giảng dạy thơ chữ hán – dịch việt trong môn ngữ văn THCS - Pdf 13

A. PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Đổi mới dạy học nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của một đất nước
trong giai đoạn phát triển mới, đồng thời nhằm cải thiện tình trạng trì trệ của
việc dạy học hiện nay đang là yêu cầu và cũng là niềm mong mỏi của đội ngũ
giáo viên. Chương trình THCS mới với những thay đổi quan trọng chính là
một khâu then chốt của quá trình này.
Căn cứ định hướng chung, chương trình ngữ văn THCS quán triệt các
yêu cầu: tích hợp, tích cực, giảm tải. Sự thay đổi một cách toàn diện cả về
cầu trúc, nội dung chương trình đã tạo cho dạy học Ngữ văn THCS nhiều dấu
hiệu tích cực.
Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, việc giảng dạy môn Ngữ văn hiện nay và
đặc biệt là việc dạy thơ chữ Hán – dịch Việt trong nhà trường THCS không
chỉ nhằm mục đích trang bị những kiến thức cơ bản của bộ môn cho học sinh,
mà còn phải nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ, kỹ năng nói - viết trong giao
tiếp. Để hình thành nên những con người XHCN có trình độ văn hoá, bản
lĩnh, có năng lực và tư duy sáng tạo.
Vì vậy việc giảng dạy môn Ngữ văn hướng tới mục đích chung là đào
tạo những con người phù hợp với những đổi thay của xã hội. Để đạt được
hiệu quả đó, người giáo viên phải xây dựng cho mình một kế hoạch cụ thể.
Đó là việc thực hiện thiết kế giáo án trong mỗi giờ dạy phải phù hợp với đặc
trưng bộ môn, phải nổi bật kiến thức trọng tâm của bài, thực hiện dạy học
theo đúng phương pháp đổi mới, tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tích
cực tham gia hoạt động.
Sau một thời gian thực hiện giảng dạy môn Ngữ văn THCS tôi đã tự rút
ra một số kinh nghiệm cho bản thân và lựa chọn vấn đề giảng dạy thơ chữ
Hán – dịch Việt trong môn Ngữ văn THCS để nghiên cứu.
II. Mục đích
Để thực hiện được đúng phương pháp đổi mới trong một tiết dạy thơ
chữ Hán – dịch Việt. Người giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản của bài học đó mà còn phải hệ thống, so sánh các tri

- Phân tích sản phẩm.
VI. Thời gian nghiên cứu.
2
Từ đầu năm học 2008 – 2009 đến tháng 2 năm 2009.
B. PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đa số các bài thơ chữ Hán - dịch Việt được đưa và chương trình giảng
dạy đều đã được ghi lại bằng ba văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ.
Nội dung phiên bản dịch nghĩa khá rõ ràng, dễ hiểu và trung thành với
phiên âm.
Phần dịch thơ, sách giáo khoa đã chọn những bản dịch sát, hay và nhìn
chung đã giữ đúng thể thơ, kết cấu, bố cục và nhịp điệu của nguyên tác. Tuy
nhiên do quy tắc hiệp vần thơ, nên một số từ ngữ dịch chệch đi. vì thế mà nội
dung dịch thơ so với phiên âm chưa thật sát, làm giảm đi ý nghĩa của bài thơ.
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT THỰC TIỄN
VIỆC GIẢNG DẠY THƠ CHỮ HÁN – DỊCH VIỆT
I. Khó khăn:
Hiện nay giáo viên dạy môn ngữ văn trong nhà trường THCS thường có
tâm lý ngại dạy thơ chữ Hán- dịch Việt với một số lý do sau:
- Thứ nhất thơ chữ Hán – dịch Việt sử dụng từ Hán Việt có chứa nhiều
điển cố, điền tích cổ điển khó hiểu.
- Thứ hai thể thơ thường mô phỏng thơ của Trung Quốc là những thể
thơ có kết cấu, bố cục quy tắc chặt chẽ, nghiêm ngặt rất phức tạp.
- Thứ ba khi dạy phải so sánh với bản phiên âm chữ Hán mất nhiều thời
gian.
Từ những lý do trên dẫn tới đại đa số giáo viên khi dạy thơ chữ Hán –
dịch Việt thường dạy theo trình tự sau:
- Đối với việc đọc, giáo viên bỏ qua bản phiên âm và dịch nghĩa mà chỉ
chú ý đọc phần dịch thơ.
- Đối với phần phân tích giáo viên chỉ căn cứ vào bản dịch thơ, không

