TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU Đ ẠI HỌC
*** CHƯƠNG 32: HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH
Giai đoạn Sung mãn & Suy thoái
GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Nhóm thực hiện: Nhóm 9 - Lớp NHĐêm 2&3 K19
Danh sách nhóm:
1. Hoàng Sơn 7. Nguyễn Duy Sơn
2. Phan Trường An 8. Nguyễn Hữu Châu Sơn
3. Vũ Thị Nguyệt Tú 9. Vũ Thị Thu Trang
4. Trọng Thị Thu Nga 10. Nguyễn Thị Bích Tâm
5. Nguyễn Anh Nhã Phi 11. Đàm Thị Hương Trang
6. Trần Võ Thị Hương Thủy 12. Nguyễn Thanh Minh Phúc
*****
TP Hồ Chí Minh
Tháng 07 Năm 2010 MỤC LỤC
2.5. Các chiến lược tài chính khác để trì hoãn cái
2.6. chết hoặc tránh được cái chết 20
ờ
i gianđể triển khai, đưa sản phẩm ra thị trường. Nếu tất cả những điều trên đều đạt được
thì cũng không chắc doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh được thị phần trong giai đoạn
này.
Trong giai đoạn khởi sự, dòng tiền của doanh nghiệp luôn âm. Nói cách
khác, doanh nghiệp có EBIT < 0, tức hoạt động kinh doanh bị lỗ. Nguyên nhân là
không thể có doanh thu, hoặc doanh thu rất thấp, trong khi dòng tiền chi ra rất lớn
cho hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm, đầu tư máy móc thiết bị nhà
xưởng
Như vậy, giai đoạn này rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp là rất cao
(cao nhất trong 4 giai đoạn), các quyết định tài trợ phải hướng đến rủi ro tài chính
thấp, thậm chí rủi ro tài chính bằng 0.
1.2. GIAI ĐO ẠN TĂNG TRƯỞNG
Giai đoạn này doanh nghiệp đã thật sự hiện hữu, chứ không chỉ là kế hoạch
kinh doanh và khái niệm sản phẩm như giai đoạn nguồn tài trợ ban đầu. M ột khi đã
tạo được nhu cầu sử dụng sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường, doanh nghiệp sẽ
có được nguồn thu nhập ổn định và ngày càng gia tăng (tăng trưởng doanh số
cao), tỷ suất sinh l ợi rất cao và có thể tăng trên 100%/năm.
Trong giai đoạn doanh số tăng trưởng nhanh này, rủi ro kinh doanh dù đã
giảm bớt so với giai đoạn mới khởi sự nhưng vẫn còn cao. Trong giai đoạn khởi
sự, mục tiêu của doanh nghiệp là làm thế nào để thị trường chấp nhận sản phẩm
của mình, thì đến giai đoạn này, mục tiêu của doanh nghiệp là dành và chiếm lĩnh
thị phần. Để đạt được điều này là không đơn giản. Khi có sự gia nhập ngành mạnh
mẽ, một sự chậm trễ trong việc đưa sản phẩm ra thị trường có thể tạo nên rất nhiều
tốn kém nếu một đối thủ cạnh tranh có thể xác lập thị phần của họ trước.
1.3. GIAI ĐO ẠN BÃO HÒA (SUNG MÃN)
Ở giai đoạn này, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong cùng
việc sắp xếp các nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh doanh của từng thời
kỳ. Nắm bắt được quy luật phát triển theo vòng đời của doanh nghiệp sẽ giúp nhà
quản trị có được những chính sách tài chính thích hợp cho từng giai đoạn, giúp doanh
nghiệp duy trì sự phát triển và tồn tại trong thời gian lâu nhất có thể.
2. NGHỊCH LÝ RỦI RO K INH DOANH VÀ RỦI RO TÀI CHÍNH
Nghiên cứu mối tương quan nghịch giữa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính là
nền tảng để hoạch định chính sách tài chính trong từng giai đoạn của chu kỳ sống của
doanh nghiệp.
2.1. RỦI RO KINH DOANH
Rủi ro kinh doanh là rủi ro do đặc thù của ngành kinh doanh.
Các yếu tố tác động đến rủi ro kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng
ngành là giống nhau; Các yếu tố t ác động đến rủi ro kinh doanh giữa các ngành
là khác nhau; Các nhân tố tác động đến rủi ro kinh doanh trong từng giai đoạn
của chu kỳ sống của một doanh nghiệp cũng khác nhau.
