cơ bản về phòng chống buôn bán người, thực trạng quản lý nhà nước và
sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam,
phương hướng và các giải pháp hoàn thiện. 8
6. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng để nghiên cứu và thực hiện đề tài là
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng để
nghiên cứu bao gồm: Thống kê, hệ thống hóa, phân tích, đối chiếu, so sánh và
tổng hợp.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về buôn bán người, quản lý
nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người
Chương 2: Thực trạng buôn bán người, quản lý nhà nước và sự
tham gia của cộng đồng trong phòng chống buôn bán người ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt
động quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong phòng chống
buôn bán người ở Việt Nam 9
Chương 1
a) "buôn bán người" là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển
giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe
dọa, sử dụng vũ lực hoặc các hình thức cưỡng bức khác, bắt cóc,
lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương
của người khác hay bằng cách đưa hoặc nhận tiền hay các lợi ích
khác để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát đối với
người khác. Hành vi bóc lột ở đây bao gồm ít nhất là bóc lột mại
dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụ
cưỡng bức, nô lệ hay tương tự nô lệ, khổ sai hay lấy đi các cơ quan
nội tạng;
b) Sự ưng thuận của nạn nhân trong hoạt động buôn bán
người đối với việc bóc lột đã được dự định được nêu ở mục (a) của
điều khoản này sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một thủ đoạn nào
được nêu trong khoản (a) đã được sử dụng;
c) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay
tiếp nhận trẻ em nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là "buôn bán người"
ngay cả khi hành vi này được thực hiện mà không sử dụng tới bất
kỳ một thủ đoạn nào được nêu trong mục (a) của điều khoản này;
d) "Trẻ em" có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [18].
Định nghĩa nói trên là định nghĩa đầy đủ, toàn diện và khoa học nhất
từ trước tới nay bởi vì nó phản ánh được bản chất của hoạt động buôn bán
người. Xét về mặt nạn nhân, đối tượng bị buôn bán không chỉ là phụ nữ và trẻ
em gái bị buôn bán mà trên thực tế nam giới bao gồm cả trẻ em trai cũng bị
buôn bán. Về mặt hành vi buôn bán người được đề cập tương đối khái quát
nhưng lại rất cụ thể, dễ nhận biết trong quá trình xử lý các vụ án buôn bán
người. Phương thức thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm được khái quát hóa
rất cao, phản ánh đầy đủ các khía cạnh trong hoạt động của loại tội phạm này.
Điểm nổi bật trong định nghĩa này là làm rõ được mục đích của hoạt
động buôn bán người đó là để bóc lột nạn nhân, nó khác với hành vi đưa
Trái lại, buôn bán người có thể diễn ra ở tuyến trong nước hay nội địa
và tuyến quốc tế. Do đó tính chất xuyên quốc gia không phải là dấu hiệu bắt
buộc đối với hành vi này.
Các hình thức bóc lột của hành vi buôn bán người có thể được nhóm
lại thành các nhóm cơ bản bao gồm: bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động và
lấy đi các cơ quan nội tạng của cơ thể người.
Bóc lột sức lao động được đề cập khá đầy đủ như lao động cưỡng bức,
khổ sai, nô lệ và các hình thức tương tự như nô lệ. Các hình thức này đã được
pháp luật quốc tế quy định.
Tuy nhiên, khái niệm "bóc lột mại dâm" và "bóc lột tình dục" vẫn còn
bị bỏ ngỏ chưa được định nghĩa trong Nghị định thư bởi vì hiện nay vẫn còn
các quan niệm khác về mại dâm đặc biệt là quan điểm của các quốc gia về
vấn đề này. Do đó, các khái niệm này không được đưa vào Nghị định thư để
đảm bảo sự đồng thuận và tạo ra khả năng để nhiều quốc gia có thể tham gia
Nghị định thư. Theo đó, các nước có quyền đưa ra định nghĩa phù hợp theo
quan điểm của mình về "bóc lột tình dục" và "bóc lột mại dâm".
