BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THUỐC
LIPIDAN ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Phạm Vũ Khánh
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam
8444
HÀ NỘI - 2011
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALT aspartate amino transferase
AST alanin amino transferase
BC bạch cầu
BCTT bạch cầu trung tính
CCT chuột cống trắng
CNT chuột nhắt trắng
dd dung dịch
DĐVN III Dược điển Việt Nam lần xuất bản thứ 3
DĐVN IV Dược điển Việt Nam lần xuất bản thứ 4
Hb hemoglobin
HC hồng cầu
Hct hematocrit
hd hỗn dịch
HDL-C high density lipoprotein cholesterol
KQ kết quả
LDL-C low density lipoprotein cholesterol
LPD LIPIDAN
MN micronucleus (vi nhân)
MN/PCE tỷ lệ vi nhân/tế bào hồng cầu đa sắc
NC nghiên cứu
NCE normochromatic erythrocyte: hồ
ng cầu đơn sắc (hồng cầu trưởng thành)
PCE polychromatic erythrocyte: hồng cầu đa sắc (hồng cầu non)
PCE/NCE tỷ lệ hồng cầu đa sắc/hồng cầu đơn sắc/1000 tế bào/chuột nhắt trắng
PL phụ lục
5.5. Hậu phác nam 13
5.6. Ngũ gia bì chân chim 13
5.7. Sơn tra 13
5.8. Xa tiền tử 14
5.9. Sinh khương 14
CHƯƠNG 2 15
NGUYÊN LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1. Nguyên liệu nghiên cứu 15
1.1. Công thức bài thuốc LIPIDAN . 15
1.2. Hỗn dịch và dung dịch sử dụng trong nghiên cứu 15
2. Đối tượng nghiên cứu 16
3. Phương pháp nghiên cứu 16
3.1. Nghiên cứu bào chế viên nang LIPIDAN 16
3.2. Đánh giá các chỉ số kỹ thuật của viên nang LIPIDAN 17
3.3. Theo dõi độ ổn định của thuốc 20
3.4. Xác định độ an toàn của thuốc 20
3.5. Nghiên cứu tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu trên động vật thí
nghiệm 26
4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
4.1. Địa điểm 28
4.2. Thời gian 28
2
5.
Xử lý số liệu 28
6. Cách chọn mẫu, cỡ mẫu 28
6.1. Cách chọn mẫu 28
6.2. Cỡ mẫu 28
7. Các biện pháp khống chế sai số 29
8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng rối loạn chuyển hóa lipid máu là một trong những tình trạng
thường gặp ở các nước phát triển, có xu hướng tăng ngày càng nhanh ở các nước
đang phát triển. Đây là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng trong việc
hình thành bệnh vữa xơ động mạch. Ở nước ta, bệnh vữa xơ động mạch - với
các biến chứng như suy động mạch vành, đột tử, nhồi máu cơ
tim, nhồi máu não
trước đây ít gặp - đang có xu hướng tăng nhanh theo nhịp độ phát triển của xã
hội, dự báo sẽ trở thành một bệnh đáng lo ngại cho sức khỏe của người cao tuổi.
Ngoài bệnh vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu cũng được coi là yếu tố nguy
cơ quan trọng của một số bệnh tim mạch khác như: tăng huyết áp, đái tháo
đường [1],[2],[9]. Theo tài liệu c
ủa Tổ chức Y tế thế giới, ở các nước phát triển,
tử vong nhiều nhất là do bệnh tim (32%) mà chủ yếu là do vữa xơ động mạch,
rồi đến tai biến mạch máu não (13%), nhiều hơn hẳn các loại bệnh khác [9]. Giải
quyết rối loạn chuyển hóa lipid máu đã trở thành một mục tiêu trong các biện
pháp dự phòng tiên phát và thứ phát của các bệnh đó.
Công thức thuốc LIPIDAN được thành lập dựa trên c
ơ sở lý luận của y học
cổ truyền. Đây là bài thuốc kinh nghiệm đã được sử dụng dưới dạng thuốc sắc,
dùng để điều trị hội chứng rối loạn lipid máu trong nhiều năm cho kết quả khả
quan.
Để có thể sản xuất các chế phẩm thuốc cổ truyền trên dây chuyền công
nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của Bộ
Y tế; tạo điều kiện dễ
chung.
