School of Finance, UEH
1
SÁU VẤN ĐỀ NAN GIẢI
TRONG KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TẾ
LÊ NGỌC PHÚ THUẬN
LẠI THỊ MAI THÙY
PHÙNG THẾ THỊNH
PHÙNG THỊ THÙY TRANG
VÕ THỊ NGỌC HẰNG
School of Finance, UEH
2
thể bao gồm chi phí vận chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan và
nhiều nhân tố khác nữa có thể cản trở mậu dịch.
Đây không phải là lần đầu tiên chúng ta đề cập đến mối quan hệ này.
Trong một đóng góp cơ bản cho những tài liệu trong thƣơng mại và tài chính
quốc tế, Samuelson (1954) tranh luận rằng sự tồn tại của một vấn đề trao đổi
quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc có xu hƣớng nội địa hóa trong tiêu dùng
hay không, và ông ta còn chỉ ra rõ ràng cách mà xu hƣớng nội địa hóa bắt
nguồn từ chi phí vận chuyển nhƣ thế nào
1
. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu
sau đó cách tiếp cận tuyến tính của Samuelson hầu nhƣ bị bỏ qua bởi sự ƣa
chuộng một mô hình đƣợc cách điệu hóa hơn căn cứ vào việc tách biệt các
sản phẩm của một quốc gia thành 2 loại: hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch
2
. Phân tích trong bài nghiên cứu của chúng tôi đề xuất rằng: cho nhiều mục
đích, việc phân nhóm này ít có lợi hơn những lựa chọn tự nhiên của việc giới
thiệu những chi phí mậu dịch một cách đơn giản.
1. Đặc biệt trong cách xử lý của chúng tôi đối với những bất thƣờng của thị trƣờng vốn, cách tiếp cận
trong nghiên cứu này không giống với những nghiên cứu mà thƣờng đƣợc đề cập trong các nguồn
tài liệu. Tiêu biểu, một tác giả chọn từ một danh sách của những sự bất hoàn hảo trong thị trƣờng
vốn đáng tin cậy ra một thứ thích hợp nhất để giải thích cho một câu hỏi riêng biệt. Chúng ta
không thể phủ nhận tầm quan trọng của vô số các bất hoàn hảo đặc biệt đến những thị trƣờng tài
sản quốc tế. Tuy nhiên, mục tiêu của chúng ta ở đây là chỉ ra rằng chúng ta có thể tiến xa tới đâu
trong việc Obstfeld và Rogoff (1996, Chapter 4) ghi chi phí thƣơng mại vào bản dịch của
Dornbusch-Fischer-Samuelson (1977) mô hình Ricardian và chỉ ra rằng những phân tích về vấn đề
vận chuyển Samuelson có thể mở rộng thành một sự sắp xếp chức năng hiện đại (modern dynamic
setting). See Krugman (1991) trong sự liên quan của vấn đề vận chuyển đến các cuộc tranh cãi
hiện nay trong kinh tế học vĩ mô quốc tế.
2. Một sự phản đối đáng chú ý là Backus, Kehoe, and Kydland (1992), những ngƣời mà đã nhận thấy
rằng phƣơng pháp gần đúng của họ cho việc kết hợp chặt chẽ những chi phí thƣơng mại nhỏ
này gần nhƣ có liên quan đến những vấn đề chuyển đổi cổ điển. Theo sau
Wei (1998) và Evans (1999) chúng ta sẽ thảo luận chi phí mậu dịch thực
nghiệm hợp lý, kết hợp với những ƣớc lƣợng chuẩn về độ co giãn của sự
thay thế giữa nhập khẩu và xuất khẩu, có thể giải thích đƣợc nhiều điều
trong vấn đề này nhƣ thế nào.
