Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 0
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 32 – HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH
CHO GIAI ĐOẠN KHỞI SỰ VÀ TĂNG TRƯỞNG GV : NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
HV : Nhóm 8 – K19 –Ngân hàng đêm 2
1/ La Kim Phụng
2/ Lê Thị Thu Hồng
3/ Trương Bích Liễu
4/ Nguyễn Thị Huệ
5/ Võ Thanh Đạt
6/ Nguyễn Phượng Liên
7/ Nguyễn Sơn Huy
8/ Đặng Tùng Linh
9/ Trần Nguyễn Nhã Khanh
10/ Nguyễn Ngọc Thanh Huyền
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 1
MỤC LỤC
4.2.5 Một số quỹ Đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 21
III. GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG 22
1. Đặc điểm doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng 22
2. Xác định rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính 23
3. Chiến lược tài chính cho giai đoạn tăng trưởng của doanh nghiệp 23
4. Tình huống nghiên cứu: phân tích tăng trưởng của Cty CP Vàng bạc Đá quý
Phú Nhuận (PNJ) 30
KẾT LUẬN 32
PHỤ LỤC 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
bất kỳ một doanh nghiệp nào. Do vậy, các nhà hoạch định t ài chính của doanh
nghiệp phải cân nhắc và đưa ra quyết định khi kết hợp cùng lúc cả ba chiến lược
này và đặt chúng một cách thích hợp trong từng giai đọan phát triển của doanh
nghiệp, cách thức kết hợp như thế được gọi là xây dựng chiến lược tài chính thích
hợp cho các doanh nghiệp trong các giai đoạn khởi sự, tăng trưởng, dung mãn (bảo
hòa) và suy thoái.
Trong phạm vi đề tài này chúng ta sẽ tìm hiểu đặc điểm doanh nghiệp của giai
đoạn khởi sự và tăng trưởng, từ đó xác định rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính trong
mối tương quan nghịch với rủi ro kinh doanh và đi đến xác định chiến lược tài
chính phù hợp cho mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 4
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Chiến lược tài chính là gì?
Chiến lược tài chính là việc thực hiện kết hợp 3 quyết định quan trọng của doanh nghiệp:
đầu tư, tài trợ, phân phối nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị cho doanh nghiệp, từ đó tối đa hóa thu
nhập cho chủ sở hữu doanh nghiệp.
Chiến lược tài chính được xây dựng cho từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp trong
chu kỳ sống.
Các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp:
Chiến lược tài chính xây dựng cho từng giai đoạn dựa vào mối tương quan nghịch giữa rủi
ro kinh doanh và rủi ro tài chính (chẳng hạn như từ giai đoạn khởi sự đến giai đoạn suy thoái, mức
độ rủi ro kinh doanh sẽ giảm dần, ngược lại rủi ro tài chính tăng dần)
Hoạch định chiến lược tài chính: là việc ra và thực hiện 3 quyết định đầu tư, tài trợ, phân
phối nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị cho doanh nghiệp, từ đó tối đa hóa thu nhập cho chủ sở hữu
doanh nghiệp, nhưng tùy thuộc vào giai đoạn nào mà một quyết định nào đó nổi lên giữ vai trò
quyết định cho giai đoạn đó.
Quyết định đầu tư: là quyết định mà kể từ sau khi xác lập lĩnh vực đầu tư, và từ lĩnh vực đầu
tư vốn cổ phần tăng trưởng.
2.3 Giai đoạn sung mãn (bão hòa)
Giai đoạn sung mãn (bão hòa) là giai đoạn có doanh số cao, tương đối ổn định
với biên lợi nhuận hợp lý.
Giá cổ phần cao, ổn định với biến động thấp.
Tỷ lệ chi trả cổ tức cao.
Giai đoạn này thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 05-07 năm.