Rủi ro kinh doanh gắn với tính khả biến và tính không chắc chắn trong EBIT của
một doanh nghiệp. Rủi ro kinh doanh được đo lường bằng hệ số phương sai của
EBIT theo thời gian.
Phương sai (EBIT) = độ lệch chuẩn / EBIT mong đợi.
Rủi ro kinh doanh có tính vĩnh viễn, không thể triệt tiêu được.
1. Rủi ro kinh doanh do nhiều yếu tố gây ra:
Tính khả biến của doanh số theo chu kỳ kinh doanh: doanh số có khuynh
hướng dao động lớn thường có nhiều rủi ro kinh doanh hơn.
Tính biến đổi của giá bán: giá cả trong ngành càng cạnh tranh nhiều giả cả
không ổn định doanh thu cũng không ổn định rủi ro kinh doanh càng lớn.
Tính biến đổi của chi phí: tính biến đổi trong chi phí của các yếu tố dùng để sản
xuất các sản phẩm của doanh nhiệp càng cao rủi ro kinh doanh càng lớn.
nói cách khác làm gia tăng rủi ro tài chính.
DFL = Phần trăm thay đổi trong EPS / Phần trăm thay đổi trong EBIT
Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp có thể rất thấp hoặc thậm chí bằng 0.
Tùy vào mức độ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn của chu kỳ
sống, mà nhà quản trị có thể quyết định mức độ chấp nhận được của rủi ro tài chính.
2.3. NGHỊCH LÝ RỦI RO KINH DOANH, RỦI RO TÀI CHÍNH
Đòn bẩy tổng hợp (DTL) xảy ra khi doanh nghiệp sử dụng cả hai đòn bẩy kinh
doanh và đòn bẩy tài chính trong nỗ lực gia tăng thu nhập cho cổ đông. DTL tiêu biểu
cho sự gia tăng (sụt giảm) của doanh thu thành gia tăng (sụt giảm) tương đối lớn trong
thu nhập mỗi cổ phần.
DTL = Phần trăm thay đổi trong EPS / Phần trăm thay đổi trong doanh thu
DTL = DOL x DFL
Điều này có nghĩa là, nếu rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đang được đánh
giá là cao, thì để giữ cho rủi ro tổng thể của doanh nghiệp không thay đổi, doanh
nghiệp phải giảm rủi ro t ài chính xuống thấp.
Hoặc ngược lại, nếu rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp thấp, thì doanh nghiệp
có thể chấp nhận một rủi ro tài chính cao để tận dụng những lợi thế của “tấm chắn
thuế” hoặc có những chính sách tài trợ phù hợp cho giai đoạn sống hiện tại của doanh
nghiệp.
Điều này cũng có nghĩa là rủi ro kinh doanh sẽ gắn liền với quyết định đầu
tư và rủi ro tài chính sẽ gắn liền với quyến định tài trợ.
Giả định như doanh nghiệp đang ở giai đoạn bão hòa (bão hòa), rủi ro kinh
doanh ở giai đoạn này không cao như các giai đoạn trước vì biên lợi nhuận (EBIT) đã
ổn định, dòng tiền dương đáng kể (do tăng trưởng doanh thu trong giai đoạn tăng
trưởng và không có nhiều dự án đầu tư trong giai đoạn này). Lúc này, doanh nghiệp
có thể chấp nhận một mức rủi ro tài chính cao hơn, bằng cách sử dụng tài trợ nợ vay
1. HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH GIAI ĐOAN BÃO HÒA
1. ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH GIAI ĐOẠN BÃO HÒA
a. Doanh nghiệp đã có một thị phần tương đối tốt, ổn định (do kết quả đầu tư
của công ty trong hoạt động tiếp thị ở giai đoạn tăng trưởng).
b. Tuy nhiên, do có sự cạnh tranh giá cả mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp vẫn
còn năng lực cạnh tranh đáng kể và cầu về sản phẩm đã bắt đầu bão hòa, nên
doanh thu trong giai đoạn bão hòa tuy vẫn còn ở mức cao nhưng về tốc độ
tăng, đã không còn nhanh như ở giai đoạn tăng trưởng mà tương đối ổn định
với một biên l ợi nhuận hợp lý.
