MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG GIÁ CP VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ CP 1
1.1 PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1
1.1.1 Rủi ro không hệ thống 1
1.1.1.1 Rủi ro kinh doanh 1
1.1.1.2 Rủi ro tài chính 2
1.1.2) Rủi ro hệ thống 2
1.1.2.1 Rủi ro thị trường 3
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất 3
1.1.2.3 Rủi ro sức mua 4
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CHỨNG KHOÁN 4
1.2.1 Nhóm nhân tố cơ bản 5
1.2.2 Nhóm nhân tố vĩ mô 5
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ, LÃI SUẤT TỚI GIÁ CHỨNG KHOÁN 8
1.3.1 Tác động của nhân tố tỷ giá 8
1.3.1.1 Đối với các nhà đầu tư nước ngoài 8
1.3.1.2 Đối với các doanh nghiệp có hoạt động Xuất Nhập Khẩu 9
1.3.1.3 Đối với doanh nghiệp hoạt động thuần trong nước 10
1.3.1.4 Nhà đầu tư nước ngoài mua CK bằng đồng ngoại tệ 10
1.3.2 Tác động của rủi ro lãi suất 11
1.4 CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN 12
1.4.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM 12
1.4.1.1 Tổng quan về mô hình CAPM 12
2.4.6 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 47
2.4.7 Ý nghĩa các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình 48
2.4.8 Xác định tầm quan trọng của các nhân tố có trong mô hình 50
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH
LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ 55
3.1 Cách thức thực hiện chính sách tiền tệ nên uyển chuyển và mềm mại hơn
để tránh gây sốc cho thị trường 57
3.2 Nên có chế độ lãi suất phù hợp, thực hiện tăng lãi suất có kiểm soát 59
3.3 Thực hiện biện pháp tăng tỷ giá, giảm giá nội tệ để ổn định TTCK 60
3.4 Cho phép các doanh nghiệp được phát hành CP bằng ngoại tệ 60
3.5 Tiến hành mua ngoại tệ có mục tiêu và bước đi phù hợp 61
3.6 Tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và ngân sách 61
3.7 Hạn chế những bất cập trong việc điều hành chính sách và tăng cường
năng lực điều hành của các cơ quan chức năng 62
3.8 Xây dựng một cơ quan hoạch định chính sách kinh tế cao cấp 63
3.9 Kiểm soát đầu tư công 64
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CAPM :
Capital Asset Pricing Model (Mô hình định giá tài sản vốn).
APT :
Arbitrage Pricing Theory (Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá).
CML :
Capital Market Line (Đường thị trường vốn).
SML :
Security Market Line (Đường thị trường chứng khoán).
NHTM :
Ngân hàng thương mại
NHNN :
Ngân hàng nhà nước
DTBB :
Dự trữ bắt buộc
CP :
Cổ phiếu
CK :
Chứng khoán
BTC :
Bộ tài chính
KHĐT :
Kế hoạch đầu tư
BĐS :
Bất động sản
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ CHỨNG
KHOÁN 1
Hình 1.1: Kết hợp rủi ro - tỷ suất sinh lợi 14
Hình 1.2: Đường thị trường vốn 15
Hình 1.3: Đường thị trường CK SML (Security Market Line) 16
Hình 1.4: Beta của cổ phiếu 17
CHƯƠNG 2: : PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT, TỶ GIÁ
TỚI GIÁ CP THÔNG QUA CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ 22
Hình 2.1: Biến động của các loại lãi suất từ 06/1998 – 08/2002 32
Hình 2.2 : Biến động của lãi suất bình quân liên NH 06/05-10/06 33
Hình 2.3 : Đồ thị lãi suất và VN_index 34
Hình 2.4: % thay đổi tỷ giá hạch toán qua các tháng từ 9/04-12/07 36
Hình 2.5: Diễn biến tỷ giá USD/VND 38
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ 55 LỜI MỞ ĐẦU
Tầm quan trọng, ý nghĩa của đề tài
Một năm sau khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, kinh tế Việt Nam
đã có những bước phát triển đáng kể song đồng thời cũng bộc lộ những khiếm
khuyết của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Thế nhưng không thể phủ nhận một
điều kinh tế Việt Nam đang hòa nhập ngày càng sâu hơn và rộng hơn với thế giới.