Trong định nghĩa này, bảo vệ quyền trẻ em được đề cao. Khoản (c)
quy định sự đồng ý của trẻ em dưới 18 tuổi là vô hiệu, và bất kỳ sự tuyển mộ,
vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận trẻ em để bóc lột đều cấu
thành tội buôn bán người, cho dù không sử dụng vũ lực, cưỡng ép, man trá,
lừa gạt v.v
Khái niệm "buôn bán người" chưa được đề cập trong các văn bản pháp
lý của Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản là trong
những năm trước đây, buôn bán trẻ em thường là trẻ em gái và buôn bán nam
giới gần như không diễn ra. Tuy nhiên, thực tế trong những năm gần đây, trẻ
em trai đã bị buôn bán và hiện tượng nam giới bị buôn bán cũng đã xuất hiện.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng nói trên như nhu cầu cho
nhận con nuôi ngày càng cao, tư tưởng muốn có con trai vẫn tồn tại ở nhiều
đầy đủ bao gồm các yếu tố về: hành vi; ph-ơng thức thủ đoạn để đạt đ-ợc
hành vi; và mục đích của hành vi. Cần phải nói thêm rằng, định nghĩa về buôn
bán ng-ời phải phản ánh đ-ợc các nhân tố nh- đối t-ợng bị buôn bán bao gồm 14
cả phụ nữ, trẻ em và nam giới. Đối t-ợng trẻ em cần đ-ợc đặc biệt -u tiên bảo
vệ, điều đó hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam và các văn kiện
pháp lý quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Vấn đề độ tuổi của trẻ
em cũng phải đ-ợc xem xét và quy định hợp lý nếu không, các đối t-ợng bị
buôn bán nằm trong khoảng từ 16 đến 18 tuổi không đ-ợc -u tiên bảo vệ (vị
thành niên). Khái niệm bóc lột trong buôn bán ng-ời cũng cần đ-ợc định
nghĩa rõ ràng. Điểm quan trọng nữa là buôn bán ng-ời và đ-a ng-ời di c- trái
phép là hai hành vi khác nhau nh-ng có nhiều điểm t-ơng đồng cần phải đ-ợc
phân biệt rõ ràng. Điều này có ý nghĩa rất lớn trên cả ph-ơng diện lý luận và
thực tiễn áp dụng pháp luật ở n-ớc ta.
1.1.2. Chu trình của hoạt động buôn bán ng-ời
Hoạt động buôn bán ng-ời diễn ra ở hai tuyến:
- Tuyến trong n-ớc.
- Tuyến quốc tế.
Tuyến trong n-ớc, th-ờng nạn nhân bị buôn bán từ các vùng nông thôn
nghèo tới các khu vực đô thị đặc biệt là các thành phố lớn hoặc các tỉnh, thành
phố, ở đó tập trung nhiều các hoạt động dịch vụ nh- du lịch, nghỉ mát, vui
chơi giải trí. Mục đích chính của buôn bán ng-ời tới các khu vực này là để
khai thác mại dâm hoặc các dịch vụ lạm dụng tình dục khác.
Các tuyến buôn bán ng-ời
tiếp giáp, hoạt động này diễn ra trực tiếp giữa nước xuất phát và nước tiếp
nhận.
Các nước và các hành vi liên quan trong chu trình của hoạt động BBN Chu trình buôn bán người bao gồm bốn giai đoạn: Tuyển chọn; vận
chuyển, đưa người xuất - nhập cảnh trái phép (nếu buôn bán ra nước ngoài);
chuyển giao người; bóc lột; và chuyển hóa nguồn tiền, tài sản bất hợp pháp có
được từ hoạt động phạm tội.
Giai đoạn tuyển chọn
Đó là giai đoạn bọn tội phạm tìm cách tiếp xúc bằng các phương thức
thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt nạn nhân. Giai đoạn này được bắt đầu từ
khi hoạt động tiếp xúc với nạn nhân được thực hiện và kết thúc khi nạn nhân
được đưa về địa điểm tập kết để chuẩn bị đem bán.
Giai đoạn vận chuyển và chuyển giao
Đó là giai đoạn bọn tội phạm sử dụng các phương tiện giao thông
khác nhau để đưa nạn nhân từ địa điểm tập kết tới địa điểm bán. Quá trình này
Tuyến buôn bán ngƣời
(xuyên quốc gia)
Nƣớc xuất phát
Các hành vi diễn ra
ở giai đoạn tiếp theo.
Bốn giai đoạn nói trên nằm trong một chu trình khép kín của hoạt
động buôn bán người. Nghiên cứu và làm sáng tỏ các giai đoạn nói trên có ý
nghĩa rất lớn đối với việc hoạch định chính sách cũng như hoạt động phòng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm buôn bán người.
Các giai đoạn của hoạt động buôn bán người
GIAI ĐOẠN VẬN CHUYỂN
Các phương tiện được sử
dụng:
- Đường bộ: Ô tô (xe con, xe
côngtennơ), Tàu hoả, đi
bộ
- Đường hàng không: Máy bay
- Đường thuỷ: Tàu, thuyền,
phà, ca nô…
GIAI ĐOẠN TUYỂN MỘ
1.1.3. Mục đích của buôn bán ngƣời
Buôn bán người có mục đích để bóc lột nạn nhân. Các hình thức bóc
lột chủ yếu là: Bóc lột tình dục; bóc lột sức lao động; và lấy đi một cách bất
hợp pháp các cơ quan nội tạng của cơ thể người.