c. Sự ổn định của EBIT, hay nói cách khác là rủi ro kinh doanh của doanh
nghiệp đang ở giai đọan bão hòa đã giảm xuống mức trung bình (chứ không
còn cao như các giai đoạn trước).
d. Khi chuyển sang giai đoạn sung mãn thì nhu cầu đầu tư vào sản phẩm hiện
hữu giảm dần, dòng tiền của doanh nghiệp chuyển sang trạng thái dương
và lượng tiền mặt dư thừa đáng kể.
e. Đã có sự thay đổi trong trọng tâm quản lý của doanh nghiệp từ chiếm lĩnh thị
phần sang mục tiêu duy trì một cách có l ợi nhất một mức doanh số đạt
được, hay nói cách khác là duy trì thị phần.
f. Đây là giai đoạn thứ ba trong chu kỳ sống của một doanh nghiệp. Giai đoạn
kế tiếp là suy thoái (giai đoạn chết của doanh nghiệp). Đối với doanh nghiệp
còn có ý định tiếp tục duy trì sự sống, thì phải chuẩn bị ý tưởng về một sản
phẩm mới thay thế sản phẩm hiện hữu để tránh “cái chết” của doanh
nghiệp khi sản phẩm hiện hữu đi vào “cái chết”. Doanh nghiệp cần lập một
danh mục các sản phẩm đầu tư.
2. ĐÁNH GIÁ RỦI RO KINH DOANH VÀ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG
GIAI ĐOẠN BÃO HÒA:
“Rủi ro kinh doanh TRUNG BÌNH, Rủi ro tài chính TRUNG BÌNH”
Khi giai đoạn tăng trưởng đã hoàn tất một cách thành công, doanh nghiệp bước
vào giai đoạn bão hòa, thì rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp cũng theo chiều hướng
ĐẦU TƯ SẢN PHẨM MỚI.
Chính sách tài trợ: chuyển từ CẤU TRÚC VỐN 100% VỐN CỔ
PHẦN (2 giai đoạn đầu của chu kỳ sống) sang C ẤU TRÚC VỐN CÓ
SỬ DỤNG NỢ.
Chính sách phân phối: CHI TRẢ CỔ TỨC CAO
QUYẾT Đ ỊNH TÀI TRỢ BẰNG NỢ VAY
Tài trợ bằng nợ vay trong giai đoạn này khá hợp lý, vì dòng tiền thuần sẽ
chuyển sang dương một cách đáng kể, cho phép trả cả lãi lẫn vốn cho nợ vay (khả
năng thanh toán lãi vay). Hơn thế nữa, việc sử dụng nợ trong giai đoạn này sẽ tạo ra
hiệu quả sinh lợi từ tấm chắn thuế, làm khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu, vì chi phí kiệt quệ tài chính thời điểm này là không đáng kể.
Doanh nghiệp có sử dụng nợ = Doanh nghiệp không sử dụng nợ + Lợi ích từ
tấm chắn thuế - Chi phí kiệt quệ tài chính – Chi phí đại diện.
Như vậy, vấn đề ở đây là việc sử dụng nợ trong giai đoạn mà dòng tiền thuần
dương này để làm gì? Trong giai đoạn bão hòa, với mức độ rủi ro kinh doanh ở mức
trung bình, doanh nghiệp có thể sử dụng t ài trợ Nợ cho 2 mục đích sau đây:
1. Chia cổ tức: Trong giai đoạn bão hòa, doanh nghiệp đã có một dòng tiền
thuần dương đủ để đảm bảo khả năng chi trả cổ tức cao cho các cổ đông.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng Nợ để chia cổ tức, tức là thực
hiện trò chơi “chuyển dịch rủi ro từ chủ sở hữu sang cho chủ nợ”. Trong
trường hợp này, doanh nghiệp cần phải tính toán đến cái được, cái mất.
2. Tái đầu tư sản phẩm mới: để tránh “cái chết” có thể xảy ra, doanh nghiệp
sử dụng tài trợ Nợ nhằm mục tiêu đa dạng hóa đầu tư, chuyển sang đầu tư
một sản phẩm khác.