Bằng cách thiết lập sự ma sát thƣơng mại trong những phân tích cốt lõi
của chúng tôi, chúng ta lại trở lại với một trong những vấn đề sơ khai và
hốc búa nhất trong tài chính quốc tế, những vấn đề nan giải của Feldstein
Horioka. Chúng tôi chỉ ra rằng chi phí mậu dịch có thể tạo nên cái nêm giữa
lãi suất thực có hiệu lực áp dụng cho ngƣời đi vay và cho vay. Trong mô
hình của chúng tôi, tác động này có tính phi tuyến cao, nó tự biểu hiện mình
School of Finance, UEH
5
một cách mạnh mẽ chỉ khi mà sự mất cân đối tài khoản vãng lai trở nên quá
lớn. Chúng tôi tranh luận rằng lãi suất thực mới hình thành sẽ có tác động
giữ cho sự mất cân đối trong tài khoản vãng lai đƣợc quan sát nằm giữ trong
một phạm vi bình thƣờng. Mặc dù cơ bản là dựa vào sức mạnh lý thuyết của
những tranh luận, nhƣng chúng tôi sẽ chứng minh một cách có kinh nghiệm
rằng những quốc gia có sự thâm hụt tài khoản vãng lai có khuynh hƣớng có
lãi suất thực cao, nhƣ mô hình của chúng tôi dự báo.
Kế đến, chúng tôi chỉ ra rằng với cùng một phƣơng pháp tiếp cận có thể
giải thích một cách đơn giản và nhẹ nhàng về xu hƣớng nội địa hóa đƣợc
thảo luận rộng rãi trong việc nắm giữ vốn cổ phần nội địa (hay rộng hơn nữa
là cho tất cả các tài sản). Phần dƣới đây bao gồm vấn đề về sự tƣơng quan
tiêu dùng, điều mà có liên quan chặt chẽ với ba nhân tố trƣớc đó, vì thế
không có gì là đáng ngạc nhiên khi một lần nữa chúng tôi áp dụng cùng một
cách tiếp cận . Chúng tôi cũng đề cập một cách ngắn gọn đến những nhân tố
của hiệp định tự do mậu dịch giữa Mỹ và Canada, và trƣớc khi những mô
hình mậu dịch đƣợc điều chỉnh một cách đầy đủ. Bằng việc sử dụng những
dữ liệu của giai đoạn 1993 – 1996, Helliwell (1998) đã nhận thấy rằng xu
hƣớng nội địa hóa không giải thích đƣợc rơi vào một thừa số của 12, điều
mà vẫn còn gây ngạc nhiên cho nhiều ngƣời. Mặc dù những dữ liệu mậu
dịch nội bộ chỉ có sẵn đối với Mỹ và Canada, Wei (1998) và Evans (1999)
đã sử dụng những phƣơng pháp gián tiếp để kiểm tra xu hƣớng nội địa hóa
của các cặp quốc gia khác trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế. Wei đề
xuất rằng sự thiên lệch trung bình chỉ thấp cỡ 2.5, trong khi Evans nhận thấy
những giá trị ở giữa những giá trị của Wei và Helliwell.
3
Van Wincoop
(2000) tranh luận rằng thậm chí mặc dù McCallum điều chỉnh ở phạm vi tiểu
bang và tỉnh thành trong phƣơng trình trọng lƣợng của ông ta, nhƣng sự đo
lƣờng chuyển hƣớng thƣơng mại của ông vẫn gây ra một ấn tƣợng quá mức
School of Finance, UEH
7
về xu hƣớng nội địa hóa trong mậu dịch toàn cầu, bởi vì nó tính toán sự
thiên lệch từ triển vọng của quốc gia nhỏ, Canada, hơn là từ triển vọng của
một quốc gia lớn, Mỹ
4
. Một cách tổng thể, sự giải thích cân bằng của những
tài liệu cho rằng các quốc gia pho bày một mức độ hƣớng nội cao trong mậu
dịch, nhƣng sự thiên lệch này không cực đoan nhƣ những đánh giá ban đầu
của McCallum đã đề xuất.
Nhƣng nếu vẫn có một mức độ có ý nghĩa của xu hƣớng nội địa hóa
trong mậu dịch quốc tế, chúng ta có thể giải thích nó nhƣ thế nào? Rõ ràng,
Ở đây chúng tôi sẽ chỉ ra rằng bằng cách nào chi phí mậu dịch quốc tế
có thể làm cho sự tiêu dùng nội địa hƣớng về những hàng hóa đƣợc sản xuất
trong nƣớc một cách ấn tƣợng.
