TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
CHUYÊN
NGÀNH:
KINH
TẾ
ĐỐI
NGOẠI
***
KHÓI)
LUẬN TỐT NGHIỆP
/ĐỂ
tài:
PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP
PHỤ TRỌ TRONG
TIÊN TRÌNH
HỘI NHẬP
KINH
TẾ
QUỐC
TẾ
Ỏ
Lf.ơ(53b2J
ẰẦV
é
'
í
•-
'— . ì
HÀ
NỘI,
li
-
2006
Phát triển công nghiệp phụ trợ trong tiến trình hội nhập kinh
tế
quốc
tế à
Việt
Nam
MỤC LỤC
LÒI
MỞ
ĐẦU
.1
CHƯƠNG
ì:
TỔNG
QUAN
VẾ CÔNG
NGHIỆP
PHỤ
1.1 Khái niệm
4
1.2
Đặc
điểm
7
1.3
Quy
mô
của ngành
CNPT
8
2.
Vai
trò
của
CNPT
trong
quá
trình
công
nghiệp
hoa
hiện
đại
hoa
đất
nước
10
2.1 CNPT
Lan
16
3.3
Phát triển
CNPT ở
Malaysia
18
n. Tác động của
CNPT
đến
hội
nhập
kinh
tế
quỂc
tế.
20
Ì.
Năng
lực
cạnh
tranh,
nhân
tố
quyết
định
hội
nhập
thành công
20
lực
23
2.1
CNPT
thúc đẩy
sự
phát triền của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 23
2.2
CNPT
thu hút đẩu tư nước ngoài
24
CHƯƠNG
li:
THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN
CNPT Ở
VIỆT
NAM 27
ì.
Chính sách phát
triển
CNPT
của
đất
nước
27
Ì.
Chính sách
nội
địa
tiêu
thụ
đặc
biệt
31
3.
Chính sách
khuyến
khích
các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
32
n.
Thực
tiễn
phát
triển
CNPT ở
Việt
Nam 33
1.
Tình hình
chung
33
1.1
Các
giày
52
2.4 Ngành
điện
-
điện
tử
54
2.5 Ngành xe
máy 58
CHƯƠNG
ni:
GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN
CNPT 66
ì.
Xu
thế
phát
triển
kinh
tế thế
giói
và
chiến
lược
mua sám
tối
ưu
của
Giải
pháp phát
triển
CNPT ở
Việt
Nam 69
1.
Nhũng
văn đề đặt
ra
về
phát
triển
CNPT
ở
Việt
Nam
trong
tương
lai
69
2.
Các
giải
pháp
cụ thể
70
2.1
Giải
pháp
tế quốc tế ở
Việt
Nam
LỜI
MỞ ĐẦU
Việt
Nam đã mở cửa
với thế
giới
bèn ngoài
từ
đầu
những
năm 1990
và hy
vọng
rằng
sẽ đưa
đất
nước
trở
thành một nước công
nghiệp
hiện
đại
vào năm
2020.
Tuy
nhen
cho đến nay đã hơn
phụ
trợ.
Cho
đến nay hầu
như
tất
cả
các
quan chức
chính
phủ,
các
doanh
nghiệp
trong
nước
cũng
như nước
ngoài,
các cơ
quan
chính phủ nước ngoài đều
nhất
trí
chung là sể
phát
triển
của
các ngành công
nghiệp
Tuy nhiên
vẫn
còn
nhiều
vấn
đề chưa được
giải
quyết
liên
quan đến
khái
niệm,
phạm
vi
và các
biện
pháp để
phát
triển
các ngành công
nghiệp
phụ
trợ.
Bản thân hệ
thống
chính sách của
Việt
nam
cũng
chưa có khái
trừ
cả
các
quan chức
nhà nước có liên
quan.
Bản thân
người
viết
ban
đẩu
cũng chỉ nghe
các phương
tiện
thông
tin
đại
chúng đề
cập
đến công
nghiệp
phụ
trợ,
công
nghiệp
hỗ
trợ
mà
thểc
sể chưa
kinh tế
quốc
tế
và
ngành
này ở
Việt
Nam còn
rất
yếu
và
thiếu.
Do đó em
mạnh
dạn
chọn
đề
tài:
"phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ
trong
tiến
trình
hội
nhập
kinh
trợ
cũng
như
quan
điểm
cụ
thể
ở
việt
Nam
từ
đó
chi
ra
vai
trò của
phát
triển
công
nghiệp
với
quá
Ì
Nguyễn Thị Hoa-Lớp Anh 1-K41-KTNT
Phát triền công nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
thực
trạng
công
nghiệp
phụ
trợ
ở
Việt
Nam
thông qua một số ngành
điển
hình.