GI
Ả
M Đ
đoạn trước. Vì nếu để cho các cổ đông (đặc biệt là các cổ đông nhắm vào lãi vốn) giữ
các kỳ vọng về tăng trưởng tương lai cao quá lâu, giá cổ phần có thể tăng quá cao
trong niềm hy vọng hão huyền là mức tăng trưởng này sẽ được tiếp tục, trong khi điều
này có thể sẽ không đạt được. Khi nhận ra sai lầm của mình, phản ứng chủ yếu của
các thị trường chứng khoán sẽ là hành động ngược lại một cách thái quá, vì vậy giá cổ
phần thường có thể sụt giảm một cách đáng kể khi tăng trưởng dự kiến rõ ràng là sẽ
không thể đạt được.
Ngoài ra, đối với những nhà đầu tư nhắm vào cổ tức thì một chính sách chi trả
cổ tức cao vào giai đoạn này sẽ tránh cho cổ đông phải chờ đợi quá lâu để nhận được
thu nhập từ sự đầu tư của họ. Từ đó, hạn chế được những tác động thái quá của cổ
đông có thể làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Doanh nghiệp chi trả cổ tức cao từ nguồn nào? Lợi nhuận sau thuế cao và ổn
định trong giai đoạn bão hòa sẽ tạo ra một dòng tiền dương sẵn sàng đảm bảo cho
doanh nghiệp có khả năng chi trả cổ tức cao cho các cổ đông. Bây giờ, doanh nghiệp
có khả năng hỗ trợ cho một mức cổ tức cao liên tục và bằng tiền mặt cần để chi trả các
cổ tức này cũng có sẵn từ chính bản thân doanh nghiệp. Ngoài ra, nợ vay cũng là một
nguồn để chi trả cổ tức trong giai đoạn này.
Bên cạnh việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt như trên, doanh nghiệp có thể thực
hiện việc mua lại cổ phần của chính mình với nhiều yếu tố tích cực hơn là tiêu cực.
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH Đ ẾN TỶ SỐ GIÁ THU
NHẬP (P/E), GIÁ CỔ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong giai đoạn bão hòa, tỷ số giá thu nhập (P/E) của doanh nghiệp sẽ giảm
đến mức trung bình do thị trường tái thẩm định tiềm năng tăng trưởng trong tương lai
của doanh nghiệp ở mức trung bình hoặc thấp. Điều này có nghĩa là các cổ đông sẽ
không còn trả giá cao cho một đồng lợi nhuận có được như những giai đoạn trước đây.
Hay nói một cách rõ hơn là tỷ số giá thu nhập (P/E) thấp trong giai đoạn này, đồng
nghĩa với việc các cổ đông không còn đánh giá cao cổ phiếu của doanh nghiệp và sẽ
không trả giá cao để có thể sở hữu nó.
Thay vì công bố một cổ tức cao hơn, doanh nghiệp thông báo dự định mua lại
10% số cổ phần hiện hành trên thị trường với giá 2 USD/cổ phần. Giả định một nhà
đầu tư đang nắm giữ 10 triệu cổ phần của doanh nghiệp ABC, quyết định bán 1 triệu
cổ phần (#10% ) cho doanh nghiệp ABC. Kết quả tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư nắm giữ
như sau:
- Trước khi quyết định bán lại cổ phần cho ABC = 10 triệu/500 triệu = 2% .
- Sau khi quyết định bán lại cổ phần cho ABC = (10-1) triệu/ (500-50) triệu = 2% .
Như vậy, nếu tất cả cổ đông chấp nhận đề nghị của doanh nghiệp ABC: bán lại
10% cổ phần cho doanh nghiệp ABC, họ cũng sẽ sỡ hữu doanh nghiệp với cùng tỷ
trọng trước và sau bán lại cổ phần, nhưng họ sẽ nhận được một chi trả tiền mặt từ
doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp ABC chi trả cổ tức cho các
cổ đông.
Trường hợp, bất kỳ cổ đông nào đó không muốn bán lại cổ phần và nhận tiền
mặt. Họ sẽ tiếp tục nắm giữa cổ phần của mình. Như vậy, tỷ trọng cổ phần của họ sẽ
gia tăng để đền bù cho việc không nhận tiền mặt chi trả.