* Lớp 8: 01 tiết (02 bài)
1. Ngắm trăng (Vọng nguyệt).
2. Đi đường (Tẩu lộ).
Tất cả các bài thơ đều có cả ba bản phiên âm, dịch thơ, dịch nghĩa trong
sách giáo khoa
II. Tiến hành.
1. Bước chuẩn bị.
* Về phía giáo viên:
Nắm vững nội dung bài giảng: đại ý, thể thơ, nghĩa từng câu, vẻ đẹp
từng hình ảnh, những từ hay, từ khó, từ có chứa điển tích, điển cố.
Thuộc bản phiên âm, dịch thơ trên cơ sở nắm vững nội dung phiên bản
dịch nghĩa cụ thể:
+ Với bản phiên âm: giáo viên hiểu từng câu, từng chữ (dựa vào bản
dịch nghĩa) so sách đối chiếu với bản dịch thơ để phát hiện ra những chữ hay
hoặc không sát
- Với bản dịch nghĩa: nắm chắc để tham khảo, mở rộng, hiểu sâu hơn
bản dịch thơ và nguyên tác.
- Với bản dịch thơ: hiểu kỹ từng từ, chữ, hình ảnh, điển tích được vận
dụng. Chỗ nào chưa hiểu thì đối chiếu với bản dịch nghĩa, phiên âm hoặc tra
cứu thêm các loại sách công cụ (Từ điển tiếng Việt, từ điển văn học Việt
Nam, sổ tay từ Hán – Việt).
* Đối với học sinh: giáo viên cần có định hướng cụ thể để hướng dẫn
học sinh học bài. Yêu cầu học sinh phải nắm được nội dung bản dịch nghĩa,
dịch thơ, trên cơ sở xem xét kỹ phần chú giải trong sách giáo khoa, căn cứ
vào nội dung bài giảng và hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa hướng dẫn
cho học sinh tìm hiểu bài thơ.
2. Bước lên lớp.
- Giáo viên chủ động về nội dung kiến thức, linh hoạt về phương pháp
dạy học.
5

phong cảnh núi non hùng vĩ bao la trải ra trước mắt.
2.2.2 Đối với những câu thơ dịch chưa sát, chưa đúng với phiên âm
- So sánh với bản phiên âm với dịch thơ thông qua bản dịch nghĩa phát
hiện những chữ chưa sát, chưa đúng. Phân tích để thấy rõ việc dịch chưa sát,
chưa đúng ấy có ảnh hưởng đến thơ như thế nào.
Ví dụ: trong bài “Vọng nguyệt” (Ngắm trăng) câu thơ thứ hai Bác viết
“Đối thử lương tiêu nại nhược hà” có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết
làm thế nào?”. Câu thơ dịch “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ” đã làm mất đi
cái xốn xang, bối rối được thể hiện ở lời tự hỏi “nại nhược hà?” (biết làm thể
nào?), mà chính cái xốn xang, bối rối đó mới cho thấy tâm hồn nghệ sỹ rất
nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên của Bác Hồ. Dịch là “khó hững hờ” thì lại
cho thấy nhân vật trữ tình quá bình thản, có phần hững hờ, chứ không rung
cảm mạnh mẽ như trong câu thơ nguyên tác.
Câu thơ thứ tư trong bản dịch có hai từ gần đồng nghĩa (nhòm, ngắm) rõ
ràng là chưa cô đúc, đó là chưa kể đến chữ “nhòm” ở đây không được nhã
(nhất là lại “nhòm khe cửa”).
2.2.3 Đối với những câu thơ dịch thoát ý nhưng không giữ được thể
thơ, cấu trúc thơ.
- Về thể thơ: cần so sánh số câu, chữ, gieo vần ở bản dịch thơ và phiên
âm rút ra nhận xét, giáo viên phân tích lý do không giữ đúng thể thơ, nêu hạn
chế.
Ví dụ: + Bài “Tẩu lộ” (Đi đường), nguyên tác viết theo thể thất ngôn tứ
tuyệt, bài dịch theo thể lục bát, câu lục bát của bài thơ dịch tuy khá mềm mại
tự nhiên nhưng phần nào giảm đi cái chắc chắn, chặt chẽ, gân guốc phù hợp
với nội dung tư tưởng của bài thơ.
+ Bài “Vọng nguyệt” (Ngắm trăng) bài dịch giữ đúng thể thơ nhưng
thay đổi cấu trúc của bài thơ nguyên tác.
Trong phiên âm hai câu kết có kết cấu khá chặt chẽ, mỗi câu là một tiểu
đối nhân và minh nguyệt; nguyệt và thi gia, bản thân hai câu thơ cũng tạo
thành một cặp đối: nhân và nguyệt, minh nguyệt và thi gia, trong bản dịch thơ

Dĩ nhiên, thực hiện tốt bất cứ một điều gì mới cũng đòi hỏi phải có một quá
trình.
Tuy nhiên quá trình thực nghiệm dạy học thơ chữ Hán- dịch Việt như
trình bày ở trên, tôi đã thu được những kết quả khả quan. Bản thân tôi thấy
hứng thú giảng dạy, giúp học sinh chủ động phát huy khả năng tư duy, so
sánh và nhận xét tác phẩm thơ chữ Hán - dịch Việt, học sinh cảm nhận được
cái hay, cái độc đáo của thơ chữ Hán – dịch Việt.
Khi dạy những bài thơ chữ Hán – dịch Việt, giáo viên cần hiểu rõ các
câu, chữ, điển tích để đưa học sinh về với không khí lịch sử, từ đó các em
có tâm thế lĩnh hội kiến thức một cách chủ động. Đồng thời các thao tác so
sánh, đối chiếu sẽ giúp các em có điều kiện hiểu kỹ nội dung tác phẩm, để từ
đó cảm thụ hay, sát với nội dung bài học.
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi thực hiện giảng dạy những bài
thơ chữ Hán – dịch Việt, kết quả là học sinh không còn ngại ngùng khi phải
tiếp xúc với những loại thơ này. Các em đã có hứng thú say mê khi tìm tòi
phát hiện ra cái phong vị cổ điển trong thơ Đường, các em tự hào về sự khám
phá những nét độc đáo trong thơ. Vì thế tiết học không còn cảm giác nhàm
chán, buồn tẻ mà thực sự hứng khởi.
Lào Cai, tháng 3 năm 2009
NGƯỜI THỰC HIỆN
Vũ Thị Hảo
9
10
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status