Kết
hợp
giữa
việc
xem
xét
kinh
nghiệm
phát
triển
công
nghiệp
phụ
trợ
ở
một
số thành công
điển
các ngành công
nghiệp
phụ
trợ.
Phạm
vi
nghiên
cầu:
tập
trung
vào các
doanh
nghiệp
trong
nước
và
doanh
nghiệp
FDI
hoạt
động
trong
ngành này
cũng
như các
doanh
nghiệp
liên
quan
ở
ì:
Tổng
quan
về
công
nghiệp
phụ
trợ
và
tác động của
nó đến
quá trình
hội
nhập
kinh tế
đưa
ra
những
vấn đề
chung
nhất
về công
nghiệp
phụ
trợ
cũng
như
vai
trò,
tác động của
phần
này
phân tích
thực
trạng
của các ngành công
nghiệp
phụ
trợ
ở
Việt
Nam
dựa trên
những
số
liệu,
nhận
định cụ
thể
trong
một
số
ngành
điển
hình.
Chương IU:
Giải
pháp phát
triển
CNPT.
lời
cảm ơn
chần
thành
nhất
đến
thầy
hướng
dẫn
Tiến
sĩ
Nguyễn
Vãn
Hồng dã
trực
tiếp
giúp
đỡ
em
thực
hiện
đề
tài
này.
2
Nguyễn Thị Hoa-Lớp
Anh
1-K41-KĨNT
Phát triền công nghiệp
phụ
cạnh
đó em
cũng
muốn
gửi
lời
cảm em đến các cán bộ
thuộc
viện
nghiên cứu
chiến
lược
và chính sách công
nghiệp,
bộ công
nghiệp
đã
nhiệt
tình giúp đỡ
cung
cấp
tài
liệu
để em hoàn thành bài
viết
này.
Do vấn đề còn khá mới mẻ chưa có số
liệu
thống
kê chính
Phát triển công nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế ở
Việt
Nam
CHƯƠNG ì
TỔNG
QUAN
VỀ CÔNG
NGHIỆP PHỤ
TRỢ
VÀ
TÁC
ĐỘNG
CỦA
NÓ ĐẾN
QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP
KINH TẾ
ì. Tổng quan về công nghiệp phụ trọ
1.
Khái
niệm,
đặc
điểm,
phân công
lao
động
ở
trình độ
cao.
CNPT
chính
là
tổng
hợp các ngành công
nghiệp
vệ
tinh
phục
vụ
cho
các ngành công
nghiệp
chính.
Tuy nhiên
thuật
ngữ
"CNPT"
phổ
biến
ở
Đông á
hiện
nay
nghiệp.
Để
giảm
thiểu
sự phụ
thuộc
và các
nền
kinh tế
khác
ở Âu
Mỹ,
trong
giai
đoạn
phát
triển
thần
kỳ
Nhật
Bản
đã xây
dựng
cơ
cấu
kinh tế "hai
tầng"
chú
trọng
ngay
phẩm
cấp
thấp
hem
hoặc
các
sản
phẩm
sớ
chế để
góp
phần
tạo ra thế
chủ
động
trong
sản
xuất
cho
các
doanh
nghiệp này.
Nhưng
phải
đến
năm
1985,
lần
đầu
tiên
các
doanh
nghiệp
vừa
và nhỏ
sản
xuất
các
linh
phụ
kiện
nhằm đẩy
mạnh
hoạt
động
sản
xuất
công
nghiệp
ở
các nước Châu á
ừong
trung
và
dài
hạn.
Năm
1993,
METI đã chính
thức
quốc
tế ở
Việt
Nam
cung
cấp các sản phẩm cẩn
thiết
nguyên
liệu thô, linh
kiện
và tư
liệu
sản
xuất
cho
ngành công
nghiệp
nước
khác(
bao
gồm ô
tô,
điện
và
điện
tử)
Ngoài
ra,
CNPT
còn
phận
và
các
công
cụ
để
sản
xuất
ra các
linh kiện,
bộ
phận đó
cho
ngành công nghiệp
lắp ráp và
chế biến}
CNPT
được
xem
xét
dưới
các góc độ khác
nhau.
Theo
lý
thuyết kinh
tế học,
CNPT
được định nghĩa
là
để
sản
xuất
ra các bộ
phận
sản
xuất
đó "
2
Mặc dù
từ
ngữ có
thể
khấc
nhau
nhưng các
quan
điểm
đều có
những
điểm
chung
là:
Thờ
nhất,
đó
là
ngành công
nghiệp,
nghĩa
và các
tư liệu
sản
xuất.