Trong giai đoạn bão hòa, doanh nghiệp có thể sử dụng chính sách mua lại cổ
phần nhằm đạt đến những yếu tố tích cực sau đây:
Mua lại cổ phần nhằm mục đích đạt tới một cấu trúc vốn tối ưu. Khi đòn bẩy
tài chính của doanh nghiệp chưa đạt cấu trúc vốn tối ưu, thay vì vay nợ thêm để đạt
đến một tỷ lệ nợ lý tưởng thì doanh nghiệp có thể mua lại cổ phần của chính mình.
Chính sách này sẽ làm giảm tỷ trọng vốn cổ phần và do đó hỗ trợ cho doanh nghiệp
đạt đến một cấu trúc vốn nợ trên vốn cổ phần tối ưu.
Mua lại cổ phần là một phương thức phân phối cổ tức bằng tiền mặt gián tiếp
cho các cổ đông. Thay vì chi trả tiền mặt trực tiếp cho các cổ đông, doanh nghiệp có
thể mua lại cổ phần của các cổ đông này. Cách làm này có khả năng dẫn tới một tác
động tích cực là trong tương lai do số lượng cổ phần thấp hơn, làm cho thu nhập
trên mỗi cổ phần cao hơn. Khả năng này có thể làm hấp dẫn các cổ đông tiềm năng
và do đó giá cổ phần có thể cao lên nhờ vào t ác động này.
Tóm lại, ở giai đoạn bão hòa, nhu cầu đầu tư giảm đáng kể trong khi nguồn
o RỦI RO KINH DOANH, RỦI RO TÀI CHÍNH Ở GIAI ĐOẠN SUY THOÁI
“Rủi ro kinh doanh THẤP, Rủi ro tài chính CAO”
Bất chấp chiều hướng sụt giảm và cái chết không thể tránh khỏi của sản phẩm,
rủi ro kinh doanh đi kèm sẽ được xem là vẫn giảm từ mức độ của giai đoạn bão hòa
trước. Nếu trong giai đoạn bão hòa, rủi ro kinh doanh được xác định là độ dài của giai
đoạn bão hòa, thì trong giai đoạn suy thoái, rủi ro kinh doanh còn lại duy nhất là “nên
cho phép doanh nghiệp tiếp tục tồn tại bao lâu nữa”. Việc kéo dài giai đoạn suy
thoái có thể làm giảm hơn nữa giá trị tài sản của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến
việc không trả được nợ vay, mà lợi nhuận để chia cổ tức cũng bị sụt giảm.
Rủi ro kinh doanh giảm, đồng nghĩa với việc cho rằng tỷ lệ tài trợ nợ có thể
tăng trong giai đoạn này (nghĩa là chấp nhận một rủi ro tài chính tương đối cao).
DTL = DOL x DHL
Nếu DOL (đòn bẩy rủi ro kinh doanh) giảm, doanh nghiệp có thể chấp nhận
một DHL (đòn bẩy rủi ro tài chính) cao mà vẫn không làm thay đổi DTL (đòn bẩy rủi
ro tổng hợp của doanh nghiệp).
o QUYẾT ĐỊNH CHÍNH S ÁCH TÀI CHÍNH CHO GIAI ĐOẠN SUY THO ÁI
Trong giai đoan suy thoái, do đã có sự sụt giảm trong cầu sản phẩm và doanh
thu của doanh nghiệp, triển vọng tăng trưởng trong tương lai vì thế cũng bị đánh giá
là âm. Các cổ đông lo lắng giá cổ phiếu sụt giảm mạnh sẽ bị lỗ, nên đã đòi hỏi mức
chi trả cổ tức rất cao, thậm chí có thể xem là chi trả cổ tức toàn bộ. Bên cạnh đó, các
dự án đầu tư sản phẩm hiện tại trong giai đoạn suy thoái không mang lại lợi nhuận
cho doanh nghiệp và dòng tiền thuần đã bắt đầu sụt giảm. M ột lối thoái cho doanh
nghiệp trong giai đoạn này là phải gia tăng sử dụng tài trợ nợ vay để đảm bảo khả
năng chi trả cổ tức “toàn bộ” cho cổ đông. Mặt khác, sử dụng tài trợ nợ vay có chi
phí sử dụng vốn thấp hơn tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ đông sẽ có lợi thế hơn và có thể
tận dụng được lợi ích từ “Tấm chắn thuế”.
