Lạm phát kỳ vọng và Chính sách tiền tệ ở Ấn Độ Khám phá thực nghiệm - Pdf 13


Lạm phát kỳ vọng và
Chính sách tiền tệ ở
Ấn Độ: Khám phá
thực nghiệm
Michael Debarata Patra và Partha Ray

£ t

WP/10/84

IMF Working Paper IMF Working Paper
Office of the Executive Director
Lạm phát kỳ vọng và Chính sách tiền tệ ở Ấn Độ: Khám phá thực nghiệm
Thực hiện bởi Michael Debabrata Patra và Partha Ray
Bản quyền phân phối thuộc về Arviin Virmani
Tháng 3/2010
Giới thiệu
Bài nghiên cứu này không mang tính đại diện cho quan điểm của IMF. Quan điểm
trong Bài nghiên cứu này thuộc về (các) tác giả và không đại diện cho quan điểm của
IMF và chính sách của IMF. Bài nghiên cứu thể hiện quá trình nghiên cứu của (các) tác
giả và được xuất bản nhằm đưa ra các nhận định và cần tranh luận thêm.
Bài nghiên cứu này theo hướng sử dụng các kỹ thuật tính toán chuyên sâu để tính lạm
phát ở tương lai, dựa trên việc tìm kiếm các yếu tố quyết định của lạm phát kỳ vọng
bằng cách ước tính theo đường cong Phillips theo thuyết Keynes mới được xây dựng

Bảng 9: Kiểm định đồng liên kết vector LR theo Maximal Eigenvalue 29
Bảng 10: Kiểm định đồng liên kết vector LR theo Trace of Stochastic Matrix 29
Bảng 11: Ước lượng đồng liên kết vector theo Johansen Estimation 29

Đồ thị
Đồ thị 1: Consumer price inflation 5
Đồ thị 2: Biến động WPI và lạm phát CPI 6
Đồ thị 3: Lạm phát thực tế và mô phỏng (PI) 17
Đồ thị 4: Dự báo lạm phát của Consensus và lạm phát thực tế (tháng) 18
Đồ thị 5: Phản ứng đột xuất đối với thay đổi trong lãi suất thực 21

Phụ lục
Phụ lục I: yếu tố xác định lạm phát kỳ vọng 27
Phụ lục II: đồng liên kết vetor lạm phát kỳ vọng và các yếu tố quyết định 29

Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 1

I. Dẫn nhập
Trong vài tháng trở lại đây, những tín hiệu phục hồi trở lại từ cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đã rộng mở hơn. Nỗ lực ngăn chặn đà suy giảm được dẫn dắt từ sự phục
hồi mạnh mẽ của nền kinh tế khu vực Châu Á, mà ở đó các nền kinh tế riêng biệt đều
có những xuất phát điểm khác nhau trong một chu kì, ví dụ Ấn Độ và Trung Quốc cho
thấy sự phục hồi theo hình chữ V. Trong lúc, các nhà đánh phân tích kinh tế đang đánh
giá xem liệu có hay không điều tồi tệ nhất cũng đã trôi qua, thì có sự đồng tình rằng
các biện pháp “giải cứu” dường như giảm đi và không còn mạnh mẽ như trước, tình
trạng thất nghiệp và tín dụng đã được kiềm chế, ít nhất là trong giai đoạn gần đây. Tuy
nhiên, sự phục hồi này đang đứng trước một thách thức lớn. Đó chính là sự trở lại
mạnh mẽ của lạm phát, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển, và điều này đã
dấy lên nỗi lo về một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ sớm được thực hiện và khi đó sự