Lấy ví
dụ như
trong
quá ưình
sản
xuất
các
sản
phẩm
điện
tử gia
dụng
thì
các bộ
phận
sản
xuất
như: cấc
bộ
phận
bằng
nhựa
và
kim loại
được
gọi là
hình
doanh
nghiệp:
Thờ
nhất
là
các nhà
cung
cấp linh
kiện
bộ
phận
và
cung
cụ máy móc
được
đặt
ở
nước
ngoài để
tận
dụng
các ưu
đãi
đầu
tư
và phát huy tính
kinh
tế
1
kinh
tể quốc tế ở
Việt
Nam
trong
chuyên
môn
hoa.
Thứ
hai
là các nhà
cung
cấp
linh
kiện
bộ
phận
và
cung
cụ máy móc
của
nước ngoài
đặt
ở
thị
trường
nội địa.
Thứ ba
là
các nhà
ở
thị
trường
trong
nước
và
các nhà
lắp
ráp nước ngoài
đặt
ở
thị
trường
nước ngoài( trường hợp
xuất
khảu
các
linh
kiện
bộ
phận
mấy
móc).
Các nhà
lắp
ráp
nước
ngoài
thường
là
Nam.
Tuy
nhiên,
khái
niệm
CNPT
vẫn
còn
mơ
hồ
với nhiều
người
theo
các chuyên
gia
của
viện
nghiên cứu
chiến
lược
và
chính sách công
nghiệp,
Bộ
công
nghiệp
thì:
"CNPT(
hay
công
phảm công
nghiệp
cuối
cùng.
Còn
theo
các
giáo
sư
của trường
đại
học
Waseda,
những
người
có
thâm niên nghiên cứu về
Việt
Nam
thì
"CNPT
là
khái
niệm
để
chỉ
toàn
bộ các
sản
phảm công
gồm
cả
những
sản
phảm
trung gian,
những
nguyên
liệu
sơ
chế".
Hai
khái
niệm
trên
ở
Việt
Nam
có
điểm
khác
nhau:
Các giáo sư
ở
đại
học
Waseda thì
liệt
kê các sản phảm của
CNPT
là sản
phảm
của
ngành công
nghiệp
có hàm
lượng
lao
động
kết
tinh
trong
đó.
Điều
này để
phân
biệt
vói
các
sản
phảm
tự
nhiên-
các nguyên
liệu
thô
có
sản
trong tự
nhiên
Thị
Hoa-Lớp
Anh 1-K41-KTNT
Phát triển công nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế à
Việt
Nam
cho
việc
sản
xuất
các thành phẩm
chính.
Các thành phẩm chính
ở
đây
là
sản
phẩm của cấc ngành công
nghiệp
chính.
Để
trở
thành ngành công
quốc dân.
Còn nghành
CNPT
chủ yếu sản
xuất
ở
quy
mô
vừa
và
nhỏ
và do các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
đảm
nhiệm.
Do
đó sản
phẩm
trung
gian
trong
khái
niệm
trên
chỉ là
nhầng
máy thân
xe,
bánh
xe
thường
không được kể
đến
như
là
sản
phẩm
của
ngành
CNPT
vì
chủ yếu
do các công
ty
có quy
mô
lớn
sản
xuất.
Ngành
CNPT
chỉ
sản
xuất
ra
các
và
hiệu
quả
theo
quy
mô
ngày càng
tăng,
CNPT
cần nhiều
vốn
hơn
cả
ngành
lắp
ráp thành
phẩm.
Trong
khi,
quá trình
lắp
ráp
thành phẩm
cần
nhiều lao
động
thì
việc
sản
xuất
phần).
Một
khi
đã
đầu tư
lắp
đặt
hệ
thống
máy móc
thì
chi
phí vốn cho
nhà máy
sẽ
luôn ở một
mức cố định cho
dù
hệ
thống
máy
này được vận hành liên
tục
24h/ngày
và
365
ngày/nãm hay
chỉ vận
hành
trong
trường
là
rất
quan
trọng
với
các ngành
CNPT
vì
luôn
đòi
hỏi
có được một lương
đặt
hàng
tối
thiểu
tương
đối lớn
thì mới
có
thể
tham
gia
thị
trường,
thì
mói
tận
dụng
Anh
1-K41-KTNT
Phát
triển
cóng
nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế ở
Việt
Nam
tận
dụng và vận
hành
tốt
các
thiết
bị
sản
xuất.
Ví
dụ
như
nhiều
máy
phun nhựa
viên để vận
hành chúng. Tuy nhiên chính phẩ các nước đang phát
triển lại
coi
ngành
CNPT
là
ngành có công
nghệ
thấp
trong
khi
trên
thực
tế
nó
lại
là
ngành cần
nhiều
vốn
và
đòi
hỏi
công
nghệ cao.