Như vậy, Cấu trúc vốn trong giai đoạn này sẽ là vốn cổ phần và gia tăng tài trợ
CHI TR
Ả
C
Ổ
T
Ứ
C
TOÀN BỘ
(do triển vọng tăng trưởng
trong tương lai âm)
TÀI TR
Ợ
N
Ợ
VAY
để chi trả cổ tức toàn bộ
hoặc để tái đầu tư SP mới - Giá trị cuối cùng của một tài sản là 100.000 USD.
- Doanh nghiệp dự kiến tiếp tục hoạt động thêm 5 năm nữa.
- Tỷ lệ chi trả cổ tức là 15%/năm.
Hiện giá của giá trị cuối cùng của tài sản đối với các cổ đông là:
100.000 USD/1,15^5 = 49.717 USD
nghiệp suy thoái thường thấp hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi của cổ đông (nghĩa là
các cổ đông yêu cầu mức chi trả cổ tức cao hơn các giai đoạn trước đây vì cho rằng
triển vọng tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp rất thấp, thậm chí là âm); mặt
khác dòng tiền trong giai đoạn này tương đối “nhàn rỗi” do sự sụt giảm trong quy
mô đầu tư. Sự tương phản này tạo nên một tỷ lệ chi trả cổ tức rất cao, cho thấy một
phần của cổ tức này là sự hoàn trả vốn.
Cổ tức =EPS
Kết quả là cổ đông sẽ không lo ngại về giá cổ phần sụt giảm, miễn là họ được
đền bù đủ bằng một lãi suất cổ tức cao.
Thực tế có một câu hỏi được đặt ra từ phía các cổ đông là việc chia cổ tức tiền
mặt cao như vậy có phải là nhờ doanh nghiệp đang hoạt động tốt và muốn chia sẻ kết
quả kinh doanh với các cổ đông ? Việc chi trả cổ tức toàn bộ như vậy phát đi tín hiệu
về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó khiến cho các cổ
đông thật sự phấn khởi, tăng lòng tin vào doanh nghiệp, cổ phiếu có tính thanh khoản
cao hơn.
Nếu một doanh nghiệp có lợi nhuận trong năm cao, đòn bẩy tài chính ở mức an
toàn, dòng tiền tự do ổn định thì hoàn toàn có quyền và nên chia sẻ thành công đó với
cổ đông qua việc trả cổ tức.
Nhưng trên thực tế trong giai đoạn suy thoái, doanh thu và lợi nhuận đều sụt
giảm thì việc doanh nghiệp chi trả toàn bộ cổ tức chỉ có thể là do không tìm được dự
án đầu tư mới và đang thu hẹp lại dần quy mô đầu tư cũ. Dòng tiền trong giai đoạn
này trở nên nhàn rỗi, để doanh nghiệp có thể chi một tỷ lệ cổ tức cao cho các cổ đông.
Doanh nghiệp có thể chi trả cổ tức từ nguồn tiền nhàn rỗi hoặc giả để chi trả
được mức cổ tức như đã công bố, sẽ có một số doanh nghiệp có khả năng phải bán đi
một số tài sản tài chính hoặc thậm chí là sử dụng cả nguồn vốn vay trong lúc chưa thu
hết được tiền từ khách hàng để chi trả cổ tức.
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC QUYẾT Đ ỊNH CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
ĐẾN TỶ SỐ GIÁ THU NHẬP (P/E), GIÁ CỔ PHẦN CỦA DOANH
Giá cổ phần Giảm và tăng trong biến động
CÁC CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH KHÁC ĐỂ TRÌ HOÃN HOẶC
TRÁNH ĐƯỢC CÁI CHẾT.
Như đã đề cập ở trên, trong giai đoạn suy thoái, doanh nghiệp có 2 sự lựa chọn
trong mục tiêu quản trị của mình: một là, quyết định chấm dứt hoạt động kinh doanh
để hạn chế giá trị tài sản đang giảm dần; hai là, tìm cách duy trì sự sống của mình.