Thị trường chứng khoán, một kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp cũng đang
từ tháng 8 năm 2004 đến tháng 12 năm 2007.
Phương pháp nghiên cứu
Bằng cách thu thập giá của các CP trên TTCK Việt Nam thời kỳ 8/2004 đến
12/2007, và tỷ giá – lãi suất theo công bố từ phương tiện thông tin đại chúng, các
nguồn số liệu được công bố từ chính phủ kết hợp với các phương pháp thống kê,
so sánh, phân tích đưa vào các mô hình để đưa ra các nhận xét về tính thực tiễn
của các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại khi được ứng dụng tại thị trường chứng
khoán Việt Nam
Với những phương pháp và phân tích đã nêu trên, chúng tôi muốn thông
qua bài luận để có thể giải thích thêm những tác động của tỷ giá và lãi suất ảnh
hưởng như thế nào đến giá của CP, và TTCK Việt Nam có thể thích hợp được với
mô hình nào mà chúng tôi đã đưa ra nhằm giúp cho những nhà đầu tư có cái nhìn
đúng đắn hơn đối với TSSL của CP
Nội dung của đề tài
Chương 1: Lý thuyết về rủi ro, các nhân tố ảnh hưởng tới giá CP và các mô
hình định giá cổ phiếu
Chương 2: Phân tích tác động của lãi suất, tỷ giá tới giá CP thông qua các
mô hình định giá
Chương 3: Một số kiến nghị trong việc điều hành chính sách lãi suất và tỷ
giá
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO, CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG GIÁ CỔ PHIẾU VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ
CỔ PHIẾU
1.1) PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Rủi ro là những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta
tiến hành. Dù muốn hay không, hầu hết những điều chúng ta làm đều chứa đựng
rủi ro. Hoạt động đầu tư cũng không thể tránh khỏi. Đó là lý do tại sao chúng ta
cần phải tìm hiểu các loại rủi ro, bản chất và đặc điểm của mỗi loại để có thể xác
định được mức độ rủi ro của công cụ mà chúng ta muốn đầu tư, từ đó quyết định
doanh nghiệp.
1.1.1.2 Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính liên quan đến đòn bẩy tài chính, hay nói cách khác liên
quan đến cơ cấu nợ của công ty. Sự xuất hiện các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ
tạo ra nghĩa vụ trả nợ, trả lãi của công ty. Công ty phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ(
gồm trả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc thanh toán cổ tức cho cổ
đông. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến giá cả CP công ty. Rủi ro tài chính có
thể tránh được nếu công ty không vay nợ.
1.1.2 Rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các CK. Sự bấp
bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất,
tốc độ lạm phát thay đổi…là những chứng minh cho rủi ro hệ thống, những biến
đổi này tác động đến sự dao động giá cả của các CK trên thị trường
1.1.2.1 Rủi ro thị trường
Giá CP có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu
nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau
nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của nhà đầu tư về các loại cổ nói
chung hay về một nhóm các CP nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời đối
với phần lớn các loại CP thường chủ yếu là do sự hy vọng của các nhà đầu tư vào
nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với các hiện
tượng trên thị trường. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân
gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn. Phản ứng dây chuyền
này làm tăng số lượng bán, giá cả CK sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền
thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung.
