Lạm phát và các tác động của nó tới đời sống kinh tế - xã hội - Pdf 13

A. M ở đầu:
Lạm phát là bạn đồng hành của nền kinh tế thị trường. Với tư cách là
kết quả tổng hòa của các chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô, cũng như của các
hoạt động kinh doanh vi mô trong sự hòa nhập và tương tác với bối cảnh
chung của nền kinh tế khu vực và thế giới - lạm phát - đã có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp, nhanh hoặc chậm, tích cực hoặc tiêu cực, ở mức độ này
hay mức độ khác…đến toàn bộ các lĩnh vực và khía cạnh hoạt động của
Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân; đến các quan hệ kinh tế đối nội và đối
ngoại của quốc gia và tác động đến cả tình hình kinh tế khu vực cũng như
thế giới với mức độ tùy theo vị thế kinh tế - chính trị mà nước đó đảm nhận.
Trong thời đại ngày nay, lạm phát là vấn đề trung tâm và nhạy cảm hàng đầu
của đời sống kinh tế - xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế. Vì vậy, nghiên
cứu lạm phát luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng,
vấn đề lạm phát không chỉ còn là một tiêu thức kinh tế mà còn kiến mang ý
nghĩa chính trị. Đặc biệt, đối với một nền kinh tế quá độ còn non nớt và
đang tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này lại càng trở nên bức
thiết hơn bao giờ hết.
Do vậy, bài luận ngoài việc đề cập đến lạm phát và các tác động của
nó tới nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội còn đề xuất một số giải
pháp nhằm góp phần kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
B. N ội dung:
I. Những khái niệm cơ bản:
1. Lạm phát:
Theo kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá
chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị
trường hay giảm sức mua thực tế của đồng tiền. Khi so sánh với các nền
kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các
loại tiền tệ khác. Thông thường, theo nghĩa đầu tiên, lạm phát được hiểu là
của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia. Còn theo
nghĩa thứ hai, cần hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị

hàng hóa và dich jvụ trong GDP.
Ở Việt Nam hiện nay, Tổng cục Thống kê chính thức công bố chỉ số
giá tiêu dùng CPI của toàn quốc được tính theo phương pháp cải tiến:
- Chỉ số giá tiêu dùng chung của cả nước được tính trên cơ sở chỉ số
giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố trong cả nước.
- Chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố được tính theo công
thức Lasparye với quyền số cố định là cơ cấu chi tiêu hộ gia đình đa mục
tiêu do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 1995. Danh mục mặt hàng đại
diện thu thập giá gồm 296 mặt hàng, được phân chia theo 10 nhóm tiêu dùng
cấp I, 34 nhóm cấp II và 86 nhóm cấp III, trong mỗi nhóm đều bao gồm cả
hàng hóa và dịch vụ. Giá tiêu dùng bình quân năm 1995 được dùng làm giá
kỳ gốc cố định.
2
- Hàng tháng, chỉ só giá tiêu dùng được công bố với 4 gốc so sánh:
+ Kỳ gốc (so với giá tiêu dùng bình quân năm 1995).
+ Tháng trước (hàng tháng).
+ Cùng tháng năm trước (sau 12 tháng).
+ Tháng 12 năm trước.
II. Những tác động của lạm phát:
Lạm phát tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thông qua đó, nó cũng có
tác động tới đời sống chính trị và xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tác
động trên lĩnh vực kinh tế được coi là nổi bật và quan trọng nhất. Nó làm
thay đổi mức độ và hình thức sản lượng, đồng thời tạo ra sự phân phối lại
thu nhập và của cải xã hội. Lạm phát tác động đến nền kinh tế theo cả hai
hướng: Tiêu cực và tích cực.
1. Các tác động tiêu cực của lạm phát:
Tác hại của lạm phát tỷ lệ thuận với tốc độ lạm phát. Lạm phát phi mã
và siêu lạm phát - với mức độ tiến triển không thể dự báo trước và vượt ra
khỏi khả năng điều tiết, kiềm chế của Chính phủ - là những tai họa khủng
khiếp cho đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia. Cụ thể:

