pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước qua thực tiễn tại Thừa Thiên Huế giai đoạn 2008 – 2012 - Pdf 13

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
1. ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
2. BVMT: Bảo vệ môi trường.
3. BTN&MT: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.
4. CT THHH NN MTV: Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một
thành viên.
5. NDĐ: Nước dưới đất.
6. ĐCTV: Địa chất thủy văn.
7. HST : Hệ sinh thái.
8. KCN: Khu công nghiệp.
9. LVS: Lưu vực sông.
10. MTĐT: Môi trường đô thị.
11. MTBE: Metyl terl- butyl ete.
12. Na: Natri.
13. NĐ_CP: Nghị định Chính phủ.
14. PPT: Polluter pay principle
15. PTNT: Phát triển nông thôn.
16. QCVN: quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
17. SS: Thông số chất lơ lửng.
18. TCCP: Tiêu chuẩn cho phép.
19. TNN: Tài nguyên nước.
20. TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
21. TTLT- BTC- BTNMT: thông tư liên tịch Bộ Tài Chính- Bộ Tài
nguyên Môi trường.
22. UBND: Ủy ban nhân dân.
23. UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc.
24. WRI: Viện tài nguyên thế giới
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 5

2008 - 2012 37
2.2.1. Tài nguyên nước tại Thừa Thiên Huế 37
2.2.2. Tình hình ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước tại Thừa Thiên Huế 38
2.2.2.1. Ô nhiễm ở các lưu vực sông 38
2.2.2.2. Ô nhiễm tại các khu công nghiệp 39
2.2.2.3. Ô nhiễm tại các làng nghề 42
2.2.2.4. Ô nhiễm tại các bãi rác 44
2.2.3. Công tác bảo vệ tài nguyên nước 47
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ tài nguyên nước tại Thừa Thiên Huế 49
2.3.1. Về phía cơ quan nhà nước 49
2.3.1.1. Ưu điểm 49
2.3.1.2. Hạn chế 51
2.3.2. Về phía các tổ chức, cá nhân 53
2.3.2.1. Ưu điểm 53
2.3.2.2. Hạn chế 54
2.4. Giải pháp chung để nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước 55
2.4.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước 55
2.4.1.1. Xây dựng các văn bản hướng dẫn 55
2.4.1.2. Ban hành một số chính sách quản lý nhà nước phù hợp 57
2.4.1.3. Công tác tuyên truyền, giáo dục 59
2.4.1.4. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế 59
2.4.2. Các biện pháp thực tế 61
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng quan tâm của toàn
xã hội chúng ta. Song song với đại dịch AIDS và vấn đề đói nghèo thì ô
nhiễm môi trường là vấn đề mà loài người đang phải đối mặt. Trong thời
gian gần đây những thiên tai kinh hoàng diễn ra đã gióng lên một hồi

Chính phủ Việt Nam và cộng hòa Pháp, nhằm góp phần củng cố mối quan
hệ hợp tác về pháp lý, hoàn thiện về thể chế hành chính, tăng cường hiệu
lực và hiệu quả trong quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam
Tuy nhiên, việc thực hiện bảo vệ tài nguyên nước ở nước ta nói chung
và trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng còn nhiều khó khăn cần khắc
phục, vì vậy nên Đảng và Nhà nước cần có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao
hơn nữa vấn đề này, động thời mỗi người dân cần tự nâng cao ý thức của
mình về bảo vệ nguồn tài nguyên quý hiếm này.
Do đó em lựa chọn đề tài “pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước qua
thực tiễn tại Thừa Thiên Huế giai đoạn 2008 – 2012” với mong muốn góp
một phần hiểu biết nhỏ bé trong hoạt động bảo vệ tài nguyên nước tại tỉnh
Thừa Thiên Huế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước đã, đang và
sẽ là vấn đề đáng quan tâm tuy nhiên cũng rất phức tạp và phong phú.
Hiện nay trên cả nước nói chung và tại Thừa Thiên Huế nói riêng, đã
có nhiều đề án, chương trình, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường
đặc biệt là bảo vệ tài nguyên nước như sách “Đánh giá tài nguyên nước
Việt Nam 2005” của Nguyễn Thanh Sơn, sách “Thảo luận về pháp luật
5
bảo vệ tài nguyên nước ở nước ta”của Ts. Nguyễn Quang Tuyến, Đại học
Luật Hà Nội, dự án quy hoạch cấp nước trên điạ bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030. Tuy bước đầu đã có những kết quả
tích cực, tuy nhiên tình trạng ô nhiễm nguồn tài nguyên nước tại Thừa
Thiên Huế vẫn diễn ra theo chiều hướng phức tạp, các giải pháp bảo vệ
nguồn tài nguyên này chưa được áp dụng đồng bộ và còn nhiều bất cập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy định của pháp luật về hoạt
động bảo vệ tài nguyên nước.
- Các quy định về Bảo vệ tài nguyên nước theo Pháp luật Việt Nam