- Chu trình nội sinh: đây là chu trình tạo ra phần lớn lượng lipid trong cơ
thể. Tại gan, các sản phẩm chuyển hóa của cơ thể như: acetyl Co-enzym A,
glycerol-3-phosphate sẽ tham gia vào quá trình tổng hợp thành acid béo và
glycerin, từ đó tạo thành lipid trong cơ
thể.
Lipid được hấp thu vào cơ thể qua đường thức ăn và lipid được hình thành từ
con đường nội sinh tại gan đều được đưa vào tuần hoàn chung bằng cách gắn
với các apoprotein để tạo thành lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL - Very low
density lipoprotein) mà thành phần chủ yếu là triglycerid.
VLDL theo đường tuần hoàn tới mô mỡ, sau khi trao phần lớn triglycerid cho
mô mỡ, tỷ trọng tăng lên và lần lượt biến thành lipoprotein tỷ trọng trung gian
(IDL - Intermediate density lipoprotein) rồi lipoprotein tỷ trọ
ng thấp (LDL -
Low density lipoprotein) gồm đa số là cholesterol và phospholipid.
Sau khi trao cholesterol cho các tế bào theo nhu cầu, LDL chuyển thành
lipoprotein tỷ trọng cao (HDL - High density lipoprotein). HDL có tác dụng vận
chuyển cholesterol ra khỏi các mô ngoại vi về gan nếu mô thừa chất này [10].
Tác dụng của lipid trong cơ thể:
- Triglycerid được sử dụng vào việc cung cấp năng lượng cho cơ thể.
- Cholesterol, phospholipid và một số ít triglycerid tham gia cấu tạo nên
màng tế bào, màng các bào quan ở bào tương, thực thi một số chức năng trong tế
bào. Cholesterol còn là nguyên liệu ban đầu để tạo vitamin D, hormon sinh dục,
hormon thượng thận và muối mật
Một người được coi là có chỉ số lipid máu bình thường khi:
- Cholesterol: < 5,2mmol/l (200mg/dL)
5
- HDL-C: ≥ 0,9mmol/l (35mg/dL)
- LDL-C: < 3,4mmol/l (130mg/dL)
lượng insulin do tụy bài tiết ra không đủ để đáp ứng cho việc vận chuyển
glucose trong cơ thể, gây nên tình trạng đái tháo đường; đồng thời, glucose được
vận chuyển vào cơ thể quá nhiều sẽ tới gan để tham gia vào quá trình tạo thành
acid béo và triglycerid, từ đó gây rối loạn lipid máu.
+ Rối loạn chức năng một số tuyến nội tiết: một số tuyến n
ội tiết như
tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận bài tiết các hormon (GH, ACTH,
tyrosin, corticoid, adrenalin, noradrenalin) có tác dụng tham gia vào quá trình
6
chuyển hóa lipid trong cơ thể. Sự rối loạn chức năng của các tuyến nội tiết sẽ
gây nên tình trạng rối loạn lipid máu.
- Ngoài ra, tình trạng rối loạn lipd máu còn có tính chất gia đình hoặc liên
quan đến gen di truyền. [2], [4], [14], [15], [24]
3. Tình hình nghiên cứu bào chế thuốc điều trị hội chứng rối loạn lipid
máu
3.1. Ngoài nước
Hiện nay y học hiện đại có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất thuốc điều
trị hội chứng rối loạn lipid máu và đã tạo ra được các sản phẩm có tác dụng như:
3.1.1. Resin - bản chất là các nhựa trao đổi ion (Cholestyramin, Cholestipol)
[1], [2], [10], [14], [15], [17], [24]
Một số nghiên cứu tiế
n hành với nhựa trao đổi ion như LRC (Lipid Research
Clinic Coronary Primary Prevention Trial, 1984), CLAS (Cholesterol Lowering
Atherosclerosis Study, 1987), SCOR (San Francisco Specialized Center of
Research, 1990), STARS (St Thomas Atherosclerosis Regression Study, 1992)
đã chứng minh hiệu lực của thuốc.
- Tác dụng: thuốc uống không bị hấp thụ qua niêm mạc ruột, không bị các
men tiêu hoá tác động, có khả năng trao đổi ion Cl
-
- Thuốc ít có tác dụng không mong muốn.