2.4 Giai đoạn suy thoái
Giai đoạn suy thoái là giai đoạn nhu cầu về sản phẩm bắt đầu giảm, doanh thu
và lợi nhuận bắt đầu sụt giảm liên tục.
Giá cổ phần biến động theo chiều hướng giảm xuống.
Tỷ lệ chi trả cổ tức trong giai đoạn này rất cao.
Ở giai đoạn này, nếu công ty không có các biện pháp hoặc chiến lược để vực
dậy công ty khả năng công ty bị phá sản rất cao.
Như chúng ta đã biết, các nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp luôn
phải đối mặt với 3 quyết định quan trọng, đó là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ
và quyết định phân phối.Việc đưa ra các quyết định này phải được đặt thích hợp
trong từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp
Do đó chúng ta cần phải định vị được các giai đoạn phát triển của doanh
nghiệp để có thể đưa ra được các chiến lược tài chính phù hợp. Việc định vị các giai
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 6
đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng khơng ngồi mục tiêu hiểu rõ đặc điểm của
doanh nghiệp, của sản phẩm trong từng giai đoạn, những khó khăn, những thuận
lợi…từ đó xác định những rủi ro liên quan để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có
những biện pháp ứng phó thích hợp.
Sau khi chúng ta đã định vị đựoc doanh nghiệp đang trong giai đoạn nào của
chu kỳ sống thì các nhà quản trị sẽ đưa ra các chiến lựoc tài chính, và chiến lựoc
này dựa trên mối quan hệ tương quan nghịch giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Hình 1.1: Các giai
đo
ạn phát triển của doanh nghi
ệ
p
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 7
+ M ức độ của loại rủi ro này cao hay thấp là 1 phần do năng lực quản trị của
chủ doanh nghiệp quyết định.
+ Đây là loại rủi ro không thể triệt tiêu được.
+ Rủi ro kinh doanh đem đến sự bất ổn, không chắc chắn cho độ nhạy cảm
cho thu nhập hoạt động của doanh nghiệp (EBIT).
Rủi ro kinh doanh được đo lường bằng độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL)
DOL=Phần trăm thay đổi trong EBIT/Phần trăm thay đổi trong doanh thu
Nhân tố gây ra rủi ro kinh doanh:
+ Đặc điểm ngành
+ Tính biến đổi doanh số theo chu kỳ kinh doanh
+ Tính biến đổi của giá bán đơn vị
+ Tính thay đổi trong chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm (Biến phí)
+ Năng lực quản trị của lãnh đạo, trình độ của nhân viên
+ Vị trí địa lý của doanh nghiệp
+ Thương hiệu của doanh nghiệp
+ Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
+ Khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp
+ Tính đa dạng hóa về mặt sản phẩm
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL): Đòn bẩy kinh doanh liên quan đến
Hình 1.2:
Đo lư
ờng rủi ro tổng thể
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 9
3.2 Xây dựng chiến lược tài chính đặt trong mối quan hệ tương quan nghịch giữa
rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Do mục tiêu của các doanh nghiệp là gia tăng thu nhập cho chủ sở hữu doanh
nghiệp, gia tăng EPS và tài sản cổ đông nên các giám đốc tài chính thường kết hợp
việc sử dụng đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh. Tuy nhiên, khi việc sử dụng
đòn bẩy tăng lên, rủi ro cũng tăng lên.
Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy “quá mức” sẽ phải trả chi phí cao hơn cho
nợ và cổ tức ưu đãi. Các chi phí này sẽ bù trừ lợi nhuận đạt được từ việc sử dụng
đòn bẩy. Đồng thời việc sử dụng đòn bẩy “quá mức” sẽ làm giá trị thị trường của
doanh nghiệp sụt giảm.