Giá cả thực phẩm tăng lên là sự tác động qua lại của những yếu tố mang tính cấu trúc
và chu kì. Mặc dù áp lực lạm phát từ sự gia tăng trong giá cả lương thực có thể giới
hạn quy mô ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, nhưng có những dấu hiệu cho thấy lạm
phát kỳ vọng nếu áp lực giá cả vẫn tiếp tục tồn tại. Nếu nỗi lo lạm phát được biến
thành kì vọng, không sớm thì muộn, chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với tình huống
tiến thoái trên. Điều này đòi hỏi sự điều hành thận trọng trong việc đánh đổi giữa hai
mục tiêu: nhu cầu tăng trưởng đòi hỏi chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài nhưng những
lo lắng về lạm phát thì đòi hỏi sự kết thúc nhanh hơn. Một sự kết thúc nhanh chóng do
nỗi lo lạm phát lại gia tăng rủi ro mất đi sự tăng trưởng vốn còn mong manh (chưa
vững chắc), trong khi đó một trì hoãn có thể gia tăng thêm lạm phát kỳ vọng
(Subbarao, 2009c). Một sự đánh đổi, được thiết lập để đạt được tăng trưởng rõ nét hơn,
đã thúc đẩy (GDP) để khép lại ở mức tăng 8% trong quý III/2009. Và cùng lúc đó, mọi
ý kiến cũng thống nhất cho rằng lạm phát sẽ tăng trở lại từ mức thấp hiện nay lên với
mức tương xứng (khoảng 8%) vào đầu năm 2010, nếu không sớm hơn. Vấn đề đặt ra là
chính sách tiền tệ nên phản ứng như thế nào và lúc nào khi mà các chỉ số đánh giá lạm
phát có những biến động mạnh theo chiều hướng tăng trở lại?
Nội dung của bài nghiên cứu này chủ yếu bàn về những gì mà chúng ta nghĩ về lạm
phát và yếu tố tác động đến ứng xử của chúng ta về vấn đề này. Mặc dù, bài nghiên
cứu chỉ tập trung trong phạm vi Ấn Độ, nhưng các phân tích và kết quả thu nhận được
chứa đựng giá trị tổng quát để có để áp dụng tốt trong những trường hợp tương tự ở
các quốc gia đang phát triển. Phần tiếp theo của bài nghiên cứu được bố cục thàng 4
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 3

phần mà đầu tiên là giới thiệu một số thực tế điển hình về động lực của lạm phát ở Ấn
Độ và sau đó chuyển sang phần phân tích – định lượng lạm phát kỳ vọng và chỉ ra
những yếu tố tác động – theo sau đó là đề xuất chính sách tiền tệ phù hợp với kết quả
thu nhận được từ mô hình kiểm định lạm phát kỳ vọng. Ở mỗi phần, bài nghiên cứu
chỉ ra những đóng góp quan trọng trước đó. Phần kết luận được trình bày trong phần
cuối của bài nghiên cứu.