3.1.4. Fibrat [1], [2], [10], [14], [15], [17], [24]
- Clofibrat (Misclerduon, Lipavlon), benzafibrat (Bezalip), fenofibrat
(Lipanthyl), gemfibrozil (Lopid)
- Các nghiên cứu về fibrat: BECAIT (Bezafibrat Coronary Atheroclerosis
Intervention Trial, 1996) với bezafibrat; nghiên cứu của Hahmann với fenofibrat
(1991); HHS (Helssinski Heart Study, 1987) với gemfibrozil Các thuốc này
hiện nay đang lưu hành phổ biến ở nước ta.
- Tác dụng: giảm dòng acid béo về gan, giảm tổng hợp VLDL, tăng độ
thanh thải VLDL, giảm hình thành LDL nhỏ và đặc dễ gây vữa xơ động mạch,
giảm oxy hoá LDL. Kết quả là làm giảm cả triglycerid và cholesterol, giảm
VLDL và LDL, tăng HDL; các fibrat còn làm gi
ảm kết tập tiểu cầu, giảm
fibrinogen, acid uric máu. Các fenofibrat còn làm giảm lượng lipoprotein(a).
gemfibrozil còn làm tăng tổng hợp apoproteinAI và AII.
- Tác dụng không mong muốn: đầy bụng, buồn nôn, ỉa lỏng, mẩn ngứa, có
thể tăng men gan, yếu cơ, sỏi mật.
3.1.5. Statin [1], [2], [10], [14], [15], [17], [24]
- Fluvastatin (Lescol), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Elisor),
simvastatin (Zocor)
- Các nghiên cứu về statin: 4S (Scandinavian Simvastatin Survival Study,
1994), MASS (Multicentre Anti-Atheroma Study, 1994), PLAC (Pravastatin
Limitation of Atheroclerosis in the Coronary Arrteries, 1993 - 1995) I và II,
WOSCOPS (The West of Scotland Coronary Prevention Statin Study, 1995),
REGRESS (The Regression Growth Evaluation Statin Study, 1995)
- Tác dụng: ức chế men HMGCoA reductase làm cản trở quá trình nội sinh
cholesterol trong tế
bào, tăng tổng hợp các cảm thụ cho LDL để tăng thoái giáng
LDL theo con đường các cảm thụ. Các statin làm giảm cholesterol là chính, làm
8
ức cần thiết.
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá tác dụng điều trị
rối loạn lipid máu của thuốc cổ truyền. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu mới
dừng lại ở việc đánh giá tác dụng của các bài thuốc trên thực nghiệm và lâm
sàng như:
3.2.1. Nghiên cứu độc vị
- Nghiên cứu tác dụng dược lý cây ngưu tất về tác dụng hạ cholesterol máu
và h
ạ huyết áp. [22]
- Bước đầu đánh giá tác dụng hạ cholesterol máu của alliso (tỏi). [18]
- Nghiên cứu tác dụng hạ cholesterol máu trên chế phẩm Bidentin bào chế
9
từ rễ cây ngưu tất. [2]
- Bước đầu đánh giá tác dụng điều trị cholesterol máu cao của ngưu tất.
[26]
- Nghiên cứu ứng dụng củ nghệ làm thuốc hạ cholesterol máu. [20]
- Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và chống tăng lipid máu của cây câu
kỷ tử và nấm linh chi. [24]
- Đánh giá tính an toàn và hiệu quả điều trị hội chứng rối loạn lipid máu
củ
a nấm Hồng chi Đà Lạt (Ganoderma lucidum). [32]
- Nghiên cứu tác dụng hạ lipid máu của nấm Hồng chi Đà Lạt (Ganoderma
lucidum) trên thực nghiệm. [33]
3.2.2. Nghiên cứu bài thuốc
- Nghiên cứu bài thuốc Giáng chỉ ẩm trong điều trị hội chứng rối loạn lipid
máu. [15]
- Nghiên cứu tác dụng của bài thuốc THB94 trong điều chỉnh rối loạn lipid
máu thể đàm thấp. [1]
- Nghiên cứu tác dụ
ng điều chỉnh hội chứng rối loạn lipid máu thể phong
t do tiên thiên quyết định, thường là tiên thiên bất túc, yếu
tố này có thể hiểu tương tự như yếu tố di truyền của y học hiện đại.