2. Tác động tích cực của lạm phát:
Với tốc độ lạm phát vừa phải (thường là từ 2% đến dưới 5%/năm ở
những nước phát triển và dưới 10%/năm ở những nước kém phát triển), và
với việc “chỉ số hóa” lạm phát cùng các kỹ thuật thích ứng khác, lạm phát có
thể đem lại một số lợi ích:
- Lạm phát vừa phải được ví như dầu mỡ giúp “bôi trơn” nền kinh tế.
Trong điều kiện nào đó, có thể thông qua lạm phát từ 2% đến 4%/năm để bỏ
ngỏ khả năng có những lãi suất thực âm (lãi suất tiết kiệm thấp hơn lạm
phát), có tác dụng kích thích tiêu dùng, vay nợ và đầu tư, do đó, giảm bớt
thất nghiệp xã hội, kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Lạm phát vừa phải cho phép Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn
các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở
rộng tín dụng và tài trợ lạm phát, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn
lực xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định
có chọn lọc.
III. Phân tích 3 tình huống trong thực tế để làm rõ tác
động của lạm phát:
1. Ảnh hưởng của lạm phát tới thị trường lương thực - thực phẩm
ở Việt Nam năm 2007:
Năm 2007, dưới tác động của tỷ lệ lạm phát là 8,4%, giá lương thực -
thực phẩm trên thị trường Việt Nam tăng cao, đạt mức 18,9%. Trong đó,
nhóm lương thực tăng 15,5%, nhóm thực phẩm tăng 21,6%. Bước sang năm
2008, tình hình không những không được cải thiện mà giá lương thực - thực
phẩm lại ngày càng gia tăng. Chỉ trong 4 tháng đầu năm, giá lương thực -
thực phẩm đã tăng 18% - cao tương đương mức giá tăng lương thực - thực
phẩm của cả năm 2007. Trong đó, lương thực tăng 25%, thực phẩm tăng
15,6%.
4
Cụ thể, hiện nay, trong các mặt hàng lương thực, giá cả tăng mạnh
nhất là nhóm vừng, lạc, đỗ. Nếu trong năm, giá vừng chỉ khoảng 40.000

sang phi nông nghiệp lên tới 366.000 ha, bình quân mỗi năm, diện tích đất bị
thu hồi lên tới 73.000 ha.
- Cùng với đó, chi phí sản xuất tăng cao, giá dầu và giá nguyên vật
liệu đầu tư vào sản xuất nông nghiệp liên quan liên tục tăng: Giá dầu tăng
80%, giá phân bón tăng 65%, giá các loại khí hóa lỏng tăng 95%
- Thêm vào đó, một khối lượng tiền lớn được đưa ra thị trường thế
giới kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ từ
tháng 7/2007, sau đó lan rộng ra khắp thế giới.
5
- Ở Việt Nam, chính sách tiền tệ từ năm 2001 đến năm 2007 được nới
lỏng nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng tác động tới cân bằng tiền hàng
khiến mặt bằng giá chung ở thị trường trong nước liên tục tăng, trong đó có
lương thực - thực phẩm.
Việc tăng giá lương thực - thực phẩm đã có ảnh hưởng lớn tới đời
sống kinh tế - xã hội, theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực:
- Giá lương thực - thực phẩm trong nước tăng theo xu thế chung của
thế giới cộng với việc dân số thế giới không ngừng tăng lên khiến cho nhu
cầu lương thực - thực phẩm tăng đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc
xuất khẩu lương thực - thực phẩm ra thị trường thế giới và thu lại nguồn lợi
nhuận lớn.
- Giá lương thực - thực phẩm tăng khiến cho sức mua của người dân,
đặc biệt là những người nghèo giảm đi nhiều làm cho điều kiện sống, điều
kiện phúc lợi xã hội không được đảm bảo, mức sống của dân cư chậm được
cải thiện. Thành phần dinh dưỡng trong đại đa số bữa ăn của người dân
nghèo không được đầy đủ, ảnh hưởng tới sức khỏe, thể lực. Giá cả và chi phí
sản xuất tăng cao, trong khi giá sản phẩm họ bán ra thị trường chỉ nhích nhẹ,
không tương xứng với công sức mà họ đã bỏ ra. Đặc biệt, hiện tượng này có
ảnh hưởng rất mạnh tới tầng lớp sinh viên. Với mức chi tiêu eo hẹp trong khi
giá cả thị trường tăng lên nhanh chóng, những sinh viên không có đủ điều
kiện tài chính dễ bị suy yếu cả thể lực và trí lực phục vụ cho học tập.