xem xét lại tính bao quát và cập nhật năm cơ sở cho chỉ số WPI, cũng như những chỉ
số giá cả tiêu dùng như CPI – Thành thị và CPI – Nông thôn (RBI, 10/2009). Hệ số
khử lạm phát trong đo lường GDP cũng là tiêu chí tổng quát nhất về lạm phát ở Ấn Độ
nhưng nó chỉ có sẵn theo năm cơ sở với độ trễ dài. Những phương pháp đo lường chỉ
số lạm phát cơ sở và chính yếu đã được phát triển dựa trên nguyên tắc loại trừ và chọn
lọc những yếu tố có ý nghĩa, đặt biệt là ở RBI, nhưng thực tế vẫn còn mang tính lý
thuyết sâu sắc và không tìm thấy sự ủng hộ từ cộng đồng trên quan điểm về tính tự
nhiên của nó. Thực tế là thực phẩm và nhiên liệu – những hàng hóa tiêu biểu bị loại trừ
khỏi phương pháp định lượng – lại có ảnh hướng rất lớn trong rổ tiêu dùng. Những
năm gần đây, khi điều hành chủ yếu bởi các chỉ tiêu không chắc chắn, một nỗ lực đáng
ghi nhận đã được thực hiện bởi RBI là tiến hành những cuộc khảo sát về lạm phát kỳ
vọng, bao gồm cả cho những nhà dự báo chuyên nghiệp. Kết quả từ những khảo sát
này, khi được công bố hứa hẹn sẽ là một triển vọng thú vị đối với hoạt động nghiên
cứu và phân tích cho các nhà phân tích và cho việc thực thi chính sách vĩ mô.
Từ năm 2008, hai tình huống khác biệt trong sự biến động của lạm phát xảy ra khá rõ
ràng. Sự suy giảm của chỉ số WPI trong giai đoạn từ mức cao điểm xảy ra trong
08/2008 – khi giá cả hàng hóa thế giới tăng rất mạnh – cùng nhịp với sự sụt giảm của
lạm phát toàn cầu, ám chỉ mức độ liên thông chặt chẽ của Ấn Độ với chu kì kinh tế
toàn cầu. Lạm phát giá cả tiêu dùng tính theo năm giảm từ 4,9% xuống còn -0.3% vào
tháng 8/2009. Trong số những nền kinh tế lớn, lạm phát ở Mỹ, Nhật Bản và khu vực
Châu Âu diễn biến theo chiều hướng tiêu cực. Lạm phát chính yếu cũng giảm đi ở một
số nền kinh tế chủ chốt cùng với lạm phát giá cả sản xuất. Ở các quốc gia mới nổi, lạm
phát sụt giảm rõ rệt từ tháng 7/2008 cùng nhịp với sự sụt giảm trong giá cả hàng hóa
quốc tế và sự suy giảm trong hoạt động kinh tế gây ra bởi cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu. Trong số những nền kinh tế mới nổi, lạm phát giá cả tiêu dùng ở Trung Quốc
và Thái Lan chuyển sang tiêu cực vào đầu năm 2009, trong khi ở Malaysia bắt đầu
vào tháng 6/2009; những nền kinh tế khác cũng chứng kiến sự suy yếu đi trong áp lực
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 5


nhận mức tăng gần 20% so với tháng 2/2009, mặc dù yếu tố mùa vụ đã giảm đi rất
nhiều. Sự tăng giá các loại đậu là khoảng 32% vào ngày 13/3/2010. Lạm phát được
đánh giá dựa trên nhóm chỉ số CPIs đã tăng từ tháng 6/2008, chủ yếu là do sự gia tăng
trong giá cả thực phẩm, giá nhiên liệu và dịch vụ, và ghi nhận ở mức khoảng 16,2 -
17,6% trong suốt tháng 1/2010. Chỉ số giá tiêu dùng ở khu vực nông thôn (CPI –
Rural) ngày càng tăng với một tốc độ nhanh hơn so với các chỉ số khác. Sự phản ứng
của chính sách cho thấy các mặt tích cực cho nguồn cung:loại bỏ các hạn chế như giới
hạn lượng dự trữ để tạo điều kiện tư nhân mua bán trong mùa thu hoạch; hạn chế tiêu
dùng số lượng lớn đường nhằm để đảm bảo nguồn dự trữ và đẩy mạng cung ứng hàng
hóa thông qua hệ thống phân phối công; loại bỏ thuế nhập khẩu gạo, lúa mì và đường
thô; miễn thuế nhập khẩu đường tinh luyện bởi các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp
tư nhân được chỉ định. Có mối quan ngại tại Ấn Độ rằng lạm phát cao tồn tại kéo dài
có thể dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy và gia tăng mức độ lạm phát kỳ vọng.
Đồ thị 2: Biến động WPI và lạm phát CPI
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 7 Rõ ràng, RBI đang cho thấy sự lúng túng với việc lạm phát bắt đầu tích lũy tăng trở
lại. Vào tháng 4/2009, báo cáo thường niên về chính sách tiền tệ của RBI trong giai
đoạn 2009 – 2010 đã xác định lạm phát WPI xoay quanh mức 4% vào cuối tháng
3/2010. Bản cập nhật sau đó về Chính sách tiền tệ được phát hành tháng 7/2009 chú ý
rằng sự tiêu cực của chỉ số lạm phát WPI là do bởi những tác động cơ bản về mặt
thống kê và nó không cho thấy sự sụt giảm tương ứng trong lạm phát kỳ vọng.Theo đó,
kế hoạch lạm phát WPI đã được nâng lên mức 5%. Trong bản báo cáo về chính sách
tiền tệ số tháng 10/2009, RBI đã xác định rằng những tác động cơ sở, mà đã dẫn tới sự
tiêu cực của chỉ số lạm phát WPI trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8/2009, sẽ có
những ảnh hưởng theo chiều ngược lại theo hướng gia tăng lên bởi giá lương thực cao.
Những khảo sát về lạm phát kỳ vọng hàng quý của RBI đối với hộ gia đình chỉ ra rằng
phần lớn các đối tượng khảo sát mong đợi lạm phát sẽ tiếp tục tăng trong 3 tháng tới