- Yếu tố ăn uống (ẩm thực): do ăn quá nhiều các chất cao lương, thức ăn
ngọt béo làm tổn thương tỳ vị, khiến vận hoá thất điều, đàm thấp nội sinh mà
dẫn đến bệnh tật. Y
ếu tố này tương tự như việc ăn quá nhiều thức ăn giàu mỡ
động vật chứa nhiều acid béo no theo y học hiện đại.
- Yếu tố ít vận động thể lực: sách Tố vấn thiên "Tuyên minh ngũ khí luận",
viết :"Cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục" (nằm nhiều hại khí, ngồi
nhiều hại cơ nhục). Thương khí dẫn đến khí hư, th
ương nhục dẫn đến tỳ hư, tỳ
khí hư suy mà gây ra bệnh. Y học hiện đại đã chứng minh vận động luyện tập
thể lực làm giảm LDL-C, tăng HDL-C.
- Yếu tố tinh thần (thất tình): lo nghĩ quá hại tỳ, giận dữ quá hại can, can
mộc vượng khắc tỳ thổ làm tỳ vị rối loạn, hư yếu, công năng vận hoá suy giảm,
đàm trọ
c ứ trệ kinh mạch mà sinh bệnh. Đây chính là yếu tố căng thẳng tinh thần
(stress) của y học hiện đại.
4.1. Nguyên tắc điều trị chứng đàm ẩm
- Vì bệnh có đặc điểm "bản hư tiêu thực" cho nên trong điều trị phải chú ý
cả tiêu lẫn bản.
- Phải chú trọng phép chữa đàm vì đàm trọc có vai trò quan trọng trong cơ
chế bệnh sinh.
- Trị đàm phải chú ý nguyên tắc "Trị đàm tiên trị khí, khí thuận đàm tự
tiêu"(Hải Thượng Lãn ông - Y trung quan kiện) và trong tr
ị đàm "nhất thiết
không nên vét sạch đàm đi" "vì đàm vốn có sẵn từ lúc sơ sinh và cũng là một vật
để nuôi sống nữa" (Hải Thượng Lãn ông) có nghĩa chỉ loại bỏ phần đàm dư thừa
mà thôi. [10], [16]
4.2. Phương pháp điều trị đàm
Bài thuốc LIPIDAN bao gồm các vị sau:
5.1. Trần bì [6], [7], [23]
- Tên khoa học: Pericarpium Citri reticulatae
- Bộ phận dùng: vỏ quả chín đã phơi hoặc sấy khô của cây quýt (Citrus
reticulata Blanco), họ Cam (Rutaceae).
- Hoạt chất chính: tinh dầu, flavonoid, vitamin A,B
- Tính vị: vị cay, đắng, tính ôn
- Quy kinh: can, thận
- Tác dụng: kiện tỳ, lý khí, táo thấp, hoá đàm
- Ứng dụng lâm sàng:
+ Chữa chứng đau do khí trệ.
+ Kích thích tiêu hóa.
+ Chữa nôn mửa do lạnh.
+ Chữa ỉa chảy do tỳ hư.
12
+ Chữa ho, long đờm do hàn thấp gây ra.
5.2. Bán hạ nam [7], [23], [31]
- Tên khoa học: Rhizoma Typhonii trilobati
- Bộ phận dùng: thân rễ già được chế biến thành phiến khô của cây chóc
chuột Typhonium trilobatum (L.)Schott, họ Ráy (Araceae).
- Hoạt chất chính: tinh bột, alcaloid
- Tính vị: sau khi bào chế còn ít cay, ít ngứa, tính ôn
- Quy kinh: tỳ, vị
- Tác dụng: sau khi chế với gừng có tác dụng: trị ho có đàm, hạ khí
- Ứng dụng lâm sàng:
+ Táo thấp hóa đàm: do tỳ vị không vận hóa thành đàm ẩm gây ho, đờm
nhiều, tức ngự
c, gầy, hoa mắt.
+ Chữa nôn mửa do lạnh, phụ nữ nôn do có thai.
+ Chữa đau họng.
(Lauraceae).
- Tính vị: vị cay, ngọt, tính ấm
- Quy kinh: tỳ, vị, đại trường
- Tác dụng:
hạ khí tán mãn, ôn trung táo thấp
- Ứng dụng lâm sàng:
+ Chữa chứng khí trệ gây đầy bụng, trướng, tức ngực, khó thở
+ Trừ đờm nhiều do đàm thấp.