Theo công thức: DTL = DOL x DFL, để đạt được mục tiêu gia tăng EPS và tài
sản cổ đông chúng ta phải giữ DTL ở một mức tối ưu, nghĩa là:
rủi ro này thể hiện ở khả năng sản xuất sản phẩm mới có thật sự hiệu quả, nếu thành
công ở khâu sản xuất sản phẩm thì sản phẩm ấy có được khách hàng đón nhận hay
không và nếu thị trường chấp nhận sản phẩm thì quy mô tăng trưởng của thị trường
có đủ để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất và đưa sản phẩm ra
thị trường?. Nếu tất cả những điều trên đạt được thì tồn tại một rủi ro khác là công
ty có thể chiếm lĩnh được thị trường hay không để có thể tiếp tục phát triển.
Dòng tiền giai đoạn này luôn âm hay nói cách khác doanh nghiệp luôn có
EBIT âm tức là doanh nghiệp kinh doanh luôn bị lỗ vì dòng tiền chi ra cho nghiên
cứu, đầu tư nhà xưởng, máy móc… là rất lớn trong khi dòng tiền vào không có
hoặc rất ít.
Đây là giai đoạn đem đến sự bất ổn cho EBIT.
2. Nghiên cứu mối tương quan nghịch giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài
chính làm nền tảng cho việc hoạch định chiến lược tài chính
Rủi ro kinh doanh giai đoạn khởi sự là cao nhất:
Doanh nghiệp không thể chắc chắn rằng sản phẩm mới của mình có hiệu quả
hay không, có được khách hàng chấp nhận hay không, nếu chấp nhận thì thị trường
có tăng trưởng đến một quy mô hiệu quả đủ cho các chi phí triển khai và đưa sản
phẩm ra thị trường không , doanh nghiệp có chiếm được thị phần hay không, có đủ
khả năng cạnh tranh với các công ty trong cùng lĩnh vực hay không?
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 11
Giai đoạn đầu tiên của doanh nghiệp mới đòi hỏi phải tốn khá nhiều chi phí để
đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để nắm bắt các sản phẩm mới, giai đoạn này đòi
hỏi doanh nghiệp phải bỏ chi phí nghiên cứu thị trường và sau đó nghiên cứu và
phát triển trước khi tạo ra bất kỳ một cơ hội sản phẩm thực sự nào. Dòng tiền chi ra
lớn trong khi dòng tiền thu vào thấp, do đó dòng tiền thuần của doanh nghiệp trong
giai đoạn này bị âm.
Đối với hầu hết các sản phẩm, các giai đoạn ban đầu nghiên cứu, sản xuất và
đưa sản phẩm bán ra thị trường, cũng là các kỳ dòng tiền chi ra âm. Các dòng tiền
Tóm lại, bất kỳ một sự gia tăng nào dù nhỏ bằng nợ vay cũng dẫn đến một tình
trạng khó khăn tài chính doanh nghiệp. Vì vậy lựa chọn hợp lý của doanh nghiệp là
vốn cổ phần, nhưng vấn đề đặt ra là loại vốn cổ phần nào sẽ phù hợp và khả thi.
Mối quan hệ tương quan nghịch giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính này
đòi hỏi rủi ro tài chính phải càng thấp càng tốt nếu muốn kiểm soát tốt rủi ro tổng
thể. Do vậy, một kết luận hợp lý là các doanh nghiệp mới khởi sự nên được tài trợ
bằng vốn cổ phần, nếu hoàn toàn không có tài trợ nợ thì càng tốt.
3. Chiến lược tài chính cho giai đoạn khởi sự của doanh nghiệp
Quyết định đầu tư
Để có thể triển khai thành công và đưa sản phẩm ra thị trường, trước hết doanh
nghiệp đã phải nghiên cứu lĩnh vực mà mình chuẩn bị đầu tư để có thể ra quyết đầu
tư đúng đắn. Sau khi đã có một quyết định đầu tư tối ưu, doanh nghiệp mới bắt tay
vào giai đoạn khởi sự. Giai đoạn này hình thành các rủi ro do đặc thù ngành chi
phối. Từ đó, buộc doanh nghiệp phải giải quy ết các vấn đề liên quan đến việc xem
sản phẩm của mình có được thị trường chấp nhận hay không, mức độ chấp nhận
như thế nào, khả năng canh trạnh ra sao.