theo và năm kế tiếp và (ii) phản hồi mang tính định lượng tại thời điểm hiện tại, tỷ lệ
lạm phát cho 3 tháng kế tiếp và một năm sau. Một Ủy Ban Tư vấn Kỹ thuật cho cuộc
khảo sát (TACS) đã được thiết lập trong suốt năm 2007 để kiểm tra sự tồn tại và khả
năng tin cậy đối với số liệu của cuộc khảo sát. Những phân tích của nó đã phát hiện ra
rằng mẫu nghiên cứu về tiêu thụ thay đổi qua các thành phố. Điều này cũng phản ánh
thông qua sự giao động giữa các thành phố lớn gần nhau trong những chỉ tiêu lo lường
giá cả có sẵn. Khoảng trống/biến động giữa các thành phố được giải quyết bằng
phương thức thay đổi mẫu theo hướng co hẹp khoảng từ 20 đến 30 điểm nhưng gia
tăng chuỗi thời gian, điều này chỉ ra rằng những đối tượng khảo sát có sự kết nối hơn
trong nhận thức về lạm phát hiện tại so với lạm phát kỳ vọng trong tương lai gần.
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 9

Dựa trên những phát hiện này, một nhóm trong nước đã khuyến khích kết quả của
cuộc khảo sát nên được công bố ra công chúng với sự kì vọng vào một sự cải cách
trong vấn đề minh bạch chính sách tiền tệ (RBI, tháng 9/2009). Tuy nhiên nó sẽ phải
mất một khoản thời gian để chuỗi dữ liệu được đầy đủ cho các phân tích dựa trên kết
quả này là có ý nghĩa. Điều này đặt ra vấn đế cho những nhà dự báo chuyên nghiệp
của RBI về việc xây dựng những nghiên cứu và cập nhật thường xuyên theo sự vận
động nền kinh tế – mở rộng cho những đối tượng Ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương
mại, sàn giao dịch chứng khoán, tổ chức môi giới quốc tế, cơ quan giáo dục chọn lọc,
cơ quan sếp hạng tín dụng, công ty chứng khoán, công ty quản lý tài sản…Những dự
báo mang tính định kì từng quý về biến số kinh tế vĩ mô quan trọng bao gồm lạm phát
là dựa trên WPI và CPI cho công nhân lĩnh vực công nghiệp đã được suy luận ra, cũng
như xác suất kết quả có thể xảy ra. Một số điểm nổi bật của cuộc khảo sát đã đưa ra
trong báo cáo quý của RBI nhưng một lần nữa không cho thấy chuỗi tự nhiên phù hợp
mà chỉ đưa ra những kết quả phân tích. Một nhận định tổng quan được thực hiện bởi
một nhóm thuộc RBI là mặc dù cuộc khảo sát là mới và dữ liệu chỉ thu thập trong
khoản thời gian ngắn, nhưng những dự báo về GDP thì sát với kết quả thực hơn những
dự báo trong lạm phát. Cuộc khảo sát sẽ cho ra những đánh giá tốt nếu có thể tiến hành