+ Chữa cơn đau dạ dày do tỳ vị hư hàn.
+ Chữa nôn mửa do tỳ vị hư.
5.6. Ngũ gia bì chân chim [6], [7], [23]
- Tên khoa học:
Cortex Scheflerae heptaphyllae
- Bộ phận dùng: vỏ thân và vỏ cành đã phơi hay sấy khô của cây Ngũ gia bì
chân chim (Schefflera heptaphylla (L.) Frodin), họ Nhân sâm (Araliaceae).
- Hoạt chất chính: saponin, tanin, tinh dầu
- Tính vị: vị cay, đắng, thơm, tính ôn
- Quy kinh: can, thận
- Tác dụng: trừ phong thấp, tráng gân cốt
- Ứng dụng lâm sàng:
+ Lợi niệu.
+ Chữa đau khớp, đau dây thần kinh, đau các cơ do lạnh.
+ Chữa phù do thiế
u vitamin B
1
.
5.7. Sơn tra [6], [7], [23]
- Tên khoa
học: Fructus Mali
- Bộ phận dùng: quả chín đã thái phiến được phơi hay sấy khô của cây sơn
- Tác dụng: giải biểu, phát hãn, chữa nôn do lạnh, chỉ khái, giải độc
- Ứng dụng lâm sàng:
+ Chữa cảm mạo, nôn mửa, ho do lạnh.
+ Kích thích tiêu hóa, chống đầy, ợ hơi.
+ Giải độc và hạn ch
ế độc tính của các vị thuốc bán hạ, nam tinh, phụ tử.
15
CHƯƠNG 2
NGUYÊN LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nguyên liệu nghiên cứu
1.1. Công thức bài thuốc LIPIDAN (dùng trong 2 ngày - theo kinh nghiệm
điều trị).
Trần bì 08g Bán hạ chế 08g
Bạch linh 16g Hậu phác nam 06g
Mộc hương nam 10g Sơn tra 08g
Ngũ gia bì 08g Sinh khương 02g
Xa tiền tử 08g
Các tá dược sử dụng trong nghiên cứu:
- Bột Talc
- Tricalciphosphat
- PVP K30
- Cồn 96%
1.2. Hỗn dịch và dung dịch sử dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Hỗn d
ịch thuốc từ công thức bài thuốc LIPIDAN
Từ công thức bài thuốc LIPIDAN đã nêu ở trên, tiến hành sắc theo phương
pháp cổ truyền.
- Trần bì, hậu phác tán bột.
- Sinh khương: ép lấy nước.
Súc vật được nuôi trong phòng thí nghiệm với cùng điều kiện nhiệt độ, độ
ẩm, thời gian sáng - tối 12/12h. Thức ăn do Ban chăn nuôi động vật thí nghiệm
Học viện Quân y sản xuất, đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn dinh dưỡng. Nước
uống được cung cấp đầy đủ.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu bào chế
viên nang LIPIDAN
3.1.1. Bào chế cao khô LIPIDAN [6], [7], [8]
- Giai đoạn 1: sắc với nước đã khử khoáng (tỷ lệ nước:dược liệu = 4:1) theo
phương pháp truyền thống, thuốc được sắc 3 lần:
+ Lần 1, đun sôi (kể từ lúc sôi) 20 - 30 phút, lọc nóng qua rây 150.
+ Lần 2, đun sôi 40 phút, lọc nóng qua rây 150.
+ Lần 3, đun sôi 1 giờ, lọc nóng qua rây 150.
- Giai đoạn 2:
+ Dịch chiết lần 2 và lần 3 được gộp lại, cô trực tiếp thành cao lỏng (cao
lỏng lần 1)
+ Gộp dịch chiết lần 1 và cao lỏng lần 1, cô trực tiếp thành cao lỏng (cao
lỏng lần 2) rồi dùng cồn cao độ với tỉ lệ 1:1 để loại tạp.
+ Sau đó cao lỏng lần 2 đã loại tạp được cô đặc để đạt được thể chất quy
định, quá trình cô đặc và sấy khô dịch chiết được tiến hành trong các thiết bị
dưới áp suất giảm ở nhiệt độ không quá 60
0
C.