Giả định một nền kinh tế cực kỳ đơn giản chỉ có sự giao thƣơng của 2
quốc gia. Trong đó, hàm hữu dụng đại diện cho việc tiêu thụ hàng hóa trong
nƣớc đƣợc biểu diễn nhƣ sau:
)1/(
/)1(/)1(
FH
CCC
(1)
Trong đó: C
H
: là mức tiêu dùng nội địa của hàng hóa sản xuất trong nƣớc
C
F
: là mức tiêu dùng nội địa của hàng hóa sản xuất nƣớc ngoài
Hàm hữu dụng của hai nƣớc đang đƣợc xem xét (2 nƣớc đang giao
thƣơng) đƣợc giả định là giống hệt nhau. Với: C
*
H
, C
*
F
9
chung một đơn vị tiền tệ hay không). Sau đó, nếu nhƣ các thị trƣờng có cạnh
tranh thì kinh doanh chênh lệch giá ngụ ý rằng:
P
F
= P
*
F
/(1 – τ), (2)
P
H
= (1 – τ) P
*
H
. (3)
Do đó, nếu ta đặt p = P
F
/P
H
, và p
*
= P
*
F
/ P
*
H
,
p
*
*
*
2
)1(
H
H
F
H
C
C
C
C
( 6 )
Để minh họa, ta xem xét một trƣờng hợp cân đối đơn giản sau Y
H
= Y
F
,
thừa nhận C
H
/C
F
= C
*
F
/C
H
F
F
H
C
Cp
pC
C School of Finance, UEH
10
Vì vậy, ví dụ nhƣ không có chi phí mậu dịch (τ = 0), suy ra pC
F
/C
H
=
1. Nếu τ = 0.25 (…) và θ = 6, suy ra: C
H
/pC
F
= 4.2. Tỷ lệ này thì phù hợp
với những gì mà chúng tôi quan sát đƣợc ở nhiều quốc gia thuộc tổ chức hợp
tác và phát triển kinh tế và mức độ của xu hƣớng nội địa hóa có thể đƣợc mở
thể tất cả hàng hóa đều có cùng chi phí mậu dịch. Nó bỏ qua sự quan trọng
tiềm năng của sự thay thế giữa những yếu tố đầu vào nội địa và nƣớc ngoài
trong sản xuất. Tuy nhiên, nó minh họa ngắn gọn rằng một sự co giãn thay
thế cao có thể giải thích đƣợc một sự nội địa hóa thƣơng mại đƣợc quan sát
lớn nhƣ thế nào thậm chí với chi phí mậu dịch thấp. Đâu là giá trị hợp lý cho
những tham số τ và θ?
2.3 NHỮNG ƢỚC LƢỢNG THỰC NGHIỆM CỦA θ
School of Finance, UEH
11
Mặc dù những ƣớc lƣợng của θ nằm trong một giới hạn nào đó, nhƣng
những nghiên cứu gần đây về thƣơng mại đã tìm thấy những giá trị cho sự
co giãn của cầu nhập khẩu đối với giá cả (tính trên tất cả các hàng hóa trong
rổ hàng hóa tiêu dùng nội địa) thì nằm đâu đó trong khoảng giá trị từ 5 đến
6. Chẳng hạn nhƣ kể cả Trefler và Lai (1999), những ngƣời mà đã trình bày
với ban hội thẩm về những ƣớc lƣợng trong giai đoạn 1972 – 1992 cho một
ban hội thẩm của 28 ngành công nghiệp của 36 quốc gia. Dự đoán của họ
thiên về con số 5.3. Con số trung bình đó phản ánh độ co giãn của sự thay
thế phân tán đƣợc ƣớc lƣợng cao đến 21.4 (đối với ngành hóa học công
nghiệp), 18.9 (đối với ngành điện và máy điện tử), nhƣng cũng thấp đến 1.2
( đối với ngành in ấn xuất bản). Harrigan xem xét dữ liệu phân loại theo tiêu
chuẩn SITC 1983 (mã 3 chữ số) của 13 nƣớc OECD đại diện cho 90% sự
sản xuất của OECD và nhận thấy độ co giãn nằm trong phạm vi 5 – 12.