pháp luật về bảo vệ nguồn tài nguyên nước ở nước ta hiện nay.
- Về mặt thực tiễn:Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ
tài nguyên nước ở Thừa Thiên Huế.Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ tài nguyên nước cũng
như nâng cao chất lượng công tác bảo vệ tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thừa
Thiên Huế.
4. Cơ sở nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng về pháp
luật, về bảo vệ tài nguyên nước, những thành tựu của khoa học, luật bảo vệ
môi trường, luật tài nguyên nước…
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt quá trình hoàn thành khóa luận
này là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin,
phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông
tin, tư liệu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. Phương pháp thống
7
kê: và diễn biến thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước tại
Thừa Thiên Huế.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của báo cáo gồm 2 chương.
Chương 1:Cơ sở pháp lý về hoạt động bảo vệ tài nguyên nước.
Chương 2:Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ tài nguyên nước tại
Thừa Thiên Huế giai đoạn 2008- 2012.

8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.1. Khái quát chung về TNN và bảo vệ tài nguyên nước
1.1.1. Khái niệm, phân loại TNN

nước mặt, nước mưa, nước ngầm và nước biển trong phạm vi lãnh thổ cuả
một quốc gia mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục
đích khác nhau phục vụ cho nhu cầu sống của mình.
Tài nguyên nước thuộc dạng tài nguyên tái tạo được có nghĩa là tài
nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và
vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự tự nhiên, nguồn thông tin vật lý
và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi
không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên. Hay nói cách khác là
tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được
quản lý, sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan[ 23;1]
Nước có hai thuộc tính cơ bản là gây lợi và gây hại, nước là nguồn
động lực cho mọi hoạt động kinh tế của con người song nó cũng gây ra
những hiểm họa không lường trước được đối với con người.Những trận lũ
lớn có thể gây thiệt hại về người và của thậm chí phá hủy cả một vùng sinh
thái. Nước có những đặc trưng vật lý độc đáo mà các chất lỏng khác không
có như: tỷ trọng, nhiệt độ có sự sống và tồn tại như ngày nay.
1.1.2. Phân loại tài nguyên nước
1.1.2.1. Nước mặt
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập
nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng
mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
10
Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước
trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác.
Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ
chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc
điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc
hơi địa phương. Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước.
Các hoạt động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ
các yếu tố này. Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây

chứa nước và không thể phục hồi.
Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng
chứa. Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương.
Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do
tác động của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước gần biên
mặn/ngọt. Ở các vùng ven biển, con người sử dụng nguồn nước ngầm có
thể làm co nước thấm vào đại dương từ nước dự trữ gây ra hiện tượng muối
hóa đất. Con người cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nước bởi các hoạt động
làm ô nhiễm nó. Con người có thể bổ cấp cho nguồn nước này bằng cách
xây dựng các bể chứa hoặc bổ cấp nhân tạo.
1.1.2.3. Nước mưa
Mưa là một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, mưa
có các dạng như: mưa phùn, mưa rào, mưa đá, các dạng khác như tuyết,
mưa tuyết, sương.
Mưa được tạo ra khi các giọt nước khác nhau rơi xuống bề mặt Trái
Đất từ các đám mây. Không phải toàn bộ các cơn mưa đều có thể rơi xuống
đến bề mặt, một số bị bốc hơi trên đường rơi xuống do đi qua không khí
khô, tạo ra một dạng khác của sự ngưng đọng.
12
Mưa đóng một vai trò quan trọng trong chu trình thủy học trong
đó nước từ các đại dương (và các khu vực khác có chứa nước) bay hơi,
ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển do gặp
lạnh, khi các đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại Trái Đất, tạo thành
mưa, sau đó nước có thể ngấm xuống đất hay theo các con sông chảy ra
biển để lại tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển.
Nói chung, nước mưa có độ pH nhỏ hơn 6 một chút, đơn giản là do nó
hấp thụ điôxít cacbon trong khí quyển, nó bị điện ly một phần trong nước,
tạo raaxít cacbonic. Ở một số sa mạc, các luồng không khí vận chuyển cả
cacbonat canxi lên không trung, do đó nước mưa ở đây có thể là có pH bằng
hoặc cao hơn 7. Các trận mưa có pH thấp hơn 5,6 thì được coi là mưa axít.