1.2.2.
CNPT bao
phủ
một phạm
máy móc
như:
máy cán
thép,
khuôn
đúc
.Ngành
CNPT
lại
gồm các
nhà
cung
cấp
các
sản
phẩm
đó.
Do
vậy
mà CNPT
bao
phẩ một phạm
vi
rộng
trong
các ngành
chế
tạo.
Thực
tế
sản
xuất
thông
qua
một quá
trình
tương
tự
nhau.
Các
sản
phẩm
điện
tử
xe máy,
ô
tô
đều
phải
sử dụng
các
thiết
bị
ép
kim
loại.
Do
đó có
thể
nói
thể lớn
hay nhỏ
và gồm
những sản
phẩm nào.
•
Quy mô
cốt
lõi(
core scope):
Theo
quan
điểm
hẹp
nhất
thì sản
phẩm
CNPT
là
linh
kiện,
bộ
phận
và
các
máy
móc,
công cụ để
sản
xuất ra
phân
phối
và
bảo
hiểm.
Nguyền
Thị
Hoa-Lớp Anh 1-K4I-KTNT
Phát triển
công
nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tể quốc tế ở
Việt
Nam
•
Quy mô mở
rộng
2
(broad scope2):
Theo
quan
điểm
này thì
CNPT
thể
trên
mô hình
sau:
Hình
1:
Scope
of
supporting
industries
Fiim1
anoda
g ít b-gsạ MỊỊ V. Ị y
(Nguồn
từVDF-
tokyo)
ở
Việt
Nam
do một số ngành công
nghiệp
đã có quy
hoạch
riêng
cho
mình bao
gồm
cả
CNPT
như
phụ
kiện
cửa một
số
chuyên ngành công
nghiệp chử yếu cần
được
ưu
tiên
phát
triển
và hỗ
trợ
gồm
dệt
may, da
giầy,
thiết
bị
điện
tử
-
viễn
thông,
ôtô
và cơ
khí
gia
công
kim
như
vậy
quy
mô CNPT ở
Việt
Nam
gần
giống với
quy
mô mở
rộng
2 ở
trên.
9
Nguyễn
Thị
Hoa-Lớp
Anh 1-K41-KTNT
Phát triền công nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế ớ
Việt
Nam
Hình
2.
Ép
ì
ị
Can
I I
Đúc
I I
Dập
I
iMáymóc
I
I
cán
mép
I
|xừ lý nhiệt
ỉ
Ị—
Ị
LZZt——r~"—Ị—"—Ị—
r—
Ị
Nguyên
liệu
tha
Ị
(nguồn:
báo
cáo
điêu
thủ
công
lạc
hậu thành
lao
động sử
dụng
công
nghệ
tiên
tiến
hiện đại
nhẩm phát
triển
lực
lượng
sản
xuất
và thúc đẩy hình thành một cơ cấu
kinh
tế
hợp lý để
đạt
tới
năng
suất lao
động
cao"
Đại hội
Đảng
phù
hợp,
xử lý
tốt
mối
quan
hệ
giữa
các ngành công
nghiệp.
Nếu
được phát
triển
hợp lý,
CNPT
có
vai
trò đặc
biệt
quan
trọng trong việc đạt
mục
tiêu trên
2.1 CNPT đẩy mạnh
quá
trình
chuyên
môn hoa
Thực
tiễn
Việt
Nam
hướng
hiện
đại.
Chuyên
môn
hoa giúp
tận
dụng
tối
đa
lợi
thế
so sánh của
doanh
nghiệp,
quốc
gia.
Phát
triển
CNPT
giúp các
doanh
nghiệp
không
phải
ôm
đồm
thực
nhỏ
từ
đó
không có
điều
kiện
để
phát
triển
sản
xuất,
nâng
cao
hiệu
quả. Với sự
phát
triển
của
CNPT
các doanh
nghiệp chỉ
cần
tập
trung
chuyên môn hoa vào một khâu
mà mình có khả năng làm
tốt
nhất
và mói có
thể
không
phải
lo
sản
xuất
hay
nhập
khẩu
các
sản
xuất
đầu
vào.
Các
doanh
nghiệp
phụ
trợ
sẽ tập
trung
nghiên
cứu,
thiết
kế để sản
xuất ra
sản
phẩm đầu vào cho
ngành công
nghiệp lắp
ráp
doanh
nghiệp
chuyên
sản
xuất
các phụ tùng như
ốc
vít,
dây cắm
v.v rồi
để
sản
xuất ra
các
sản
phẩm đó
cần
có các máy móc như khuôn
ép,
máy cán thép và các
doanh
nghiệp
phụ
trợ
khác
lại
chầu
trách
nhiệm
sản
công
nghệ
hiện
đại thể
hiện
ở
các
khía
canh
sau:
Thứ
nhất,
khi
CNPT
phát
triển
các doanh
nghiệp
chuyên môn hóa và
sản
xuất
trong
một
lĩnh
vực
nhất
đầnh
do đó họ có
điều
kiện,
cầu
về
chất
lượng
sản phẩm càng
khắt
khe
hơn.