Phải công nhận rằng có nhiều giao dịch liên quan đến những ngành
công nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo. Có thể cố gắng để suy ra giá trị của
θ bằng cách xem xét sự gia tăng của giá cả vƣợt quá chi phí biên. Sử dụng
cách tiếp cận đó, Cheung, Chinn, and Fujii đã quan sát những dữ liệu bình
quân cấp 2 chữ số của ngành công nghiệp trong phạm vi những quốc gia
2.4 NHỮNG ƢỚC LƢỢNG THỰC NGHIỆM CỦA CHI PHÍ MẬU DỊCH
τ
Có một sự thiếu nhất trí về mức độ của chi phí mậu dịch, bao gồm
(trong số những thứ khác) hàng rào thuế quan và phi thuế quan và chi phí
vận chuyển. Năm 1993 trên nền tảng có trọng số của một nền sản xuất nội
địa, thuế suất trung bình của Mỹ là 4.9%, của liên minh Châu Âu là 7.7%,
của Nhật là 3.5%, của Canada là 8.9%
6
. Về phần hàng rào phi thuế quan,
những thống kê chính thức chỉ đƣa ra thông tin về sự tồn tại của chúng, còn
về tác động của chúng thì phải ƣớc lƣợng bằng cách sử dụng mô hình kinh
tế. Đối với thuế Anderson và Neary (1998) sử dụng một mô hình cân bằng
chung có thể tính toán đơn giản để ƣớc lƣợng mức thuế tƣơng ứng tƣơng
đƣơng với hàng rào phi thuế quan cho một phạm vi lớn các quốc gia, và một
cách tiêu biểu, họ đã tìm thấy những ƣớc lƣợng trong cùng tầm quan trọng,
School of Finance, UEH
13
dĩ nhiên là nó lớn hơn đối với một vài quốc (chẳng hạn nhƣ Nhật Bản) hơn
là những quốc gia khác (chẳng hạn nhƣ Mỹ). Kết quả này cũng phù hợp với
những ƣớc lƣợng về phƣơng trình thƣơng mại của Lee và Swagel (1997)
7
.
6. xem OECD (1996, bảng 1.1, dòng 9)
7. tuy nhiên, Harrigan (1993) nhận thấy rằng hàng rào phi thuế quan thì không quan trọng bằng thuế
và chi phí vận chuyển.
Những chi phí vận chuyển quốc tế khác nhau cũng là một yếu tố tiềm
8. nhớ lại rằng những dự đoán của Helliwell and McCallum sử dụng khoảng cách trong một nỗ lực
kiểm soát chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, khoảng cách địa lý là một sự đo lƣờng không hoàn hảo
của những chi phí này
9. Tác giả rất cảm ơn Robert Feenstra vì đã biên soạn những con số này căn cứ vào nhập khẩu hàng
hóa của Mỹ, cục điều tra dân số Mỹ. những ƣớc lƣợng đƣa ra chi phí vận chuyển nhƣ là một tỷ lệ
phần trăm của tổng giá trị nhập khẩu chƣa tính những khoản phí này. Quan trọng là những con số
này không đề cập đến vùng nội địa hay cảng biển mà chuyến hàng khởi hành từ (nơi xuất phát của
chuyến hàng) Bảng 1 PHÂN LOẠI HÀNG HÓA THEO TỶ SUẤT VẬN CHUYỂN - SUẤT CƯỚC
(MỸ, 1994)
a
Average freight rate
Hàng hóa thương mại
Trade-weighted
Unweighted
Tất cả hàng hóa
3.8
Thực phẩm chƣa chế biến
8.2
14.1
Thức uống và thuốc lá
6.9
14.4
Nguyên liệu thô
8.2
15.1
hóa). Chi phí chuyên chở không có trọng số thì căn cứ vào tất cả những hàng hóa đơn lẽ
đƣợc nhập khẩu
Những nhân tố khác nào có thể đƣợc bao gồm trong τ? Trong một bài
viết đối lập, Rose (2000) sử dụng mô hình trọng lực tranh luận rằng những
quốc gia với những liên minh tiền tệ trao đổi mua bán với nhau nhiều gấp 2
hay3 lần so với những quốc gia khác không sử dụng cùng một đồng tiền
chung. Tất nhiên, chi phí chuyển đổi tiền và sự không chắc chắn của tỷ giá
có thể đƣợc cộng vào chi phí mậu dịch. Trong khi tính biến thiên của tỷ giá
hối đoái có thể có những tác động xấu trực tiếp lên sự chu chuyển vốn, bất
kỳ một tác động tiêu cực trực tiếp nào đến dòng chảy mậu dịch đều dẫn đến
một sự gia tăng gián tiếp những bất hoàn hảo trong thị trƣờng vốn theo phân
tích của chúng tôi. Tƣơng tự đối với những chi phí thông tin đa dạng của
mậu dịch quốc tế, xem Rauch (1999) và Portes và Rey (1999) với những
thảo luận và những bằng chứng thực nghiệm
10
. Những khác biệt trong hệ
thống luật pháp và phƣơng thức chi trả có thể cũng đƣợc cộng vào τ.
