Một hướng tiếp cận giảng dạy VBND trong môn Ngữ Văn THCS - Pdf 27

Chuyên đề:
Một hướng tiếp cận giảng dạy VBND trong môn Ngữ Văn
THCS
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận:
- Mục tiêu của môn Ngữ Văn: “góp phần hình thành những con người có trình độ
học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp tục cho họ học lên bậc
cao hơn. Đó là những người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia
đình, bạn bè; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; biết hướng tới những tư
tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những người biết rèn luyện để có tính tự
lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm nhận các giá trị chân thiện mĩ
trong nghệ thuật, có năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để
tư duy, giao tiếp”. Mục tiêu đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý
thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động
của cuộc sống.
- Xuất phát từ yêu cầu đó các văn bản nhật dụng đưa vào chương trình Ngữ Văn
THCS, với nội dung “gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người
và cộng đồng trong xã hội hiện đại” hướng người học tới những vấn đề thời sự
hàng ngày mà mỗi cá nhân, cộng đồng đều quan tâm như môi trường, dân số, sức
khỏe cộng đồng, quyền trẻ em…Do đó những VB này đã tạo cơ hội rõ rệt hơn cho
việc dạy học gắn liền với đời sống, giúp người dạy đạt được mục tiêu: tăng tính
thực hành, giảm lý thuyết, gắn bài học với thực tiễn.
- Trong những năm gần đây, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học đã tạo
điều kiện thuận lợi để GV gắn kết những vấn đề được đề cấp đến trong VBND với
các vấn đề của đời sống….Đó là việc lồng ghép các kênh hình , tiếng trong bài
dạy…
- Theo định hướng của Chuẩn KTKN: đó là “yêu cầu tối thiểu về KT, KN của môn
học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức”, nhằm giảm tải
chương trình học, chú trọng vạn dụng kiến thức, tăng cường thực hành, gắn nội

đến việc khai thác VB không đầy đủ. Giờ dạy NV dễ biến thành một giờ dạy
GDCD, 1 bài thuyết minh về các vấn đề môi trường, lịch sử…
+ Ba là, GV ý thức được cả 2 vấn đề trên thì lại thường lúng túng khi đi tìm
một định hướng tiếp cận VBND có hiệu quả (tiếp cận VB ở góc độ nào? Nội dung
hay hình thức NT? ) việc lồng ghép các kênh hình, tiếng sao cho có hiệu quả mà
vẫn đảm bảo thời lượng của một bài học… Do đó việc liên hệ với thực tế, gắn kết
kiến thức của bài học với các vấn đề cập nhật của đời sống XH còn mang tính máy
móc; hoặc chưa tích hợp được với các môn học khác như GDCD, Lịch sử, Địa lí…
khi khai thác các vấn đề nhật dụng của VB.
Qua tìm hiểu, chúng tôi xin đưa ra một số nguyên nhân lí giải cho thực trạng
trên như sau:
- GV thiếu một định hướng, một PPDH cụ thể khi tiếp cận dạy học VBND.
- Việc vận dụng CNTT, phát huy ưu điểm của kênh hình, kênh tiếng trong việc liên
hệ các vấn đề nhật dụng của VB với đời sống của GV còn hạn chế.
- Chưa làm cho HS thấy được sự “gần gũi”, “bức thiết” của các vấn đề nhật dụng
trong VB để các em hiểu rằng vấn đề được đề cập đến trong VB cũng là vấn đề của
các em, liên quan đến cuộc sống của các em.
Xuất phát từ những lí do trên, nhóm Văn tổ Văn_Nhạc_Họa trường chúng tôi đã
mạnh dạn triển khai chuyên đề: “Một hướng tiếp cận giảng dạy VBND trong môn
Ngữ Văn THCS”
II. Mục đích và đối tượng nghiên cứu:
1. Mục đích nghiên cứu: Đưa ra một hướng giải quyết những tồn tại
về mặt PPDH, ứng dụng CNTT trong dạy học, nhằm có thêm kinh nghiệm đẻ dạy
học có hiệu quả phần VBND, đáp ứng tốt những yêu cầu của Chuẩn KT-KN môn
Ngữ Văn THCS.
2. Đối tượng nghiên cứu: Quá trình giảng dạy NV phần VBND ở các
khối lớp 6, 7, 8, 9 Trường THCS Cao Thắng từ niên khóa 2007-2008 đến nay. Cụ
thể là tiết 129: Động Phong Nha _ Ngữ Văn 6_ Lớp 6
2