Đối với hầu hết các sản phẩm, các giai đoạn ban đầu nghiên cứu, sản xuất và
đưa sản phẩm bán ra thị trường,cũng là các kỳ dòng tiền bị âm. Các dòng tiền thu
vào từ doanh thu không chỉ thấp mà còn chậm, trong khi các dòng tiền chi ra vẫn
tiếp tục bao gồm các chi phí cao khi đưa sản phẩm ra thị trường cũng như các chi
phí hoạt động phải chi ra thường xuy ên. Các chi phí này gồm những chi phí như chi
trả lương cho nhân viên, chi phí thuê mặt bằng, nhà xưởng, chi phí cho công việc
quảng bá tiếp thị sản phẩm và những chi phí khác. Vì vậy, dòng tiền của doanh
nghiệp trong giai đoạn này là âm ở mức cao.
Do quyết định đầu tư của mình đựoc thực hiện từ trước giai đoạn khởi sự và
đến bây giờ thì sản phẩm của doanh nghiệp mới bắt đầu đựoc mọi người chú ý quan
tâm đến, do đó doanh nghiệp cần toàn tâm toàn lực cho quyết định đầu tư ban đầu,
tức cho sản phẩm hiện có của công ty. Sau khi đạt đến một mức tăng trưởng nhất
định và chúng tiền đến giai đoạn bão hòa thì doanh nghiệp sẽ tìm ra 1 quyết định
đầu tư mới để thay thế cho sản phẩm cũ đang có xu hướng giảm trong tưong lai gần.
thông thường nào đồng ý tài trợ. Mặc khác, doanh nghiệp trong giai đoạn này cũng
chưa đủ điều kiện để được niêm yết tren thị trường chứng khoán, không thể phát
hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng để thu hút vốn.
Doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự chưa thể chia cổ tức do EBIT âm, hoạt
động luôn trong tình trạng lỗ, doanh nghiệp do đặc thù trong giai đoạn khởi sự rủi
ro kinh doanh rất cao nên phải có rủi ro tài chính thấp hoặc không có rủi ro t ài
chính, nhưng doanh nghiệp không thể phát hành cổ phần ra công chúng vì những
rang buộc pháp lý và chi phí phát hành cao. Vì thế doanh nghiệp phải tìm được nhà
đầu tư phù hợp trong giai đoạn này. Trong khi đó, những nhà đầu tư vốn mạo hiểm
với “khẩu vị”: thích mạo hiểm, thích rủi ro cao, thời gian đầu tư ngắn, không cần
chia cổ tức, đầu tư nhắm vào thặng dư cao, dám chấp nhận đầu tư vào công ty nếu
công ty có thể chứng minh được khả năng tăng trưởng lớn của mình trong tương lai.
Vì thế nhà đầu tư mạo hiểm hoàn toàn phù hợp với doanh nghiệp khởi sự.
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 14
Khi bỏ vốn đầu tư vào công ty, các nhà đầu tư mạo hiểm t ất nhiên sẽ đòi hỏi
một tỷ suất sinh lợi rất cao để bù đắp cho những rủi ro họ phải gánh chịu khi đầu tư
vào công ty. Dòng tiền trong những năm đầu của công ty sẽ rất thấp, thậm chí âm
nên họ sẽ khó có khả năng nhận được cổ tức trong giai đoạn này. Các nhà đầu tư
vốn mạo hiểm sẽ chỉ có thể đạt được tỷ suất sinh lợi cao thông qua phần lãi vốn, là
phần tăng thêm của giá trị cổ phần sau này so với giá trị ban đầu của chúng.