Cuối cùng nhƣng cũng không kém phần quan trọng là phải nhấn mạnh
rằng những phân tích của chúng tôi giả định rằng không có sự hƣớng nội
trong sở thích. Giả định rằng chúng tôi thay thế hàm hữu dụng đại diện cho
mức tiêu dụng nội địa (1) bằng:
)1(//)1(/)1(
)(
FH
CCU
chúng tôi vẫn chú ý rằng những chi phí thƣơng mại có thể giải thích tốt cho
một số những vấn đề về thƣơng mại thực. Ví dụ, những giải thích đƣợc ƣa
chuộng của Trefler về (missing trade) vấn đề về thƣơng mại gián đoạn kết
hợp với những khác biệt trong năng suất trung lập Hicks (Hicks-neutral
productivity) đối với nhiều quốc gia với một sự hƣớng nội trong tiêu dùng
(thứ mà với mỗi thảo luận của chúng tôi ở trên có thể đã đƣợc suy ra từ chi
phí thƣơng mại). Deardorff (1998) chỉ rõ ra rằng với những chi phí vận
chuyển, những điều kiện tiêu chuẩn cho sự cân bằng giá cả yếu tố sản xuất
trong thế giới của Heckscher-Ohlin sụp đỗ , điều này cũng hàm ý đến sự
chuyên môn hóa lớn. Khi sự cân bằng giá cả nhân tố sản xuất thất bại thảm
hại trên thực tế, điều này hàm ý đến một vấn đề quan trọng khác có thể đã
đƣợc giải quyết một phần bởi chi phí vận chuyển
11
. Anderson (1979),
Deardorff (1998) và những ngƣời khác chỉ ra rằng chi phí vận chuyển có thể
giúp giải thích sức mạnh thực tiễn đáng ngạc nhiên về phƣơng trình trọng
School of Finance, UEH
17
lƣợng của dòng chu chuyển thƣơng mại .Không chỉ những chi phí thƣơng
mại giúp giải quyết một số các vấn đề trong dữ liệu, chúng còn có vẻ quan
trọng trong việc xác định những biểu hiện kinh tế. Radelet và Sachs (1998)
tranh luận rằng những quốc gia có chi phí chuyên chở cao do địa hình bất lợi
(ví dụ núi cao hay đƣờng vào cảng bị giới hạn) tăng trƣởng chậm hơn nhiều
11. “thƣơng mại gián đoạn” là cách mà Trefler mô tả cho những bí ẩn mà những nhân tố đƣợc quy
cho là chứa đựng trong thƣơng mại thì không có vẻ là tƣơng ứng với lợi thế cạnh tranh
so với những quốc gia có lợi thế vận chuyển tự nhiên. Cuối cùng chúng tôi
lƣu ý rằng những bằng chứng trong sự chênh lệch giá cả quốc tế dƣờng nhƣ 3. Vấn đề nan giải của Feldstein – Horioka
Hiện đã có không thiếu các giải thích cho lý thuyết nổi tiếng về vấn đề
nan giải trong tiết kiệm - đầu tƣ của Feldstein và Horioka (1980), với rất
nhiều bài viết về các chủ đề đã đƣợc xuất bản trong hầu hết các tạp chí hàng
đầu. Nhƣng vấn đề là trong số các giải thích đó , không có bất kì giải thích
nào (bao gồm cả nỗ lực của chúng tôi) thuyết phục một cách tuyệt đối .