chúng tôi sẽ làm rõ điều đó
Đối với CK nói chung và CP nói riêng, khi lưu thông trên thị trường đều
tuân theo quy luật của thị trường. Giá cả của hàng hoá CK được hình thành dựa
trên quy luật cung cầu. Sự mất cân bằng trên thị trường sẽ dẫn đến những biến
động trong giá cả hàng hoá. Những nhân tố làm thay đổi lượng cung, lượng cầu
của CK trên thị trường chính là nhân tố làm thay đổi giá cả CK trên thị trường. Có
rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới giá của CK, ta có thể tạm chia thành hai nhóm nhân
tố: (1) nhóm nhân tố cơ bản - những nhân tố bên trong của CK đó; (2) nhóm nhân
tố vĩ mô – nhân tố bên ngoài. Khi định giá một CK để tiến hành giao dịch trên thị
trường, các nhà đầu tư thường dựa trên nhân tố cơ bản lẫn nhân tố vĩ mô để đưa ra
mức giá mua bán cho phù hợp. Tuỳ theo nhu cầu mà nhà đầu tư cân nhắc lựa chọn
mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố tới giá cả CK được lựa chọn 1.2.1 Nhóm nhân tố cơ bản
Đối với bất cứ một nhà đầu tư nào khi mua bán một CP trên thị trường, họ đều
dựa trên những nền tảng cơ bản của CP đó. Nhóm nhân tố cơ bản bao gồm
- Tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp: được phản ánh ở các chỉ tiêu như
thu nhập trên mỗi CP ( EPS), cổ tức, tốc độ tăng trưởng của doanh thu … . Đây là
các đối tượng được quan tâm hàng đầu khi nghiên cứu về một CP vì chúng phản
ánh những gì đã, đang và sắp xảy ra trong doanh nghiệp mà bạn định đầu tư.
Trong cùng một ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt
hơn các doanh nghiệp khác thì chắc chắn giá CP của doanh nghiệp đó được các
nhà đầu tư đánh gía cao hơn, và họ sẵn lòng chi ra nhiều tiền hơn để sở hữu được
CP đó. Bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp đầy đủ các số liệu nhà
đầu tư cần về các đối tượng trên.
- Hệ số định giá ( chỉ số P/E): chỉ số P/E cho biết mối tương quan giữa giá
CP và mức độ hiệu quả hoạt động của công ty đó. Theo lẽ thông thường EPS sẽ
được tính ở khoảng thời gian 12 tháng gần nhất, nhưng theo Banjamin Graham và
David Dodd, 2 giáo sư của Đại học Columbia thì chỉ số P/E nên so sánh giá CP
“xấu”, mua vào những CP “tốt” làm thay đổi lượng cung cầu các loại CP trên thị
trường. Qua đó giá CP cũng sẽ thay đổi. Bên cạnh đó chính sách thắt chặt tiền tệ
của chính phủ để kiềm chế lạm phát như tăng lãi suất chiết khấu, hạn chế tín
dụng, tăng cường thu nợ … cũng làm giảm lượng cung tiền cho CK, nhất là đối
với các đối tượng đi vay để đầu tư vào CK. Lãi suất chiết khấu của ngân hàng
tăng, các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để hút thêm tiền gửi trong dân
phục vụ cho hoạt đọng kinh doanh của mình. Lãi suất ngân hàng hấp dẫn hơn tỷ
suất sinh lợi của CK sẽ hút một lượng vốn từ CK sang, các nhà đầu tư sẽ bán ra
một số CK để chuyển sang tiền gửi. Các biến động trên đều có tác động làm thay
đổi lượng cung– cầu về CK trên thị trường, qua đó giá cả của các loại CK có sự
biến động lớn
Như vậy yếu tố lạm phát tác động trực tiếp vào doanh nghiệp, làm thay đổi
các yếu tố cơ bản của CP, từ đó điều chỉnh giá cả của CP. Ngoài ra lạm phát cao
còn gây ra những ảnh hưởng gián tiếp đến TTCK, làm thay đổi mức giá cả của
hàng hoá CK trên thị trường.
Ngoài 3 yếu tố lạm phát, lãi suất, tỷ giá, giá cả của hàng hoá CP còn chịu
ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:
- Triển vọng chung của nền kinh tế và của ngành. Có một số nghiên cứu
cho rằng không phải kết quả riêng lẻ của một công ty mà là sự kết hợp giữa tình
trạng chung của nền kinh tế và triển vọng của một ngành là yếu tố chính quyết
định mức giá CP của một công ty trong ngành đó.