Không có cách nào khác là
phải tự đổi
mói,
nghiên cứu ứng
dụng
công
nghệ
để
tạo ra
sản
phẩm có
chất
lượng
thoa
mãn
nhu cầu của
khách hàng.
1Ì
Nguyền
Thị
Hoa-Lớp
Anh 1-K41-KTKT
sự phát
triển
lĩnh
vực
sản
xuất
kế
tiếp.
Với
việc tạo ra
những
chi
tiết,
bộ
phổn hoặc
vổt
liệu
mới
CNPT
góp
phần
tạo ra
sự
thay đổi
căn
bản
trong
thiết
kế và chế
tạo
quốc
gia.
Đi cùng
với
họ
là
máy
móc,
công
nghệ
hiện đại
được
chuyển
giao
sang
nước
tiếp
nhổn
đầu
tư.
Như
vổy
cả
trực
tiếp
lẫn
gián
tiếp,
CNPT
phát
ngành
CNPT
còn yếu
kém
như
ở
nước
ta hiện
nay
đa
phần
các
nguyên phụ
liệu,
phụ tùng
linh
kiện phải
nhổp khẩu
từ
nước ngoài
trong khi
lao
động không có
việc
làm.
CNPT
có
vai
trò
tạo
đẩy
một
bộ
phân
lao
động không có
việc
làm,
ở nhà làm nông
nghiệp
tham
gia
vào các
trường
đại học,
cao
đẳng,
trung cấp, trung
tâm
hướng
nghiệp
dạy
nghề
nhằm
thoa
mãn nhu cầu
lao
động
trong
các ngành
nghiệp
khác,
như
vổy
nhu cầu
lao
động càng tăng
lên,
đặc
biệt
là
càng
nhiều
doanh
nghiệp
FDI
đổ vào đầu
tư
mở
nhà máy
xí
nghiệp
tại
chỗ.
Kết
quả
là
một
lượng
lớn sinh
đó
cơ
cấu
lao
động xã
hội
chuyển
biến
theo
hướng
tăng dần
tỷ trọng trong
công
12 Nguyễn Thị Hoa-Lớp
Anh
1-K41-KTNT
Phát triển
công
nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tể quốc tế ở
Việt
Nam
nghiệp
giảm
nhiều
quá
trình
như: sản xuất
nguyên
vật
liệu,
máy
móc,
công
cụ,
bộ
phận,
quá
trình
lắp
ráp
bán thành phẩm
và thành phẩm như mô hình
sau:
Hình
3.
Basic
structure
of Production
Process
(Nguồn: Development
oỷsupporting industriesỊor
Vietnam'
industrialiĩation (2005))
phát
triển
CNPT
thì
quốc
gia
dó
chỉ gia
công
lắp
ráp đem
thuần, phải
phụ
thuộc
vào các
sản
phẩm
linh
kiện
nhập
khẩu
từ
nước
ngoài và
khi
đó
thu
nhập
thực tế của
người
sản
phẩm công
nghiệp
hoặc
tiêu
dùng.
CNPT
giúp các ngành công
nghiệp
chính
chủ
động
trong
sản xuất
nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh.
Để
thực
hiện
nhiệm
vụ
CNH HĐH
đất
nước không có
con
đường
nghiệm
các nước thành công
điển
hình
Với
vai
trò quan
trọng
của
CNPT
trong
quá trình CNH.HĐH
đất
nước,
nhu cầu
phát
triển
CNPT
càng
trở
nên bức
thiết
đặc
biệt
khi
Việt
Nam
đang
trên
đường
từ
những
năm 60
của
thế kỉ
trước.
Do
đó
việc
nghiên
cứu
thực
tiễn
kinh
nghiệm
phát
triển
CNPT
của
nước ngoài
là
vô cùng
quan
trọng
để
Việt
Nam
có
thể
đưa
là quốc
gia
có
nền
công
nghiệp
phát
triển
nhất
khu vực
Đông
á. Các
tập
đoàn
lớn
của
Nhật
Bản như:
Mitsubishi,
Honda,
Toshiba đang
khẳng
vị
thế
trên
thị
trường
thế
giới.
Để có đưỉc thành
chỗ
phụ
thuộc
vào nước
ngoài,
công
nghiệp
yếu
kém
trở
thành
quốc
gia tự
chủ về
kinh tế với
trình
độ công
nghệ
hiện
đại
trên
thế
giới.