Chính vì vậy, trong giai đoạn khởi sự quyết định tài trợ là quan trọng nhất và nguồn
tài trợ thích hợp là từ vốn mạo hiểm
Các nhà đầu tư vốn mạo hiểm
Doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự là những doanh nghiệp có rủi ro cao,
nên việc chấp nhận đầu tư vào những công ty này đòi hỏi một sự phân tích kỹ của
các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư quyết định tài trợ cho các công ty vào giai đoạn
này thường đòi một tỷ suất sinh lợi tương xứng với rủi ro mà họ phải gánh chịu,
những nhà đầu tư này đa phần là những nhà đầu tư mạo hiểm. Đầu tư cổ phần vào
các nhà đầu tư khác trước khi công ty mới khởi sự chuyển sang giai đoạn phát sinh
dòng tiền dương.
Các nhà đầu tư vốn mạo hiểm là các nhà đầu tư chấp nhận mức rủi ro cao để
tìm một vị trí vốn chủ sở hữu trong một công ty ở giai đoạn khởi sự hoặc phát triển
ban đầu có nhiều tiềm năng. Đổi lại với số vốn đầu tư đó, nhà đầu tư vốn này sẽ
được nhận một tỷ lệ đáng kể về quyền sở hữu doanh nghiệp và vị trí trong hội đồng
quản trị. Những nhà cấp vốn này tham gia nhiều vào việc quản lý chiến lược của
công ty non trẻ mà họ đầu tư và thường là cầu nối giữa công ty này với các nhà
cung ứng cũng như các đồng minh kinh doanh tiềm năng. Trong nhiều trường hợp,
họ tuy ển chuyên gia quản lý và kỹ thuật mà công ty này cần để thành công.
Nhà cấp vốn mạo hiểm không bằng lòng với tỷ lệ sinh lời hàng năm 15 đến
20% - một tỷ lệ vẫn làm hài lòng các nhà đầu tư cổ phiếu thường. Ý thức được tiếng
nói của mình trong nhiều thương vụ, họ chờ đợi một tỷ lệ sinh lời lớn trên việc đầu
tư rủi ro. Nhìn chung, những nhà đầu tư vốn mạo hiểm này tìm các công ty nhỏ có
tiềm năng sinh lời mười lần số vốn đầu tư rủi ro của họ trong vòng từ 3 đến 5 năm.
Thường thì lối ra khả dĩ hấp dẫn nhất cho các đầu tư vốn mạo hiểm là phát hành ra
công chúng chứng khoán của công ty trên thị trường chứng khoán và tiến đến cơ hội
kế tiếp.
Quyết định phân phối
Khi đầu tư vào doanh nghiệp các nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi
tương xứng. Trên lý thuyết các nhà đầu tư sẽ không quan tâm đến việc họ sẽ nhận
cổ tức hay đạt được thu nhập qua lãi vốn . Với tình hình tài chính của một công ty
mới khởi sự, chính sách cổ tức đề nghị là tỷ lệ chi trả cổ tức bằng không. Dòng tiền
của một doang nghiệp mới thành lập thường là âm ở mức cao, doanh nghiệp hoạt
động luôn trong tình trạng lỗ và cần các nguồn tiền mới cho các cơ hội đầu tư có
sẳn của công ty. Bởi vậy doanh nghiệp không có tiền để chia cổ tức, thậm chí có
tiền cũng không chia vì phải để phục vụ cho giai đoạn tăng trưởng.