thường và trái phiếu có điều chỉnh theo chỉ số lạm phát với cùng một kỳ hạn thanh
toán; (2) hoán đổi lạm phát cung cấp một công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát và được
thể hiện qua phí bảo hiểm; (3) và những bảng khảo sát đo mức kỳ vọng lạm phát thông
qua việc hỏi ý kiến của dân chúng, đặc biệt khi họ nhận thức được những cách thức mà
thị trường tài chính phát tín hiệu lạm phát. Mỗi biện pháp có những thiếu sót của riêng
nó và điều này chứng minh là có những trở ngại nghiêm trọng cho phân tích thực
nghiệm. Chỉ số thị trường có thể phản ánh rủi ro và những nhân tố khác của thị trường
ngoài nhân tố lạm phát kỳ vọng. Ngay cả chỉ số kinh tế trực tiếp như dữ liệu quyết toán
tiền lương có thể phản ánh không chỉ lạm phát kỳ vọng mà còn những nhân tố như
năng suất và khả năng chi trả. Những đo lường bằng khảo sát nhạy cảm với các cách
thức đo lường liên quan đến lạm phát – CPI, WPI và hạt nhân lạm phát… Các cuộc
khảo sát nói chúng không chỉ định những chỉ số cụ thể vì thế kết quả của chúng phải
được giải thích một cách thận trọng. Một số bài nghiên cứu còn chỉ ra rằng bảng khảo
sát đưa ra những kết quả có tính biến động cao (Blanchflower và các cộng sự, 2009).
Vì vậy, chìa khóa để thiết lập chính sách tiền tệ trong tương lai là cách thức đo lường
lạm phát kỳ vọng. Trong trường hợp không có các cách thức thông thường thay thế thì
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 11

cách tiếp cận thứ hai là sự hình thành của lạm phát kỳ vọng với giả định hợp lý liên
quan đến nhân tố hành vi.
Đo lường lạm phát kỳ vọng tại Ấn Độ: Một cách tiếp cận thực tế
Đối với vấn đề này, một quy trình gồm hai giai đoạn được áp dụng để đo lường các
yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát kỳ vọng tại Ấn Độ. Đầu tiên, chúng tôi dựa vào hàng
loạt các lý thuyết để tiến hành tính toán lạm phát kỳ vọng dựa trên mô hình ước lượng
không chệch về lạm phát kỳ vọng và sau đó mở rộng cách tiếp cận theo hướng thực tế
để thu thập chuỗi dữ liệu theo thời gian của lạm phát kỳ vọng. Cách tiếp cận này dựa
trên 2 giả định: (1) hành vi hợp lý; (2) tất cả các thông tin đều được phản ánh dưới
những thay đổi trong giá cả, nhưng về bản chất thì cung tiền luôn biến động trong ngắn
hạn. Để thực hiện điều này, chỉ số giá được lấy từ dữ liệu WPI tháng, với các loại hàng

quả là đáng tin cậy, thực sự thể hiện mức kỳ vọng hợp lý vào tương lai của dân chúng.
Trên thực tế, có những khó khăn trong việc nhận dạng mô hình, đó là việc mô hình
chưa được ghi nhận trong bất kỳ lý thuyết hay công thức nào trước đó. Hơn nữa,
ARMA có thể dự đoán thiếu chính xác tại điểm ngoặt (turning point). Dù vậy, mô hình
ARMA được minh chứng minh là có thể dùng để dự báo lạm phát trong ngắn hạn khá
tốt, tốt hơn so với mô hình cấu trúc, cũng là yếu tố quan trọng khi xem xét chọn lựa
mô hình trong Bài nghiên cứu này (xem Stockton và Glassman, 1987; Litterman, 1986;
Meyler et al, 1998).
Với dữ liệu theo tháng, công thức phù hợp nhất để tính lạm phát là:
(1) t
t