Để phục
vụ một nhà máy
lắp
ráp Nhật
Bản có hàng nghìn các
doanh
nghiệp
và
công
việc
chủ yếu là
lắp
ráp,
sản
xuất
cuối
cùng còn 99%
doanh
nghiệp
cấp
thấp
hơn
sản
xuất
các
linh
kiện
cho
những
công
ty
này là
các
doanh
nghiệp
vừa
và
cho
các công
ty
mẹ, công
ty
mẹ
yêu
cầu
một dòng
sản
phẩm nào
đó,
thậm chí
trong
ngày,
các công
ty
con
sẽ
phải
tập
trung
sản
xuất
trong
vòng
24h.
Gần đây
mô
hình này công
phù hợp
chất
lượng
và giá cả hợp
lí.
ở
Nhật Bản,
bản thân các
việc
sản
xuất
và
lắp
ráp các
linh
kiện
cũng
có
thể
chia
thành
nhiều
cấp
độ nhỏ
hơn.
Mô hình
kiểu
gia
đình
có
mạnh
hơn và
năng
lực
cạnh
tranh
cao hơn.
Các ngành công
nghiệp
mũi nhọn của Nhật
Bản
như
điện
tử,
ô
tô,
xe máy đã xây
dựng
mô hình này qua một quãng thòi
gian
dài.
Mối liên hệ
giữa
các
cấp
độ
cung
cấp sản phẩm hỗ
trợ
không
doanh
nghiệp
vừa và
nhỏ.
Nhật
Bản
rất
quan
tâm
đến doanh
nghiệp
vừa
và nhỏ
và luôn đánh giá họ
rất
cao
trong việc
thúc đẩy ngành
CNPT
phát
triển.
Từ
năm
1936,
đã có quỹ
tài
chính đầu
tư vốn cho doanh
nghiệp
loại
nghiệp
vừa
và nhỏ
khi
họ
vay vốn
các
doanh
nghiệp
tư
nhân khác.
Bên
cạnh những
hỗ
trợ
về tài
chính,
chính phủ
Nhật
Bản còn hỗ
trợ
về
công
nghệ.
ở
Nhật
Bản
hiện
có
tói
trợ
công
nghệ
(
TÁC), những
TÁC này có sẵn máy móc
thiết
bị.
Nếu
doanh
nghiệp
không có
khả
năng
tài
chính có
thể
đến
sử dụng
ở các
trung
tâm
này.
Để hỗ
trợ
các
doanh
vừa và
nhỏ,
Nhật
dữ
liệu
về
CNPT.
Các
địa
phương
đều
có cơ
sở
dữ
liệu
riêng
với
sự tham
gia
của các quan chức
chính
quyền,
các
doanh
nghiệp,
các nhà nghiên
cứu
được đa
dạng
các nhà
cung cấp
với
sự tham
động.
Các cơ
sở
dữ
liệu
này có
chất
lượng
cao
cung cấp
thông
tin
chi
tiết
về
mỗi
nhà
cung cấp và
rất
dễ
tiếp
cận.
Vấn
đề
nhân
lực
cũng
là một
trong
nhũng
người
lao
động
có kỹ
thuật
cao
toong
các ngành
chế
tạo.
Một
trong
số 10 công
ty
hàng đầu
của
Nhật
Bản
hoạt
động
trong
lĩnh
vực sản
xuất
thiết
bị
điện
tử
có một
hệ
Sau đó công
ty
sẽ
gửi
những
lao
động được
xếp
hạng
A
lên
văn phòng
chứng nhận
lao
động kỹ
thuật
cao
ở
cấp
trung
ương
và
địa
phương.
Nếu
những
người
này được
nhận chứng chỹ
từ
tham
gia việc
đào
tạo đội
ngũ kế cận
trong
vòng 2
năm.
Như
vậy,
chính sách phát
triển
nguồn
nhân
lực
được
phối
hợp
thực
hiện
ở
tất
cả
các cấp
nhằm
khuyến
khích
lao
động có trình độ kỹ
thuật tốt
3.2
Phát triển công nghiệp
phụ
trợ
ở
Thái
Lan
ở
Thái
Lan, từ
lâu
người
ta
đã
nhận
ra
là cần
phải
khuyên khích
sự
phát
triển
của
CNPT
và nhu cầu
cấp
bách này càng
ưở
nên rõ ràng hơn
khi
trong
nước.