Nếu chiến lược tài trợ bằng nợ vay được kết luận là không thích hợp, thì chi
trả cổ tức phải tài trợ bằng vốn cổ phần, tức là nếu các nhà đầu tư đòi hòi cổ tức, họ
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Rủi ro tài chính Rất thấp
Nguồn tài trợ Vốn mạo hiểm
Chính sách cổ tức Tỷ lệ trả cổ tức: 0
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 17
Triển vọng tăng trưởng tương lai Rất cao
Tỷ số giá thu nhập (P/E) Rất cao
EPS Danh nghĩa hoặc âm
Giá cổ phần Tăng nhanh hoặc biến động cao
4.Nghiên cứu thêm về đầu tư mạo hiểm
4.1 Đầu tư mạo hiểm
Đầu tư mạo hiểm (Venture capital) là phương thức mà theo đó, nhà đầu tư hay
những tổ chức chuyên môn hóa rót vốn vào những doanh nghiệp mới thành lập,
chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, có tốc độ tăng trưởng cao và thường sử
dụng các công nghệ mới, hiện đại… đang cần tài trợ để phát triển sản phẩm hoặc
quá trình tăng trưởng.
Gọi là “ nguồn vốn mạo hiểm” bởi:
- Các công ty được đầu tư không cần một khoản đặt cọc hay kí quỹ nào. Việc
rót vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm dự a vào sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành
công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ giám đốc công ty.
- Các quỹ đầu tư tham gia vào việc kiểm soát và điều hành công ty. Họ tư vấn
ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ các công ty trong quản lý, xây dựng thương
hiệu, phát triển thị trường…Vì vậy họ có thể gặp rủi ro, bị mất khoản đầu tư nếu
công ty bị phá sản. Tuy nhiên, điều này ít xảy ra và họ thường đạt tỷ suất lợi nhuận
từ 35- 50%.
3 giai đoạn thực hiện đầu tư mạo hiểm
Một dự án đầu tư mạo hiểm thông thường kéo dài từ 7 đến 10 năm, được thực
hoạt động kinh doanh, tạo sản phẩm mới…
Bước 3: Kết thúc đầu tư, hay thu hồi vốn. Các khoản đầu tư được thu hồi qua
4 kênh chính là: Chứng khoán bán cho công chúng lần đầu, bán cổ phần cho nhà
đầu tư khác, bán lại cổ phần cho doanh nghiệp và bán doanh nghiệp cho doanh
nghiệp khác.
4.2. Vốn mạo hiểm
4.2.1 Vốn mạo hiểm là gì?
Vốn đầu tư mạo hiểm là một trong 4 loại vốn đầu tư trực tiếp được dùng để đầu tư vào các
công ty có sản phẩm hoặc nguồn thu nhập tiềm năng, nhưng chưa hoặc đang triển khai và thường
các công ty này là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bỏ vốn ra, các nhà đầu tư mạo hiểm đồng thời
thực hiện việc hỗ trợ điều hành các công ty này.
Có một định nghĩa về vốn mạo hiểm được chấp nhận rộng rãi là:
Vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hóa thực hiện tới những hãng
tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát
triển sản phẩm hoặc tăng trưởng. Vốn mạo hiểm được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau,
trong đó điển hình nổi bật là việc tài trợ thông qua quỹ đầu tư mạo hiểm. Về bản chất, đó là một
quỹ đầu tư nhưng mục tiêu hoạt động của họ là nhắm vào những dự án có độ rủi ro cao nhằm tìm
kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức thông thường. Tham gia vào quá trình này có 3 đối
tượng chủ yếu: nhà đầu tư – người bỏ vốn nhưng không trực tiếp quyết định đầu tư; nhà tư bản
mạo hiểm – người đứng ra huy động vốn, quản lý nó và trực tiếp quyết định nên đầu tư vào đâu
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 19
nhằm mục đích sinh lợi tối đa; còn lại chính là các đối tượng nhận đầu tư: những công ty trẻ, những
dự án về sản phẩm dịch vụ công nghệ mới đầy tiềm năng…
4.2.2 Những ưu thế của vốn mạo hiểm so với các nguồn vốn khác
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có nhu cầu vốn. Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng dưới bất
kỳ hình thức nào là điều khó khăn. Yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như các quy định trong thẩm
định khác đã không tạo cơ hội cho các công ty. Có 4 điểm chính tạo nên khoảng cách giữa ngân
hàng với các doanh nghiệp: tài sản thế chấp, ấn tượng không tốt do nhận định, quy mô nhỏ gắn liền
tích thị trường, định giá rủi/ro lợi nhuận và tăng cường bổ sung vào công tác quản
lý.