Ngân hàng thương mại.
Đối với hoạt động cho vay và đầu tư : Lạm phát tăng cao, Ngân
hàng Nhà nước phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong
lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh
doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách
hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với
mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất
cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân
hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá
vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên
thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và
dài hạn đối với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để
cho vay trung và dài hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không
nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản (khái niệm chỉ mức độ
một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm
ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó) của các ngân hàng, nên rủi
ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điều khó tránh khỏi.
Đối với việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác: Do lạm phát
cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa, thanh
toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát,
nhưng lại khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở
Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50%
giao dịch không qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán
qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, Ngân hàng
Nhà nước thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền
này, các Ngân hàng thương mại cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch
vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền
7
thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán
tăng, thoát ly ngoài hoạt động.

cả tháng lương của một công nhân có thu nhập thấp. Giá một bịch bốn lon
Coca - cola là 20 triệu đô la. Để có vé xe bus vòng quanh thành phố cũng
phải mất tới 10 triệu. Một yến bột ngô - đủ ăn cho một gia đình bốn người
trong hai ngày có giá là 45 triệu.
Trong khi đó, lương tháng của một nông dân ở Zimbabwe là 30 triệu
đô la, của người giúp việc gia đình cao hơn con số đó 5 lần và của một công
nhân là 300 triệu. Nếu là một công chức Nhà nước, lương tháng là 60 000 đô
8
la. Nhưng nếu chỉ mua một gói khoai tây thôi, giá đã là 2 triệu, gấp 33 lần số
lương tháng.
Thị trường chợ đen, vì thế mà phát triển cực kỳ mạnh mẽ ở quốc gia
Châu Phi này. Trung tâm của chợ đen là nhiên liệu. Giá xăng dầu tăng lên
từng ngày, từng giờ. Tuần trước, mua 1 gallon (khoảng 4 lit) mất 25 triệu,
tuần này mất 32,5 triệu thì tuần sau sẽ mất 40 triệu. Giá cả của một số nhu
yếu phẩm cũng tăng chóng mặt. Giá xà phòng giặt tăng 70 triệu %, giá dầu
ăn tăng 60 triệu %, giá đường tăng 36 triệu %…
Thị trường cổ phiếu của các công ty niêm yết cũng hòa chung với vũ
điệu giá. Tính từ đầu năm 2008 tới tháng 7 năm 2008, hàn thử biểu của thị
trường chứng khoán Zimbabwe – ZSE tăng 750 lần, từ mức 1,2 tỷ điểm lên
900 tỷ điểm vào lúc đóng cửa phiên cuối cùng của tháng 7.
Hệ quả là Zimbabwe có nền kinh tế thật hỗn loạn, nơi mà công quyền
và dân quyền cùng buôn bán bất hợp pháp.
Lạm phát quá cao, khủng hoảng trầm trọng về kinh tế khiến cho đời
sống chính trị ở Zimbabwe cũng rơi vào tình trạng rối ren. Kể từ sau cuộc bỏ
phiếu bầu cử Tổng thống mới vào tháng 3 năm 2007 gây nhiều tranh cãi về
sự gian lận của Đảng do ông Robert Mugabe đứng đầu, hàng loạt các cuộc
bạo động và đe dọa các đối thủ chính trị do Đảng này tổ chức đã xảy ra.
Đảng đối lập lớn nhất là Phong trào thay đổi Dân chủ cho biết, từ ngày bỏ
phiếu tới nay, đã có 30 nhân vật chính trị bị ám sát. Tình hình này khiến cho
nhiều người dân lo ngại về sự an toàn của chính mình và của cả đất nước.