Với
chính sách
thu
hút đầu tư
trực
tiếp
nước
ngoài(
FDI)
có
chọn
lọc,
Thái Lan đã đưa
ra
nhiều
ưu
đãi về
thuế,
thành
lập
các khu
tự
do
thương mại cho các dự án đầu tư vào phát
triển
các ngành công
nghiệp
trọng
mục
tiêu
bao
gồm
gia
công khuôn gá,
luyện kim,
đúc công cụ công
nghiệp,
cắt,
mài,
đúc
nguội,
xử
lý
bề
mặt,
xử
lý
nhiệt,
gia
công
trung
tâm,
giấc
cắm
điện,
pin
xạc
Ni-CD,
móc 50% cho
cấc
dự án
ở
vùng Ì và
2
(
trong
và gần
Bangkok),
miễn
thuế
100%
thuế
nhập khẩu
máy móc
cho
các
dự án
tại
vùng 3
(
nông
thôn)
và
miễn
áp
dụng những hạn
chế
cho vốn đầu tư
mối
liên
kết
công
nghiệp
trong
nước.
Năm
1985,
Thái
Lan
đã thành
lập
phòng phát
triển
CNPT
(BSID)
trong
uỷ ban xúc
tiến
công
nghiệp
(DÉP)
thuộc
bộ công
nghiệp
vói sự hỗ
trậ
của
Nhật Bản.
đào
tạo,
nâng
cao
trình độ
tay
nghề
cho các
lao
động
trong
các
doanh
nghiệp
này,
và
đưa
ra
quy hoạch
tổng
thể
cho
phát
triển
CNPT.
uỷ
ban đầu tư
Thái
Lan
(
thông
tin
về
cơ
sỏ dữ
liệu
các nhà
cung
cấp.
Uy
ban
xúc
tiến
công
nghiệp
DIP
cũng
đưa
ra
chương trình phát
triển
các
nhà
cung
cấp quốc
gia
(NSDP)
và đã
bắt
đầu
nghệ
ô
tô vói
mục tiêu
trở
thành
Detroite
Châu
á,
Thái Lan đã có đến
2000
doanh
nghiệp
sản
xuất
linh
kiện,
trong-đó
gần 400
nhà
sản
xuất
chuyên
về các
phôi
đúc
hoặc
rèn
khiến từ
chỗ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế ở
Việt
Nam
ô tô vói
linh
kiện
phụ tùng được
sản
xuất
tại
chỗ.
Mặc
dù
CÓ15
nhà
máy
lắp
ráp,
nhưng Thái Lan có đến 1.800 nhà
máy
cung ứng.
Chính phủ Thái Lan
từ
chỗ
quy
nay
khi
đã
hội
đủ
năng
lực
nền
tảng
của
CNPT,
Thái Lan
có
chính
sách
buộc
các nhà đầu tư nước ngoài đã ổn định
trong
sản
xuất
kinh
doanh
phải
thay
đổi
chiến
lược
để
tuân
thủ tỷ
sang
đầu
tư
ở
Thái Lan
để
mở
thêm cấc
cơ
sở
CNPT.
Hiện
Thái Lan đang đứng đầu
các
nước
asean về
phát
triển
CNPT.
3.3 Phát
triền
CNPT
ở
Malaysia
Cũng
giống
như
Thái
Lan, Malaysia theo đuổi chiến
lược
Việt
Nam.
ở
Malaysia,
các ngành
CNPT
nói chung
là
các ngành công
nghiệp
vừa và nhổ
(SMIs).
Để
thúc đẩy phát
triển
các SMI,
bộ
thương
mại
và công
nghiệp
của
Malaysia
(M
i
n)
đóng
vai
trò là
người
nước ngoài
liên
kết
với
một
ngân hàng thương
mại
và
các
công
ty,
các công
ty
cung cấp
linh
kiện
phụ
tùng.
Chương trình
này
nhằm tìm
kiếm
các nhà
cung cấp
trong
nước
có
khả
năng
cạnh
sản
phẩm
liên
quan
trong
khu vực
Penang.
Các nhà
cung
cấp
trong
nước được
chọn
lựa
là
những
công
ty
đang
nhận
các kỹ
sư,
kỹ
thuật
viên
người
Nhật
Bản làm
việc
vào
nhập
kinh
tế quốc tế ở
Việt
Nam
tài
chính
tham
gia
vào chương
trình
này.
Tiếp
sau
đó
là
hàng
loạt
các chương
trình
khác nhằm hỗ
trợ
các SMI
như:
hội
chợ
công
nghiệp
và
EXPO
và
đi
vào
hoạt
động
trung
tâm phát
triển
kĩ
năng
Penang
(PSDC) đóng góp
quan
trọng
vào
sự
phát
triển
của
CNPT.