- Kế hoạch kinh doanh: Quy trình tham gia vốn mạo hiểm cũng đảm bảo rằng
doanh nhân có suy nghĩ đúng đắn và kế hoạch của họ được xây dựng cụ thể với kế
hoạch kinh doanh được chuẩn bị đầy đủ rõ ràng.
- Thông tin: nhà đầu tư mạo hiểm giữ vai trò của người cung cấp thông tin
bằng những nỗ lực thu thập thông tin. Họ có khả năng tập hợp thông tin với chi phí
thấp hơn các nhà đầu tư khác.
- Danh tiếng: Vốn mạo hiểm cung cấp cho doanh nghiệp danh tiếng, uy tín,
những thứ được xem là một loại tài sản vô hình và rất có giá trị khi giao dịch với
khách hàng.
4.2.4 Các điều kiện thu hút được vốn mạo hiểm
- Đội ngũ lãnh đạo: Là những người nắm tỷ lệ sở hữu lớn, có tâm huyết với sự
phát triển của công ty. Họ phải là những người có năng lực , kinh nghiệm, được
chứng minh thông qua những thành tích trong việc điều hành công việc kinh doanh
của công ty
- Sản phẩm dịch vụ: Độc đáo, mang lại lợi ích cho khách hàng, có sự khác biệt
so với sản phẩm cùng loại, có triển vọng phát triển lâu dài trong tương lai Đặc
biệt, sản phẩm dịch vụ phải được công nhận bản quyền, bằng phát minh sáng chế
- Mô hình kinh doanh: Mô hình hiệu quả, tính toán rõ ràng được mức lợi
nhuận và hoạch định các chiến lược cho dịch vụ, sản phẩm của mình trong các giai
đoạn
- Thị trường: Có kế hoạch thăm dò thị trường, xác định nhu cầu, mức tiêu thụ,
khách hàng tiềm năng và đối thủ cạnh tranh Từ đó xác định thị trường mục tiêu,
đề ra chiến lược vượt trội đối thủ, có phương hướng mở rộng thị trường trong tương
lai.
- Quản lý tài chính: Báo cáo tài chính minh bạch, các tính toán về lợi nhuận,
kế hoạch quản lý, sử dụng nguồn tài chính hiệu quả
- Pháp lý: Chuẩn bị chu đáo về các điều khoản đầu tư giữa hai bên, tránh
2006. Cho đến cuối năm 2008, LẠC VIỆT đã có khoảng 300 nhân viên ở 3 văn
phòng tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Doanh thu của Lạc Việt đã tăng
262% trong suốt thời gian Quỹ M ekong Enterprise đầu tư vào công ty.
Đối với Phở 24, so với tháng 6/2003 mới thành lập 1 cửa hàng đầu tiên thì
đến tháng 12/2009 tổng số cửa hàng là 80 (hơn 40 cửa hàng ở Tp. HCM ) với 15 cửa
hàng ở nước ngoài (Indonesia, Campuchia, Hàn Quốc, Philippines và Úc…). Mục
tiêu trong năm 2010 là mở cửa hàng tại Trung Quốc và Nhật bản, năm 2012 là đạt
200 cửa hàng.
Hiện nay, cả 2 công ty trên đều phát triển và đang trong giai đoạn tăng trưởng.
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 22
III. GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG
1. Đặc điểm doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng
Nếu như ở giai đoạn khởi sự doanh nghiệp tìm mọi cách để thị trường chấp
nhận sản phẩm của mình thì ở giai đoạn tăng trưởng doanh nghiệp tìm cách để
giành thị phần, chiếm lĩnh thị phần sau khi thị trường đã chấp nhận sản phẩm của
mình.