quan liêu, bao cấp và các thiệt hại của chiến tranh để lại. Sau năm 1986, nhờ
sự thay đổi trong chính sách quản lý và điều hành kinh tế của Đảng và Nhà
nước mà tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã có chiều hướng giảm dần, từ đó, kéo
theo tăng trưởng kinh tế và giải quyết tốt những vấn đề chính trị - xã hội.
Trong vài năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
tiến đáng kể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Theo Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB), tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2007 là
8,3% và năm 2008 đạt 8,2%, bất chấp những thách thức trong nước, sự sụt
giảm của nền kinh tế Mỹ và nhiều nước phát triển khác. Xuất khẩu đạt mức
tăng trưởng khoảng 18% trong năm 2007 và tăng lên đến 19,2% năm 2008.
Những con số khả quan này có được là nhờ sự vùng lên mạnh mẽ của nền
công nghiệp và dòng chảy đầu tư ào ạt từ nước ngoài vào sau khi Việt Nam
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất mà nền kinh tế đang
trên đà tăng trưởng của Việt Nam phải đối mặt là lạm phát gia tăng. Giá cả
tiêu dùng ở nước ta trong tháng 11/2007 tăng 10% so với tháng 11/2006 và
là mức cao nhất trong vòng 3 năm (2005-2007). Lạm phát năm 2007 đã ở
mức 2 chữ số (12,63%), năm 2008 là 22,3%. Tình trạng đó dẫn đến nhập
siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu
USD) lẫn tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu (56,5% so với 18,2%). Lạm phát
cao dẫn tới kìm hãm trầm trọng tốc độ tăng trưởng GDP, ảnh hưởng đến đời
sống của các tầng lớp dân cư do giá cả hàng hóa tăng cao và kiềm chế hoạt
động của các doanh nghiệp do không khai thác được nguồn vốn tín dụng cho
việc duy trì sản xuất…
Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát trong năm 2007 và 2008 là do:
10
- Lạm phát tiền tệ: Với việc tung một khối lượng lớn tiền đồng để mua
ngoại tệ từ các nguồn đổ vào nước ta đã làm tăng lượng tiền trong lưu thông
với mức tăng trên 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao, khoảng 38%.
- Lạm phát cầu kéo: Do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các

phí đẩy ngày càng mạnh liên tục trong nhiều năm qua, việc giá nguyên liệu
nhập khẩu sẽ còn tiếp tục giảm mạnh trong thời gian tới sẽ làm triệt tiêu
nguyên nhân gây lạm phát đặc biệt quan trọng này.
- Xuất khẩu gặp nhiều khó khăn: Bên cạnh những tác động rất mạnh
của việc giá cả thế giới rơi tự do như vậy, xuất khẩu hàng hoá của ta trong
11
năm 2009 sắp tới chắc chắn sẽ còn gặp những khó khăn gay gắt hơn nhiều,
cho nên cũng sẽ góp phần tạo ra sức ép giảm giá trong nước. Về phương
diện này, mặt hàng gạo xuất khẩu có lẽ là một thí dụ tiêu biểu nhất. Giá gạo
thế giới liên tục giảm mạnh khiến hoạt động xuất khẩu ngày càng gặp khó
khăn, tạo sức ép giảm giá trong nước ngày càng lớn.
- Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục giảm: Từ đầu năm 2009 đến nay,
nước ta liên tục được mùa lúa chưa từng có khiến giá lương thực liên tục
giảm và việc bảo đảm an ninh lương thực trong nước tốt hơn trong thời gian
tới sẽ khiến nền kinh tế không còn phải đối mặt với lạm phát cao bắt nguồn
từ tác nhân nội sinh rất quan trọng này.
- Lạm phát do cầu kéo suy giảm: Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong 2 năm 2007 và 2008 so với 8 năm (từ năm 2000 đến năm 2008)
đồng nghĩa với tốc độ tăng thu nhập giảm, sức mua giảm khiến giá cả không
thể tăng mạnh.
Nói tóm lại, trong điều kiện hội đủ các yếu tố tiền tệ, chi phí đẩy và
cầu kéo đều mạnh như năm 2007 và năm 2008, lạm phát của nước ta đã tăng
phi mã, còn trong năm 2009 sắp tới, khi cả ba yếu tố này không còn, chí ít là
sẽ bị suy yếu rất nhiều, thì không có lý gì lạm phát sẽ cao ngất ngưởng ở
mức hai con số.
2. Một số giải pháp cơ bản để kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện
nay:
Đối phó và kiềm chế lạm phát là một “công nghệ phức tạp” và được
điều chỉnh khéo léo cho phù hợp với tình hình cụ thể, với nguyên tắc chỉ đạo
cao nhất là “bắt mạch trúng” và tiến hành đồng bộ mọi giải pháp có thể để

phức tạp. Lạm phát có thể là động lực thúc đẩy tng trng kinh tế v ng ợc
lại, cũng có thể là tác nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế, thậm chớ gõy ra
khng hong kinh t trm trng.
Vỡ vy, vic tỡm hiu bn cht, nguyờn nhõn gõy ra lm phỏt l iu
ht sc quan trng v cn thit nhm tỡm ra gii phỏp ti u nht khc
phc hu qu ca k thự i vi s tng trng kinh t ny. ú l mt trong
nhng nhim v hng u ca kinh t Vit Nam núi riờng v ca kinh t th
gii núi chung.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status