]
Trong đó p, q, m và n tương ứng là bậc của AR, MA, SAR và SMA, và SAR và SMA
đại diện cho tính thời vụ đã được giải thích ở phần trên. Sử dụng công thức (1), dữ liệu
không chệch của dự báo lạm phát đại diện cho mức lạm phát kỳ vọng. Điều này được
thực hiện bằng cách tạo ra một chuỗi tĩnh theo hiệp phương sai.
Chúng tôi ý thức được rằng cách tiếp cận dựa trên mô hình lạm phát kỳ vọng sẽ mở ra

về lạm phát rõ ràng, nhưng vẫn có một sự thừa nhận ngầm về mức chịu đựng của xã
hội đối với lạm phát. Mô hình đã đưa vào các đặc trưng riêng biệt của một quốc gia
như lạm phát quá khứ để đánh giá sự tồn tại về độ trễ, output gap – chênh lệch giữ
GDP thực và GDP tiềm năng trong đó sử dụng tổng cầu để đo lường, tốc độ tăng
trưởng trong chi tiêu thực của chính phủ như một thước đo về quan điểm tài khóa, lãi
suất thực được xem như quan điểm về chính sách tiền tệ, những thay đổi trong lãi suất
thực được xem là đại diện cho chi phí biên, và giá của thực phẩm và nhiên liệu dùng
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 14

để khám phá tác động của các cú sốc ngoại sinh đến những khu vực mà nền kinh tế Ấn
Độ thường phụ thuộc vào và những yếu tố mà có ảnh hưởng nhất định đến quá trình
hình thành lạm phát. Về mặt cơ bản, sự hiện diện mức chênh lệch GDP – output gap,
các biến quan điểm chính sách, và các đại diện cho chi phí biên và các cú sốc ngoại
sinh được xem như các biến điều kiện để xác định mức độ tồn tại của kỳ vọng lạm
phát.
Để tìm ra các thành phần và độ trễ cơ cấu - lag structure cơ bản - đặc trưng cho quá
trình hình thành lạm phát kỳ vọng, chúng tôi sử dụng phương pháp khái quát đến cụ
thể của Hendry (liên quan đến phương pháp của trường kinh tế Luân Đôn – phương
pháp LSE) phương pháp này bắt chước thuyết rút gọn – theory of reduction để có được
mô hình kinh tế lượng cuối cùng. Thuyết rút gọn và phương pháp khái quát đến cụ thể
là nền tảng của phương pháp LSE cung cấp bước thực hiện mang tính thực nghiệm cao
mà khi đó các mô hình kinh tế lượng kết hợp các hiện tượng thực tế lại để đo lường
(Chao, 2001; Campos et al, 2004). Ý tưởng của một mô hình khái quát đến cụ thể là
dựa vào tính trực giác. Thay vì áp đặt một cách gượng gạo độ trễ cơ cấu vào mô hình,
lag structure nên bắt đầu từ một mô hình thống kê tổng quát, từ đó cho thấy các đặc
trưng chủ yếu của tập dữ liệu cơ sở. Tiếp theo thực hiện các bước thử nghiệm thống kê
chuẩn để giảm tính phức tạp bằng cách loại trừ các biến không có ý nghĩa thống kê và
kiểm tra tính giá trị (căn cứ vững chắc) của sự rút gọn để đảm bảo tính phù hợp của mô
hình. Khi quá trình rút gọn được lặp lại, các hướng để rút gọn có thể được xem xét, và c Qu
c Qu