Ở giai đoạn này, doanh nghiệp đã trải qua "những năm chập chững biết đi"
và nay phát triển thành một "đứa trẻ" thực sự. Lúc này doanh nghiệp đã thật sự hiện
hữu chứ không phải chỉ là kế hoạch kinh doanh mơ hồ không chắc chắn, cũng như
không còn là khái niệm về s ản phẩm, những ý tưởng kinh doanh giống như giai
đoạn khởi sự nữa. Các khoản doanh thu và khách hàng đang tăng lên điều đó đồng
nghĩa với sự xuất hiện của những thời cơ mới cũng như những thách thức mới. Lợi
nhuận tăng trưởng kéo theo tính cạnh tranh cũng tăng.
Trong giai đoạn này rủi ro kinh doanh có giảm so với giai đoạn khởi đầu.
Bởi vì lúc này sản phẩm của công ty đã được chứng minh và ít nhất đã có một số
khách hàng chấp nhận sản phẩm này, và hiện tại công ty cũng hiện hữu thật sự chứ
không chỉ là kế hoạch kinh doanh và khái niệm sản phẩm như trước đây.
Tuy nhiên, rủi ro kinh doanh vẫn còn cao trong suốt thời gian doanh số tăng
Chiến luợc tài chính cho giai đoạn này thể hiện rõ sự kết hợp cho 3 quyết
định: Quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, quyết định phân phối nhằm tối đa hóa
giá trị doanh nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến quyết định tài trợ.
Quyết định đầu tư
Doanh số của doanh nghiệp ở giai đoạn này đã cao hơn so với giai đoạn khởi
sự, từ đó phát sinh dòng tiền mạnh hơn nhiều so với giai đoạn trước nên doanh
nghiệp có thể sử dụng một ít vốn để đầu tư. Doanh nghiệp sẽ đầu tư thêm cho hoạt
động phát triển thị trường, tiếp thị, mở rộng thị phần, mở rộng mạng lưới chi nhánh,
đại lý cũng như các nhu cầu đầu tư cần thiết khác để theo kịp mức độ hoạt động
ngày càng gia tăng của doanh nghiệp.
Cần lưu ý là trong giai đoạn này đã có sự khác biệt giữa giai đoạn tăng
trưởng và giai đoạn khởi sự: ý đồ chiến lược của doanh nghiệp đã thay đổi: theo
suốt giai đoạn khởi sự, phần hết các doanh nghiệp đều tập trung vào các nghiên cứu
phát triển trong khi ở giai đoạn này thì lại đầu tư thêm nhiều cho hoạt động phát
triển thị trường và mở rộng thị phần, từ đó cho thấy giai đoạn này cần rất nhiều vốn
cho đầu tư.
Quyết định tài trợ
Từ giai đoạn khởi sự chuyển sang giai đoạn tăng trưởng: nhà đầu tư vốn mạo
hiểm rút đi nên cần có sự chuyển hóa vốn giữa nhà đầu tư mạo hiểm sang nhà đầu
tư vốn cổ phần mới. M ặc khác, giai đoạn này công ty cũng đã có đủ điều kiện niêm
Chương 32: Hoạch định chiến lược tài chính trong giai đoạn khởi sự và tăng trưởng
Nhóm 8 – Cao học K19 – Ngân hàng đêm 2 Trang 24
yết trên thị trường chứng khoán và do vị thế của công ty đã được khẳng định trên thị
trường nên nhiều nhà đầu tư thông thường cũng có thể biết đến và thấy được triển
vọng tăng trưởng của công ty.
Giai đoạn này mức độ rủi ro kinh doanh đã giảm bớt nhưng vẫn còn rất cao,
vì vậy chưa nên đưa nợ vào. Do đó, cầu trúc vốn tối ưu giai đoạn này là tài trợ hoàn
toàn bằng vốn cổ phần.
Nguồn tài trợ