Hầu hết các giải thích hợp lý, nhƣng thiếu kinh nghiệm và vẫn còn nhiều
phiền hà, có xu hƣớng tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử lý những vấn đề đó
. Thực tế , nguyên tắc đó dƣờng nhƣ không có đặc trƣng trong dữ liệu của
một quốc gia , điều này thể hiện những nhân tố bên trong ảnh hƣởng đến
thƣơng mại giữa các nƣớc phụ thuộc vào cách làm việc .
School of Finance, UEH
19
3,1 VẪN CÕN MỘT BÀI TOÁN :
Feldstein và Horioka đã thực sự chứng tỏ điều gì , tất nhiên, là trên
khắp các quốc gia OECD, xét trong một khoảng thời gian dài thì thì tỉ lệ tiết
kiệm nội địa trung bình là tương quan cao với một tỷ lệ tương tự trong đầu
tư nội địa trung bình . Quả thật vậy, trong các mẫu kiểm tra dữ liệu ban đầu
của Feldstein và Horioka, từ năm 1960 đến giữa những thập niên 1970 , hồi
qui chéo đầu tƣ theo tiết kiệm gần nhƣ là có cùng hệ số với nhau trong suốt
giai đoạn này . Sự thật là , hệ số Feldstein-Horioka này – đây là một cách
để giải thích nhƣ đo lƣờng hiệu quả của tỷ lệ tiết kiệm trên tỷ lệ đầu tƣ ,
56
0.15
0.41
0.33 (0.02)
(0.08)
Những quốc gia với GNP/đầu ngƣời > 1000
48
0.13
0.48
0.39 (0.02)
(0.09)
Những quốc gia với GNP/đầu ngƣời > 2000
41
0.07
0.70
0.62 (0.02)
(0.09)
Những nƣớc thuộc OECD
cao, hội nhập ; kinh doanh chênh lệch giá tài sản phi rủi ro đƣợc xuất hiện
gần nhƣ hoàn hảo. Chúng tôi rời khỏi nó để ngƣời đọc xem nguồn khác
(cho ví dụ , Obstfeld và Rogoff, 1996, Chƣơng 3) đánh giá các nỗ lực trƣớc
đó để giải thích vấn đề mà Feldstein-Horioka đƣa ra .
Một tài liệu tóm tắt về thƣơng mại mậu dịch thì có ít nhất là năm hoặc
sáu và nhiều hơn nữa các giải thích hàng đầu. Tất cả đều không có tính
thuyết phục - bởi vì một số chúng đƣợc dựa trên các giả định rất đặc biệt về
bản chất của các cú sốc ngoại sinh (ví dụ nhƣ, Obstfeld, 1986, hoặc
Mendoza, 1991), những giải thích khác thì lại mâu thuẫn với thực nghiệm .
Ví dụ, trong mô hình thông tin bất cân xứng của Gordon và Bovenberg
(1996), vấn đề "lemons" là để giải thích lý do tại sao nhà đầu tƣ nƣớc ngoài
ít đầu tƣ trong nƣớc.Tuy nhiên sự khởi đầu từ ngang bằng lãi suất có phòng
ngừa đƣợc giả định là ở đó không có bất kì dòng vốn cổ phần từ nƣớc ngoài
. Giải thích rằng cố gắng để duy trì giả định về luân chuyển đồng vốn hoàn
hảo thƣờng chứa đựng hàm ý tƣơng quan tiết kiệm - đầu tƣ trên khắp các
tiểu bang hoặc các khu vực trong một quốc gia. Tuy nhiên, các bằng chứng
không hoàn chỉnh sẵn có trên một phần tiết kiệm và đầu tƣ của các khu vực
bên trong quốc gia hiện không đơn giản chỉ ra kết quả nhƣ các nguyên tắc
của Feldstein - Horioka ; ví dụ, Helliwell (1998, Chƣơng 4). Chúng tôi đề
xuất ở đây một giải thích hoàn toàn mới, dựa trên chi phí giao dịch cho các
hàng hoá trong thƣơng mại quốc tế. Một đặc điểm hấp dẫn trong phƣơng
School of Finance, UEH
22
pháp của chúng tôi là cách tiếp cận của nó có vẻ để giúp giải quyết những
khẳng định rằng những lý luận cơ bản mà chúng tôi đƣa ra vẫn sẽ xuyên suốt
bài viết .