Trong đó M
M M M

hợp lý cho những hạn chế về thông tin. Đầu những năm 1980, có một lượng lớn các
nghiên cứu đã được thực hiện mà kết quả chung là sự thất bại của những giả thuyết về
kỳ vọng hợp lý để hình thành lạm phát kỳ vọng (Batchelor và Dua, 1987; Pacquet,
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 16

1992 và Blanchflower et al, 2009 cung cấp một bằng chứng về đánh giá này; Millet,
2007 đặt tên cho khái niệm kỳ vọng có lý trí nhưng thực tế đã bị thất bại: “thuyết phụ
thuộc có thể dễ gây nguy hiểm như chính các dữ liệu phụ thuộc”). Một giải thích phổ
biến cho vấn đề này là các đại diện như hộ gia đình và thậm chí là các doanh nghiệp đã
thiếu tinh tế để có được các kỳ vọng một cách lý trí. Sự hiện diện của chi phí thông tin
và sự bất cân xứng là một trong những nhân tố chính khác. Hầu hết các khảo sát đều
không đáp ứng được yêu cầu. Nhiều người trả lời rằng họ không có ý kiến gì về tỷ lệ
lạm phát trong tương lai là bao nhiêu. Ngoài ra, kỳ vọng chỉ được tìm thấy khi nhìn về
những sự kiện xảy ra trong quá khứ và tồn tại một thực tế là quan điểm của các cá
nhân về lạm phát hiện tại là một nhân tố ý nghĩa cao quyết định lạm phát kỳ vọng.
Có nhiều Mô hình nghiên cứu về thông tin không hoàn hảo và những tác động lên kỳ
vọng lạm phát. Những mô hình này nêu lên các nhân tố ảnh hưởng lạm phát và có thể
vận dụng vào giải thích một số sự kiện xảy ra (Xem thêm Kiley, 2009). Ảnh hưởng lớn
phải kể đến mô hình vể mối quan hệ giữa giá cả và thông tin không linh hoạt
(Woodford, 2008). Biểu diễn dưới dạng đường cong Phillips theo học thuyết Keynes
mới thì giá bằng cách nào đó dẫn đến hành vi ở tương lai, còn lạm phát hiện tại được
xác định bởi kỳ vọng lạm phát, nhu cầu hiện tại, nhu cầu dự kiến và chi phí cận biên.
Mô hình được ứng dụng rộng rãi trong phân tích chính sách tiền tệ - “the closet thing
there is to a standard specification” (tạm dịch “là mô hình sát với các tiêu chuẩn kỹ
thuật nhất") (McCallum, 1997). Những đóng góp gần đây đã đưa thêm bằng chứng ủng
hộ đường cong Phillips mới theo học thuyết Keynes (Nghiên cứu của Gail và Gertler
năm 1999; nghiên cứu Brissimis và Magginas, 2008) và một số nghiên cứu khác chỉ ra
quy tắc đặt giá dựa vào dữ liệu quá khứ dường như được ưu tiên hơn là dựa vào tương
lai (Rudd và Whelan, năm 2005 xem thêm trong phần nội dung bài nghiên cứu này).

+ ε
t
+ 0.32ε
t-2
- 0.85ε
t-12
- 0.27ε
t-14

Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 18

Bảng 2: Thống kê mô tả hiệu quả mô hình.

Ngược lại, lạm phát kỳ vọng theo dự báo của các tổ chức tài chính báo cáo lên
Consensus Economics (ký hiệu là đường PIECONSENSUS trong Biểu đồ 4) theo đồ
thị dưới đây có dạng trung bình động và tạo thành một đường trung đạo đi qua các
điểm ngoặt của đường (PI). Để công bằng, các dự báo đại diện cho lạm phát kỳ vọng
phải lấy từ kết quả của trong các báo cáo về những khiếm khuyết trên thị trường tài
chính như các mẫu báo cáo bất bình đẳng, các phản ứng khác nhau đối với chính sách
tiền tệ dự kiến tùy thuộc vào vị trí trên đường cong lãi suất, thông tin bất cân xứng
đang thống trị thị trường tài chính Ấn Độ và đường trung bình gần đúng trong giai
đoạn dove và hawks, tiền được tạo ra trong giai đoạn giữa. Cùng lúc đó, với sự phát
triển của quá trình thu thập và xử lý dữ liệu, là điều kiện thuận lợi cho sự sinh sôi của
các thông tin về lạm phát kỳ vọng.
Đồ thị 4: Dự báo lạm phát của Consensus và lạm phát thực tế (tháng)