3.1.2. Bào chế viên nang LIPIDAN [6], [7], [8], [9]
Bào chế viên nang LIPIDAN theo phương pháp xát hạt ướt:
- Cao khô LIPIDAN + bột dược liệu và tá dược độn, tá dược dính
- Xát hạt ướt, sửa hạt
- Hạt thuốc + tá dược trơn
- Đóng nang
- Ép vỉ
- Dụng cụ, thuốc thử:
+ Bản mỏng silicagel G tráng sẵn của Merck, hoạt hóa ở 110
0
C trong 30
phút.
+ Ethyl acetat, ethanol (TT).
+ Dung môi triển khai sắc ký: Toluen - ethyl acetat - acid formic (5:4:1).
+ Đèn tử ngoại UV 366nm.
- Cách thử:
+ Dung dịch mẫu thử: lấy bột thuốc của 5 nang, thêm 70ml nước nóng,
khuấy kỹ, để nguội, ly tâm. Chuyển dịch ly tâm vào bình gạn, lắc kỹ với 30ml
ethyl acetat. Sau khi tách lớp, gạn lấy dịch chiết ethyl acetat, cô trên cách thủy
đến cạn. Hòa cắn trong 1ml ethanol được dung dịch chấm sắc ký.
+ Dung dịch mẫu
đối chiếu: lấy 2g trần bì đã cắt nhỏ, thêm 10ml nước,
đun sôi nhẹ 1 giờ, để nguội, lọc. Chuyển dịch lọc vào bình gạn, lắc kỹ với 30ml
ethyl acetat. Gạn lấy dịch chiết ethyl acetat, cô trên cách thủy đến cạn. Hòa cắn
18
trong 1ml ethanol được dung dịch chấm sắc ký.
Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20µl mỗi dung dịch thử và dung dịch đối
chiếu tại hai điểm A và B. Triển khai sắc ký cho đến khi dung môi di chuyển
được khoảng 12 - 13cm. Lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, quan sát
bản mỏng dưới đèn tử ngoại, bước sóng 366nm.
Kết quả: mẫu thử phải có các vết phát quang cùng màu, cùng R
f
với các vết
của mẫu đối chiếu.
∗ Ngũ gia bì chân chim: phương pháp sắc ký lớp mỏng (phụ lục 5.4,
DĐVN IV)
- Dụng cụ, thuốc thử:
thủy đến cạn. Hòa cắn trong 1ml ethanol được dung dịch chấm sắc ký.
Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20µl mỗi dung dịch thử và dung dịch đối
chiếu tại hai điểm A và B. Triển khai sắc ký cho đến khi dung môi di chuyển
được khoảng 11 - 12cm. Lấy bản mỏng ra, để khô ở nhiệt độ phòng, phun dung
dịch vanilin 1% trong hỗn hợp acid phosphoric-methanol (1:1), sấy ở
120
0
C cho
đến khi hiện rõ vết.
19
Kết quả: mẫu thử phải có các vết cùng màu, cùng R
f
với các vết của mẫu đối
chiếu.
∗ Bán hạ chế: phương pháp sắc ký lớp mỏng (phụ lục 5.4, DĐVN IV)
- Dụng cụ, thuốc thử:
+ Bản mỏng silicagel G tráng sẵn của Merck, hoạt hóa ở 110
0
C trong 30
phút.
+ Cột sắc ký trao đổi ion (cột thủy tinh hình trụ, đường kính trong 1,5 -
2cm, dài 20 - 25cm, phía dưới có vòi khóa, bên trong đã được nhồi nhựa trao đổi
cation loại H
+
.
+ Ethanol 50% (TT).
+ Dung môi triển khai sắc ký: n-butanol - acid acetic - nước (4:1:5).
+ Hiện màu: dung dịch ninhydrin 3% ethanol.
- Cách thử:
Cân 5g bột thuốc vào bình nón nút mài 200ml đã được tiệt trùng và đã biết
khối lượng. Thêm một lượng vừa đủ dung dịch natri clorid 0,9% vô trùng để thu
20
được dung dịch có nồng độ 10
-1
, lắc đều. Từ dung dịch trên, pha loãng thành các
nồng độ 10
-2
, 10
-3
và tiếp tục tiến hành thử theo phụ lục 13.6, DĐVN IV.
3.3. Theo dõi độ ổn định của thuốc [6], [7], [11]
Theo dõi tuổi thọ của 3 lô sản phẩm lưu ở điều kiện tủ vi khí hậu.