Tuy nhiên, trong giai đoạn cái chết đang ở trước mặt, doanh nghiệp có thể làm
gì để duy trì sự sống của mình? Một số doanh nghiệp trì hoãn hoặc tránh được cái chết
nhờ vào các chiến lược tài chính linh hoạt và phù hợp tình hình của doanh nghiệp:
Một chiến lược hiển nhiên là doanh nghiệp có thể đa dạng hoá vào các sản
phẩm trong phạm vi ngành, đa dạng hóa đầu tư vào các lĩnh vực khác. T uy nhiên
nếu việc đa dạng này chưa được thực hiện trước khi việc kinh doanh chính đã bước
vào giai đoạn suy thoái thì sẽ rất khó cho doanh nghiệp khi tài trợ cho việc đa dạng
hoá khi từ một dòng tiền đang giảm dần.
Một chiến lược khác là tái cấu trúc theo hướng hợp nhất, sáp nhập với các
đối thủ cạnh tranh nhỏ của mình đang trong giai đoạn phát triển. Doanh nghiệp đang
suy thoái thường có thị phần cao hơn và các doanh nghiệp nhỏ đều phải đối phó với
tình trạng suy thoái dần dần nên việc sáp nhập này hoàn toàn có thể. Khi đã sáp nhập,
doanh nghiệp đạt được một thị trường khống chế lớn hơn nhiều sẽ là cơ sở để gia tăng
doanh số bán hàng và do đó doanh nghiệp có thể cải tiến thu nhập một cách đáng kể.
Tuy nhiên chi phí của tái cấu trúc không nên quá lớn vì các doanh nghiệp sẽ có khả
năng tạo ra thu nhập thấp và mọi việc có thể còn tồi tệ hơn trong tương lai. Để huy động vốn cho việc tái cấu trúc theo hướng sáp nhập/hợp nhất, doanh
nghiệp có thể thực hiện phát hành đặc quyền chiết khấu cao, hoặc tăng thêm giá trị
bằng cách giảm các tỷ lệ nợ.
CÁC PHÁT HÀNH ĐẶC QUYỀN CHIẾT KHẤU C AO
Bất cứ các nỗ lực nào nhằm hợp lý hoá một ngành đã rất bão hòa hay đang suy
25USD/cổ phần x 2 cổ phần = 50 USD
- Giá trị cổ phần sau khi các cổ đông sử dụng đặc quyền: 50 USD/cổ
phần (thấp hơn giá trước khi doanh nghiệp phát hành đặc quyền là 100
USD/cổ phần)
Phần lỗ từ một cổ phần hiện tại: 100 USD – 50 USD = 50 USD.
Như vậy, phát hành đặc quyền 2 cho 1 không lời cũng không lỗ. Tuy nhiên,
việc phát hành này đặc biệt phải chú ý đến tâm lý thị trường và nó có thể gây ra rủi ro
giá cổ phần bao gồm đặc quyền sụt dưới giá sử dụng đặc quy ền trong suốt thời gian
cung ứng đặc quyền.
TĂNG THÊM GIÁ TRỊ BẰNG CÁCH GIẢM CÁC TỶ LỆ NỢ
Thông thường, gia tăng tỷ trọng nguồn vốn cổ phần sẽ đưa đến một sự gia tăng
trong chi phí sử dụng vốn bình quân. Bởi vì chi phí sử dụng vốn cổ phần đắt hơn chi
phí sử dụng vốn vay. Nếu doanh nghiệp gia tăng vốn cổ phần để chi trả một phần nợ
vay, sẽ có thể làm gia tăng giá trị cho cổ đông hiện tại. N ghĩa là doanh nghiệp vẫn làm
lợi được cho các cổ đông cho dù doanh nghiệp đang bị suy thoái.
Xét trường hợp của doanh nghiệp X YZ đã đề cập ở trên:
- Giả định Lợi nhuận hoạt động (EBIT): 33,75 triệu USD.
- Chi phí lãi vay : 100 triệu x 15% = 15 triệu USD.
- Thuế (33,33%): 6,25 triệu USD
- Lợi nhuận sau thuế và lãi vay (EAT): 12,5 triệu USD.
- Số cổ phần: 500 ngàn
- EPS: 25USD
- P/E: 4
- Giá cổ phần: 100 USD
Nếu doanh nghiệp huy động thêm 25 triệu U SD thông qua một phát hành đặc
quyền. Theo phân tích ở trên, giá cổ phần sẽ giảm xuống còn 50 USD. Tuy nhiên, nếu
doanh nghiệp đem cổ phần mới huy động được để trả một phần nợ vay, sẽ làm giá cổ
phân tăng thêm (57,75 USD)