Bây giờ chúng ta chuyển sang câu hỏi quan trọng theo quan điểm chính sách: Những
yếu tố tác đông lạm phát kỳ vọng ở Ấn Độ?
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

phản ánh tầm quan trọng của giá thực phẩm nói riêng cũng như dự đoán lạm phát trong
tương lai của người tiêu dùng. Sự thay đổi giá của thực phẩm và nhiên liệu chiếm 40%
sự thay đổi của lạm phát kỳ vọng. Cho ta thấy được sự quan trọng của những mặt hàng
này trong rổ hàng tiêu dung bình quân ở những khu dân cư lớn của Ấn Độ, những yếu
tố trong việc thiết lập giá cũng và vai trò tiềm năng của chúng trong sự ảnh hưởng liên
tục. Những vấn đề liên quan đến sự độc lập của giá cả thế giới, mức độ tăng giá, lạm
phát nhập khẩu tương ứng cho thấy mối quan hệ trong sự biến động quá khứ. Vai trò
kế tiếp của giá cả thực phẩm và nhiên liệu trong việc ảnh hưởng đến dự báo lạm phát
là sự tuân thủ theo cú sốc cung ngoai sinh ngay cả nhập khẩu và thị trường nội địa.
Như dự định chênh lệch sản lượng với một tính hiệu tích cực và mang ý nghĩa đáng kể
đã chiếm 14% lạm phát kỳ vọng và chứng minh tác giả đã đúng khi sử dụng mô hình
mới của Keynesian giải thích việc dự đóan lạm phát ở Ấn Độ. Ở những quốc gia đang
phát triển, lạm phát bị chi phối bởi tăng cầu quá mức, địều này củng cố những tiên
đóan của tác giả về vai trò chính sách vĩ mô đến kỳ vọng ổn định. Những phát hiện cho
thấy chênh lệch sản lượng mang ý nghĩa thống kê, và cho thấy rằng ở một mức nào đó
tổng cầu sẽ chuyển thành lạm phát, điều này cho thấy tầm quan trọng của những chính
sách điều chỉnh đúng lúc.
Một yếu quan trọng đã được phát hiện trong quá trình nghiên cứu này đó là ảnh hưởng
của lãi suất thực đại diện cho cách thức điều hành chính sách tiền tệ. Trái ngược với
những nghiên cứu trước đây cho rằng tổng tiền chứa đựng những thông tin về lạm phát
trong tương lai, điều này đã được cải thiện sau cải cách tài chính (Callen và các cộng
sự, 1999), kinh nghiệm của tác giả cho thấy sử dụng cung tiền bao gồm tỷ lệ tăng
trưởng và chênh lệch mệnh giá đồng tiền không thể giải thích thỏa đáng. Mặt khác hệ
số của tỷ suất thực phù hợp vớt tác động của cuộc cải cách tài chính từ giữa thập niên
90. Những rào cản quy định được gỡ bỏ đối với tỳ suất và định hướng phát triển thị
trường đã cho thấy chính sách tiền tệ không độc lập và vai trò lớn trong việc xác định
lạm phát trong tương lai. Chính sách tiền tệ thay đổi kể từ cuối những năm 90 đã nhấn
Khóa 20 - Lớp TCDN Ngày 1 - Nhóm 2 GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trang 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status