Các mô hình dƣới đây là hoàn toàn hợp tiêu chuẩn, ngoại trừ một lần
nữa chúng tôi sẽ chấp nhận chi phí "tảng băng trôi " của Samuelsonian
trong mậu dịch , do đó phần trăm chi phí τ của bất kì hàng hóa nào mất đi
trên đƣờng quá cảnh . Hàm hữu dụng đại diện cho tiêu dùng trong nƣớc là
u(C1) + δu(C2) ,
có tổng mức tiêu thụ thực tế C phụ thuộc vào tiêu thụ của hàng hóa nội địa
và hàng nhập khẩu , C
H
and C
F
, với tính co giãn không đổi của sự thay thế θ
nhƣ trong phƣơng trình (1). Các quốc gia nhỏ đƣợc cung cấp chỉ với hàng
hóa H , với Y
H,1
trong giai đoạn 1, và Y
H,2
trong giai đoạn 2. Hàng hóa F
luôn luôn phải đƣợc nhập khẩu (Sự cung cấp cả 2 loại hàng hóa trong nƣớc
thì không làm đảo lộn tranh luận của chúng tôi ). Một quốc gia thì nhỏ trong
trƣờng hợp hành động của nó không có ảnh hƣởng đến giá
*
H
P
và
*
F
P
của thế
Phân tích đòi hỏi có suy nghĩ cẩn thận về việc giới hạn ngân sách đối
với vấn đề đại diện . Tựu chung , bƣớc đầu tiên trong việc giới hạn ngân
sách có thể ghi bằng công thức :
111,1,1,1,1,1,
CPCPCPDYP
FFHHHH
P ở đây là giá trong nƣớc của hàng hóa H theo điều khoản đơn vị tiền tệ thế
giới , và D đƣợc vay mƣợn từ nƣớc ngoài . Tổng mức giá trong nƣớc theo
điều khoản đơn vị tiền tệ thế giới là :
)1/(1
11
FH
PPP
( 8 )
Bởi vậy , tổng mức tiêu thụ thực tế trong bất kì giai đoạn nào , tiêu
thụ của hàng hóa khu vực trong nƣớc và nƣớc ngoài là :
C
P
P
C
C
*)1( CPCPCPDrYP
FFHHHH
School of Finance, UEH
25
Kết hợp sự giới hạn ngân sách ở các giai đoạn , khắc phục khó khăn
ngân sách :
*1*1
2,2,
1,1,
22
11
r
YP
YP
r
CP
CP
HH
HH
3.4 LẠM PHÁT
Vì hàng hóa F luôn đƣợc nhập khẩu , giá trong nƣớc của nó là
)1/(
*
FF
PP
, cao hơn giá nƣớc ngoài ở cả 2 giai đoạn , theo phƣơng trình
(2 ) . Cùng lập luận , khi xuất khẩu hàng hóa H – nó phải ở mức giá thấp
nhất của một trong 2 giai đoạn – giá trong nƣớc của nó là
)1(
*
HH
PP
phải thấp hơn giá của nƣớc ngoài , nhƣ phƣơng trình (3) . Tuy nhiên , nếu
tổng chi tiêu quốc nội là cao tƣơng đối so với sản lƣợng trong bất kì giai
đoạn nào , có khả năng hàng hóa H sẽ đƣợc nhập khẩu hơn là xuất khẩu
(
HH
YC
) , trong trƣờng hợp đó , mức giá trong nƣớc
)1/(
*