Phụ nữ bị buôn bán chủ yếu để bóc lột tình dục. Ở trong nước, phụ nữ
thường phải làm việc ở các nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, các trung tâm
massage, các cơ sở vật lý trị liệu trá hình. Để tránh bị phát hiện bọn buôn bán
người còn bóc lột tình dục phụ nữ bằng con đường gái gọi. Họ được tập hợp
lại ở các khu tập kết, thông qua mạng lưới "marketing" phụ nữ được đưa tới
các điểm hẹn để bán dâm. Phụ nữ bị đưa ra nước ngoài cũng bị chủ chứa bóc
lột theo kiểu tương tự. Lúc đầu ra nước ngoài, họ thường làm việc ở các trung
tâm dịch vụ như ăn uống, giải trí sau đó bị đưa vào làm việc trong "ngành
công nghiệp tình dục". Nhiều phụ nữ Việt Nam bị buôn bán sang Đài Loan,
Trung Quốc còn phải làm nô lệ tình dục cho nhiều thế hệ trong một gia đình
sau đó họ bị bán cho các nhà thổ.
Mang thai ngoài ý muốn cũng khá phổ biến đối với phụ nữ và trẻ em
bị buôn bán ra nước ngoài. Hiện tượng này chủ yếu diễn ra ở Trung Quốc.
Phụ nữ bị buôn bán ra nước ngoài còn với mục đích để bóc lột sức lao
động. Họ phải làm các công việc như lao động khổ sai trong các trang trại,
nhà máy, các ngành dịch vụ cần lao động giản đơn và làm việc tại các gia đình.
Trẻ em bị buôn bán cũng chủ yếu để bóc lột tình dục, tương đương với
tỷ lệ phụ nữ bị bóc lột dưới hình thức này. Trẻ em còn là nạn nhân bị bóc lột
sức lao động. Chúng phải làm việc như nô lệ trong các gia đình giàu có, tại
các công trường xây dựng, trong các nhà máy, xí nghiệp nhỏ hoặc trong các 18
xí nghiệp may mặc, nhà máy sản xuất bình ngưng, nhà máy sản xuất thép, nhà
hoạt động kiểm soát tại biên giới, sự không đầy đủ của hệ thống pháp luật,
các cam kết cũng như mong muốn chính trị để thực thi pháp luật hoặc hạn chế
về thẩm quyền là các nhân tố tạo điều kiện cho hoạt động buôn bán người.
Ở Việt Nam, hoạt động buôn bán người diễn ra do những nguyên nhân
cơ bản dưới đây:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân về kinh tế
Nghèo đói, thất nghiệp vừa là nguyên nhân cơ bản dẫn tới nạn buôn
bán người vừa là môi trường thuận lợi để bọn tội phạm lợi dụng hoạt động.
Về phía nạn nhân, nghèo đói, thất nghiệp đã thúc đẩy họ phải bươn chải kiếm
sống bất chấp rủi ro, trong khi đó bọn tội phạm lại tìm mọi cách để kiếm được
thật nhiều tiền từ hoạt động phạm tội. Hoàn cảnh và môi trường đó đã làm
cho nạn buôn bán người ngày càng gia tăng.
Trong xã hội hiện đại, các lĩnh vực dịch vụ và giải trí ngày càng phát
triển. Có rất nhiều lĩnh vực dịch vụ đã và đang bị lạm dụng để "kinh doanh
tình dục" kiếm lời bất chính khá phổ biến như nhà hàng, khách sạn, vũ
trường, Karaoke, massage, vật lý trị liệu, du lịch v.v…, thêm nữa nhiều quốc
gia lại cho phép kinh doanh tình dục công khai đã làm tăng cầu đối với phụ
nữ và trẻ em làm việc trong lĩnh vực này. Đây cũng là một trong những nhân
tố chính làm gia tăng nạn buôn bán người.
Nhu cầu ghép tạng, sử dụng lao động rẻ mạt và lao động trẻ em ngày
càng tăng cũng là những nhân tố tác động trực tiếp tới quá trình buôn bán
người. Bọn tội phạm có thể kiếm lời bất chính từ hoạt động này mà không cần
đầu tư lớn. Xu hướng này ngày nay diễn ra khá phổ biến trên thế giới mà nạn
nhân thường là ở các nước nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bị buôn bán
tới các nước giàu có.
Nguyên nhân về văn hóa 20