PSDC đã
cung
cấp chương trình nâng cao trình
độ
công
nghiệp
cho
các
lao
động
một
lượng
lớn
roi
đổ vào
Penang
trong
những
năm 1980,
đặc
biệt
trong
ngành công
nghiệp
điện
tử,
nhu
cầu
lao
động có trình độ để có
thể
vận
hành được các dây
chuyền sản
xuất
hiện
đại
càng
trỏ
nên bức
kinh
doanh
cho một
số
lượng
lớn
nhàn viên
của
các công
ty
cũng
như
những người
đã
tốt
nghiệp
các trường
trung
học.
So
với
559
người
tham
gia
vào 32 khóa học của
PSDC
vào
năm
1989,
nghệ
hiện
đại
thường
xuyên được
cập
nhật,
điều
này
mang
lại lợi
ích cho các ngành
CNPT
trong
nước.
Các chương
trình
đào
tạo
ở
Penang
đào
tạo
tại
các công
ty
thành viên
soạn
thảo
và luôn được
thức
thông qua các
khoa
đào
tạo
kỹ
thuật.
Do
tác động
kết
hợp
của
việc
nâng cao công
nghệ
và
giảm khoảng
cách thông
tin,
PSDC
đã góp
phần
vào sự phát
triển
của các liên
kết.
Tỷ
lệ
mua
sắm
xỉ
mức
trung
bình
của
thế
giới
về
tỷ lệ
mua
sắm
nội
địa các công
ty
đầu tư
Nhật
Bản
(
40,3%
trong
năm
2003).
Mô
hình này có
thể
mang
lại
bài học
quý
báu
tố
quyết
định
hội
nhập
thành công
1.1
Khái niệm về năng
lực
cạnh tranh
Trong
nền
kinh tế
thị
trường,
cạnh
tranh
là
một
quy
luật
khách
quan của
nền
sản
xuất
hàng
hoa,
là
một
hoa
mà
trước
hết
và
thợc
chất
nhất
là
toàn
cầu
hoa
kinh tế
đang
trở
thành một
xu thế
khách
quan của sợ
phát
triển
kinh tế thế
giói.
Nhu
cầu
mở
cửa
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế.
Để
hội
nhập
thành công các
doanh
nghiệp
phải
không
ngừng
nâng
cao
năng
lợc
cạnh
tranh
quốc
tế.
Theo
diễn
đàn
kinh tế thế
giới
có
2
loại
năng
lợc
cạnh
tăng trưởng
cao
trên
cơ
sở các
chính
sách,
thể
chế bền vững
tương
đối
và
các đặc
trưng
kinh
tế
khác.
Năng
lợc
cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
là
năng
lợc tồn
tại
duy
trì
hay
là
năng
lợc
cạnh
tranh
của nền
kinh tế
quốc
gia.
Không
thể
có năng
lợc
cạnh
trang
quốc
Nguyễn
Thị
Hoa-Lớp
Anh 1-K4I-KTNT
Phát triển cóng nghiệp
phụ
trợ
trong tiến trình
hội
nhập
kinh
tế quốc tế ở
Việt
Nam
của
quyết
định đến năng
lực
cạnh
tranh
của
doanh
nghiệp,
của các
sản
phẩm
dịch vụ của doanh
nghiệp.
1.2 Những nhân tố
quyết định
năng
lực
cạnh
tranh
của doanh
nghiệp
nói
riêng,
quốc
gia nói
riêng.
Năng
lực
cạnh
xuất
chính
như
đất đai, lao
động và tư
bản,
các
nguồn
lực
khác như công
nghệ,
tri
thức
quản lý,
kinh
nghiệm quản
lí
và khả năng
kinh
doanh
có
thể
gọi
chung
là
nguồn
lực
kinh
doanh.
Vốn,
vốn,
không
ít
thì
nhiều.
Đặc
biệt
với
các
doanh
nghiệp
sản
xuất
thì
vốn là
nhân
tố
vô cùng
quan
trọng.
Nó
quyết
định quy mô
sản
xuất,
trình độ công
nghệ của doanh
nghiệp
đó.
Vói một
thể
do chủ
doanh
nghiệp
có và bỏ
ra
kinh
doanh hoặc vay của
người
thân.
Kênh này vô cùng
quan
trọng,
và không
thể
thiếu.
Thứ
hai
doanh
nghiệp
có
thể
vay vốn
ngân
hàng,
các
tổ
chức tín dụng
trong
nước,
bản: thứ nhất là
nguồn
vốn nội lực
của
bản thân
quốc
gia
đó. Với những
nước ở trình độ
phất
triển
thấp,
khả
năng
tiết
kiệm
không đáp ứng nhu
cầu
đầu
tư,
nếu
hạn
chế nhu
cáu
đầu
tư ờ mức
tiết
kiệm
cho phép
thì nền