+ Sự đa dạng về PTBĐ (kiểu VB), về thể loại (truyện ngắn, kí, tùy bút..);
Các VBND thường có sự kết hợp đan xen của nhiều yếu tố miêu tả, tự sự, thuyết
minh, biểu cảm…nhằm thông qua ngôn ngữ VH (các VBND trong chương trình
NV THCS “luôn có một giá trị nghệ thuật nhất định; hướng người đọc đến những
vấn đề sinh động của cuộc sống”).
+ Việc sử dụng CNTT, vận dụng các kênh hình, tiếng bổ trợ làm sao cho
linh hoạt đạt hiệu quả, khi nguồn tài liệu (hình ảnh) của các VBND còn quá sơ sài,
đơn điệu, giá trị sử dụng không cao.
+ Phân bố thời lượng của các bài học VBND tương đối hợp lí. Tuy nhiên
vẫn có những bài dài, GV không đủ thời lượng chuyển tải nội dung kiến thức nếu
không có sự đổi mới về PPDH, hay vận dụng hợp lí các PTDH hiện đại.
Để cụ thể, hệ thống hóa một số đặc điểm vừa nêu trên của hệ thống các VBND
trong môn Ngữ Văn THCS, chúng tôi xin trình bày bảng thống kê sau:
Bảng thống kê đặc điểm của các VBND trong môn Ngữ Văn THCS:
Qua việc tìm hiểu hệ thống VBND trong Ngữ Văn THCS cũng như thực trạng và
nguyên nhân của việc Dạy –Học VBND, chúng tôi xin được đề xuất một hướng
tiếp cận nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy như sau:
II. Hướng tiếp cận Dạy – học Văn bản nhật dụng:
Dựa theo những hướng dẫn có tính chỉ định của các tác giả SGK Ngữ Văn THCS,
chúng tôi thấy cần xác lập một số định hướng để việc dạy học VBND có hiệu quả,
đó là:
+”Không nên quan niệm VBND là những sáng tác tiêu biểu cho các tác
phẩm văn học, từ đó đặt ra và đòi hỏi quá cao yêu cầu về nghệ thuật của VB”,mà
nên xem xét những VBND trong tư cách của các thông điệp tư tưởng được trình
bày dưới dạng ngôn từ.
+”Khi dạy VBND, GV cần tập trung khai thác các vấn đề nội dung tư tưởng
đặt ra ở mỗi văn bản, từ đó mà liên hệ, giáo dục tư tưởng tình cảm và ý thức cho
HS trước các vấn đề mà XH đang quan tâm.Từ đó, nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa
của các nội dung đặt ra trong mỗi văn bản để hướng dẫn HS tự liên hệ, rút ra bài
học cho chính bản thân mình”. Biến những vấn đề nhật dụng được đề cập trong VB

Môn ngữ văn nói chung, đặc biệt là phần VBND không nằm ngoài đặc
trưng này, bởi tính phong phú, đa dạng về đề tài, nội dung nhật dụng, phương thức
biểu đạt của nó… Nhưng chung qui lại có hai điểm nhấn mà bài học VBND tác
động đối với người học : mục tiêu trang bị kiến thức và mục tiêu trau dồi tư tưởng,
tình cảm, thái độ.
+) Về kiến thức:
Dạy học VBND giúp HS hiểu đúng ý nghĩa xã hội ( ý nghĩa thời sự cập
nhật) qua việc tự nắm bắt vấn đề “xã hội gần gũi bức thiết được đề cập”đến trong
văn bản.
Ví dụ: Với văn bản “ Cuộc chia tay của những con búp bê”
Khi nhìn nhận truyện ngắn này như 1 VBND thì dù không bỏ qua các dấu
hiệu hình thức nổi bật của văn bản, nhưng mục tiêu chính là thông qua phát hiện
nội dung văn bản, tìm hiểu vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với HS, đánh
thức tình cảm chia sẻ với bạn bè có cảnh ngộ như hai anh em Thành Thủy trong
truyện và ý thức về quyền được hưởng niềm vui, hạnh phúc của trẻ em.Đó sẽ là ý
nghĩa cập nhật của bài học .Và là mục tiêu kiến thức chủ yếu mà bài học VBND
này hướng tới.
Cơ hội để các tri thức cập nhập về vấn đề thiết thực vừa có ý nghĩa thời sự
lại vừa có ý nghĩa lâu dài là các thế mạnh của bài học VBND, nhưng mục tiêu dạy
học VBND không dừng lại ở việc cung cấp tri thức trong văn bản mà còn mở rộng
nhận thức của người học theo vấn đề được đề cập trong văn bản.
Ví dụ: Ý nghĩa chứng nhân lịch sử của cầu Long Biên có thể gợi ra ở HS những
liên tưởng về nhiều cây cầu chứng nhân lịch sử khác trên khắp đất nước như:cầu
Hiền Lương, Hàm Rồng, Thăng Long, Mỹ Thuận…
Hay Bức thư của thủ lĩnh da đỏ sẽ gợi cho HS những liên hệ về thực trạng
bạo động về môi trường sống và sức khỏe con người ở mỗi làng quê, thành phố
…..đang bị chính con người hủy hoại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status