ngọt (nước ngọt tinh khiết đạt tỷ trọng riêng tối đa là 1.000 g/ml ở nhiệt độ
4 °C) do trọng lượng bổ sung của các muối và hiện tượng điện giảo. Điểm
đóng băng của nước biển giảm xuống khi độ mặn tăng lên và nó là khoảng
-2 °C (28,4°F) ở nồng độ 35‰.
Do đệm hóa học, độ pH của nước biển bị giới hạn trong khoảng 7,5
tới 8,4. Vận tốc âm thanh trong nước biển là khoảng 1.500 m•s
−1
và dao
động theo nhiệt độ của nước cùng áp suất.
1.2. Bảo vệ tài nguyên nước
1.2.1. Khái niệm
Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống con người.
Không có nước không có sự sống. Chúng ta cần nước sạch cho sinh hoạt,
bảo vệ sức khỏe và vệ sinh. Nước cần cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản,
công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Nước còn cần cho phát triển thủy
điện và giao thông thủy. Nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy
trì sự trong lành và bền vững của môi trường, duy trì mối quan hệ láng
giềng hữu nghị với các nước có chung nguồn nước liên quốc gia. Bên cạnh
những mặt lợi, nước cũng có thể gây ra tai họa cho người và môi trường.
Trong những thập niên qua việc khai thác tài nguyên nước và cộng tác
phòng, chống tác hại do nước gây ra đã có những thành tựu quan trọng, góp
phần to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy
14
nhiên, trong một thời gian dài việc nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa và
tầm quan trọng của nước đối với đời sống, sức khỏe và sự phát triển bền
vững của đất nước, chưa chú trọng quản lý và bảo vệ tài nguyên nước dẫn
đến tài nguyên nước ở nước ra đã có những biểu hiện suy thoái cả về số
lượng lẫn chất lượng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan
hiếm nước đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có xu hướng gia tăng; tình
trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên

phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, đồng thời
là nội dung quan trọng của phát triền bền vững.
Mặt khác có thể thấy, chịu tác động của biến đổi khí hậu sớm và lớn
nhất chính là tài nguyên nước. Bởi nước đóng vai trò quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp để tạo ra lương thực cho con người. Việt Nam hiện được
xếp vào nhóm quốc gia có tài nguyên nước vào loại trung bình trên thế giới
nhưng nguồn nước của chúng ta phân bố không đồng đều. Cùng với đó, sự
gia tăng dân số, việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước thời gian qua ở
Việt Nam cũng chưa hợp lý và thiếu bền vững; tình trạng phá rừng, ô
nhiễm môi trường khiến nguồn nước trở nên cạn kiệt xảy ra tại nhiều nơi,
đặc biệt là trong mùa khô. Không có nước, đất đai trở nên khô cằn, cây cối
héo úa, không thể sản sinh ra lương thực dẫn đến việc ảnh hưởng nặng nề
tới ngành nông nghiệp.
Do đó, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước sẽ góp phần thực
hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Hạn
chế và khắc phục sự cố ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước. Đồng thời,
bảo vệ tài nguyên nước và khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên nước còn
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đảm bảo sự phát triển bền vững của đất
nước. Đảm bảo nguồn nước sạch dùng cho sinh hoạt và sản xuất. Phát triển
bền vững tài nguyên nước càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh biến đổi khí
hậu, sự gia tăng sử dụng nước của các nước thượng nguồn và việc cạnh
tranh sử dụng tài nguyên nước giữa các đối tượng sử dụng nước ngày một
16
gia tăng. Hy vọng, với sự tăng cường về công tác bảo vệ tài nguyên nước
sẽ góp phần thúc đẩy cho sự phát triển bền vững tài nguyên nước ở nước ta,
đảm bảo sự ổn định nguồn nước trong tương lai.
1.3. Những vấn đề lý luận của pháp luật về BVTNN
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
1.3.1.1. Khái niệm
Xét ở khía cạnh pháp lý thì pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước là hệ