- Thời gian lưu: 4 tháng tính từ ngày sản xuất.
- Điều kiện bảo quản:
+ Nhiệt độ: 40
0
C ± 2
0
C
+ Độ ẩm: 70% ± 5%
- Chu kỳ lấy mẫu (tính cho mỗi lô sản phẩm): trước nghiên cứu, sau đó lấy
mẫu 1 tháng/lần x 4 lần.
Đánh giá độ ổn định của thuốc theo các tiêu chí sau: cảm quan, độ rã, định
tính, độ nhiễm khuẩn.
+ Hình thức cảm quan (theo TCCS)
+ Độ rã (theo phụ lục 11.6, DĐVN IV)
+ Định tính bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (phụ lục 5.4, DĐVN IV),
3.4. Xác định độ an toàn của thuốc [5], [37], [46], [47]
3.4.1. Xác định độc tính cấp [5], [37], [38], [43]
Xác định liều LD
50
của thuốc LIPIDAN trên chuột bằng đường uống theo
phương pháp Lichfield - Wilcoxon.
Chuột nhắt trắng nhịn đói 16 giờ, được chia thành 12 lô, mỗi lô 10 con.
Chuột được cho uống thuốc với các liều khác nhau tăng dần, từ liều cao nhất
không gây chết (g/kg) đến liều thấp nhất gây chết 100% chuột nhắt trắng, trong
cùng một thể tích là 2ml thuốc/100g trọng lượng cơ thể chuột, cho uống 3 lần
trong 24 giờ.
Chuộ
t được theo dõi tình trạng chung trong suốt 7 ngày và tỷ lệ chết trong 72
giờ của từng lô để xác định liều LD
50
.
21
3.4.2. Thử độc tính bán cấp [5], [34]
LIPIDAN đã được dự kiến liều điều trị sử dụng trên người, nên chúng tôi đã
ngoại suy từ liều trên người cho các thử nghiệm độc tính, có tham khảo liều chết
50% (LD
50
).
Thỏ được chia ngẫu nhiên thành 3 lô khác nhau, mỗi lô 12 con.
- Lô chứng uống nước lọc
- Lô uống viên nang LIPIDAN liều I: 100mg/100g trọng lượng cơ thể/ngày
(gấp 10 lần liều điều trị theo LD
50
)
- Lô uống viên nang LIPIDAN liều II: 150mg/100g trọng lượng cơ thể/ngày
.
Chuột nhắt trắng con được sinh ra từ thế hệ F
1
gọi là thế hệ F
2
.
Dùng LIPIDAN nghiền mịn, hòa trong nước lọc, cho chuột nhắt trắng thí
nghiệm uống qua kim cong tày đầu, mỗi con chuột nhắt trắng uống với thể tích
giống nhau là 2ml/100g trọng lượng cơ thể.
22
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu độc tính cấp (LD
50
), chúng tôi đã sử dụng
mức liều cho chuột nhắt trắng là 30mg/100g trọng lượng cơ thể/24h (gấp 3 lần
liều điều trị theo LD
50
).
Quy trình cho uống LIPIDAN: chuột nhắt trắng 160 con (gồm 40 con đực và
120 con cái), tách riêng đực - cái, nuôi 2 tuần trước khi nghiên cứu. Khi trọng
lượng cơ thể chuột nhắt trắng đạt đến 30g ± 3,0g, các chuột nhắt trắng được chia
một cách ngẫu nhiên vào các lô, đánh dấu, cân trọng lượng cơ thể và vẫn tách
riêng đực - cái, cho uống LIPIDAN vào buổi sáng hàng ngày trong 14 ngày,
thuốc được đưa vào dạ dày chuột qua kim cong tày đầu.
+ Lô chứng: cả chuột nh
ắt trắng đực và cái đều uống nước lọc.
+ Lô nghiên cứu I: chuột đực được uống LIPIDAN liều 30mg/100g trọng
lượng cơ thể chuột/24h, chuột cái không uống thuốc.
+ Lô nghiên cứu II: chuột đực không uống thuốc, chuột cái được uống
LIPIDAN liều 30mg/100g trọng lượng cơ thể chuột/24h.
+ Lô nghiên cứu III: cả chuột đực và chuột cái đều được uống LIPIDAN
, F
2
.
- Các loại dị tật bẩm sinh quan sát được.