Thông qua pháp luật bảo vệ tài nguyên nước, nhà nước quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan như sau: xây dựng và tổ chức
thực hiện các văn bản pháp luật, định kỳ đánh giá dự báo tình hình môi
trường nước, xây dựng và quản lý các công trình bảo vệ môi trường nước…
- Pháp luật bảo vệ tài nguyên nước ràng buộc các chủ thể có liên quan
phải thực hiện nghiêm chỉnh những đòi hỏi của pháp luật để kiểm soát ô
nhiễm nước.
Pháp luật quy định những chế tài cụ thể đối với các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật môi trường khi họ không tuân theo quy định của pháp
luật. Các chế tài hành chính ,dân sự, hình sự được pháp luật quy định buộc
các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc
khai thác và sử dụng nước.
1.3.2. Các quy định cảu pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
1.3.2.1. Sự phát triển của pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
Tài nguyên nước là một thành phần gắn với mức độ phát triển của xã
hội loài người tức là cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà tài
nguyên nước ngày càng được bổ sung trong ngân quỹ nước của quốc gia,
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về bảo vệ TNN
gắn liền với quá trình nhận thức của con người về vị trí và vai trò của nước.
18
Trước đây con người cho rằng nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên
vô hạn, nên họ chỉ chú ý đến việc khai thác, sử dụng nước cho các mục
đích sinh hoạt và sản xuất mà chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ nước. Vì
vậy, pháp luật ở thời kỳ này dường như chỉ có các quy định đề cập đến việc
khai thác và sử dụng các nguồn nước (bao gồm nước ngầm và nước mặt).
Cùng với quá trình phát triển xã hội, con người đã dần thay đổi nhận thức
về TNN. Nước không phải là một nguồn tài nguyên vô hạn mà là có hạn.
Sự tác động vô ý thức của con người đã và đang gây ô nhiễm các nguồn
nước và nếu con người không biết cách khai thác, sử dụng hợp lý đi đôi với
việc bảo vệ các nguồn nước thì nguồn tài nguyên quý giá này sẽ bị cạn kiệt.

phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
- Quyết định số 05/2003/QĐ-BTN&MT ngày 04/09/2003 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về cấp phép thăm
dò, khai thác và hành nghề khoan nước dưới đất;
- Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày
18/12/2003 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải [31;1]
Tiếp đến là Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), được kỳ họp thứ 3 Quốc hội
khóa XIII thông qua ngày 21-6-2012 và được Văn phòng Chủ tịch nước họp
báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước Công bố Luật vào ngày 16-7 vừa qua.
Phạm vi điều chỉnh của Luật này kế thừa phạm vi điều chỉnh của Luật
Tài nguyên nước năm 1998. Theo đó, Luật điều chỉnh việc quản lý, bảo vệ,
khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục tác hại do
nước gây ra trên lãnh thổ ViệtNam. Luật không điều chỉnh nước khoáng,
nước nóng thiên nhiên và nước biển thuộc vùng thềm lục địa, vùng đặc
20
quyền kinh tế của nước ta. Bên cạnh đó, những vấn đề về lũ, lụt và các tác
hại khác của nước do thiên tai gây ra được điều chỉnh bằng pháp luật khác.
1.3.2.2. Các quy định cụ thể
1.3.2.2.1. Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước
Theo nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 05 tháng 8 năm 2002 của
Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, trong đó quy định Bộ
TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Bộ
trưởng Bộ TN&MT đã ban hành Quyết định số 600/2003/QĐ-BTNMT
ngày 08 tháng 5 năm 2003 quy định, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Cục Quản lý tài nguyên nước. Cục Quản lý tài nguyên
nước là đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT có chức năng giúp Bộ trưởng thực

Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,
khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu du lịch, vui chơi, giải trí tập trung,
tuyến giao thông đường thủy, đường bộ, công trình ngầm, công trình cấp,
thoát nước, công trình khai thác khoáng sản, nhà máy điện, khu chứa nước
thải và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải có phương án phòng,
chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.
Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ra sự cố ô nhiễm
nguồn nước phải xây dựng và thực hiện các biện pháp để kịp thời ứng phó,
khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước. [22;1]
1.3.2.2.3. Quan trắc, giám sát tài nguyên nước
Điều tra, quan trắc tài nguyên nước (TNN) là sự giám sát, đo đạc các
yếu tố TNN. Kết quả quan trắc cung cấp một bức tranh hoàn thiện nhất,
đầy đủ nhất và chính xác nhất về số lượng, chất lượng nước, phục vụ các
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và dự báo khả năng sử dụng tài nguyên
22
nước trong tương lai. Các yếu tố quan trắc bao gồm mực nước, lưu lượng,
nhiệt độ, chất lượng, của nước.
Kết quả thực tế cho thấy rằng quan trắc tài nguyên nước là một trong
những dạng công tác điều tra cơ bản quan trọng hỗ trợ chiến lược, sách
lược bảo vệ tài nguyên nước. Kết quả quan trắc giúp hoàn thiện quy hoạch
phát triển bảo vệ và quản lý các nguồn nước, làm giảm nhẹ nguy cơ nhiễm
bẩn, cạn kiệt nước và phòng tránh những tác động tiêu cực của nước đến
môi trường sinh thái. [7;1]
Quan trắc, giám sát tài nguyên nước là một điều mới trong luật bảo vệ
tài nguyên nước 2012 nhằm mục đích quy định cụ thể các cơ quan quản lý
nhà nước có trách nhiệm giám sát, theo dõi các nguồn nước đang được
dùng cho các mục đích sử dụng khác nhau trên địa bàn và công khai cho
nhân dân biết để giám sát. Theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách
nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động
khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với

Tài nguyên và Môi trường; công bố thông tin chất lượng nguồn nước sinh
hoạt, cảnh báo hiện tượng bất thường về chất lượng các nguồn nước trên
địa bàn. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện các biện pháp bảo vệ
chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại địa phương.
Ngoài ra, bỏ các quy định về bảo vệ chất lượng nước trong các hoạt
động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản, sản xuất công nghiệp,
khai khoáng; bảo vệ chất lượng nước trong các hoạt động khác và bảo vệ
nguồn nước ở đô thị, khu dân cư tập trung do đã được lồng ghép một số nội
dung quy định tại các điều khác trong.
1.3.2.2.5. Bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy
Nhận thức được tầm quan trọng ngày càng to lớn của rừng đối với
việc bảo vệ tài nguyên nước, Luật tài nguyên nước 2012 đã dành một điều
24
quy định về bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy. Theo đó, các nhà đầu tư
xây dựng hồ chứa, chủ các dự án khai thác, chế biến khoáng sản và các
hoạt động khác có sử dụng hoặc làm ảnh hưởng đến diện tích rừng phải
trồng bù diện tích rừng đã bị mất do việc xây dựng công trình hoặc đóng
góp kinh phí trồng rừng trong trường hợp địa phương không bố trí được
quỹ đất để trồng rừng mới. Đồng thời phải đóng góp kinh phí cho hoạt
động bảo vệ rừng thuộc phạm vi lưu vực của hồ chứa và tham gia bảo vệ,
phát triển rừng đầu nguồn.
Hàng loạt các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ nước, gồm hồ
chứa thủy điện, thủy lợi; hồ tự nhiên, nhân tạo ở các đô thị, khu dân cư; hồ,
ao lớn có chức năng điều hòa; đầm, đầm phá; sông, suối, kênh, rạch là nguồn
cấp nước, trục tiêu nước hoặc có tầm quan trọng… UBND tỉnh sẽ chịu trách
nhiệm cắm mốc chỉ giới và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.
UBND cấp tỉnh sẽ xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực
lấy nước sinh hoạt trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ
TN&MT; công bố thông tin chất lượng nguồn nước sinh hoạt, cảnh báo
hiện tượng bất thường về chất lượng các nguồn nước trên địa bàn. UBND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status