- Các giao dịch bất thường: Việc mua bán xuất phát từ những lý do khác,
không dựa trên cơ sở giá trị nội tại của CP làm thay đổi một cách đáng kể cung –
cầu CP trên thị trường nên cũng làm ảnh hưởng đến giá của CP đó. Những giao
dịch này bao gồm giao dịch của các cổ đông nội bộ trong công ty hay giao dịch CP
quỹ, thường theo kế hoạch được công bố trước. Trong một chừng mực nào đó, các
giao dich này cũng có tác động đến cầu CP trên thị trường, tuy nhiên giá trị thực
của CP lại không được xác định dựa trên các giao dịch bất thường này.
- Tính thanh khoản của CP là cơ sở để nhà đàu tư lựa chọn CP, từ đó tác
động đến cầu của CP đó. Tính thanh khoản của CP phản ứng mức độ quan tâm của
1.3.1.1 Đối với các nhà đầu tư nước ngoài
- Thông thường, dòng vốn nước ngoài chảy vào thị trường tài chính rất
mạnh đặc biệt là TTCK nơi có TSSL cao. Nhà đầu tư nước ngoài chỉ mua CK khi
đồng nội tệ quốc gia đó yếu và bán ra khi đồng nội tệ của quốc gia đó mạnh lên.
- Nếu đồng nội tệ yếu thì chi phí để mua CK sẽ ít hơn, hay nói cách khác
với cùng một khối lượng ngoại tệ nhưng có thể mua được nhiều CK hơn so với khi
đồng nội tệ lên giá. Điều này thu hút nhà đầu tư nước ngoài nhiều hơn và sau một
thời gian đầu tư, họ sẽ bán CK khi đồng tiền nội tệ tăng giá
- Khi đồng nôi tệ yếu nhà đầu tư ngoại đa phần là các tổ chức nên có rất
nhiều kinh nghiệm về đầu tư tài chính, cộng thêm nguồn vốn dồi dào và có chiến
lược đầu tư trung, dài hạn nên ít chịu tác động của biến động giá CP. Với nguồn
lực tài chính mạnh, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chi phối TTCK và sẽ có những hoạt
động “làm giá” CP. Vì vậy giá CP sẽ được định giá không đúng với bản chất của
nó, sẽ được định giá cao hơn giá trị thật. Và nếu, đồng nội tệ được định giá cao sẽ
làm cho TTCK bớt sôi động hơn và do đó giá của CP sẽ giảm xuống
Tuy nhiên, nếu trên TTCK không có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài
thì dòng tiền chảy vào TTCK không bị chi phối bởi các nhà đầu tư nước ngoài.
Đồng thời thì giá CK cũng không bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỷ giá.
1.3.1.2 Đối với các doanh nghiệp có hoạt động Xuất Nhập Khẩu:
- Giá CP của một công ty cũng có thể chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái
nếu những người tham gia TTCK đánh giá thành quả công ty qua thu nhập được
báo cáo.
* Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu:
- Chính sách tỷ giá cũng ảnh hưởng rất nhiều đến giá CP. Nếu đồng nội tệ
giảm giá, xuất khẩu sẽ có lợi hơn, đồng thời doanh nghiệp có được lợi nhuận cao
từ hoạt động kinh doanh, TSSL trên CP cũng sẽ tăng, nhà đầu tư sẽ mua CP nhiều
hơn và làm cho giá CP sẽ cao hơn.
- Khi đồng nội tệ tăng giá, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bất lợi
hơn. Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đi vì lúc này dòng tiền ngoại tệ thu vào khi
chuyển sang nội tệ bị giảm đi rất nhiều, thậm chí có khi không bù được chi phí đã
tạo điều kiện cho doanh nghiệp không phải tốn chi phí đối với việc huy động và
mua bán ngoại tệ. Khi doanh nghiệp cần ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, nguyên
vật liệu thì cũng đã có nguồn ngoại tệ, khi xuất khẩu và thu về ngoại tệ thì dùng để
chi trả cổ tức. Quy định này của chính phủ cũng làm cho các công ty giảm được
rủi ro về tỷ giá, nâng mức lợi nhuận trong báo cáo thu nhập, và nhà đầu tư sẽ có
cái nhìn thiện cảm hơn đối với CP của công ty.
- Đối với các công ty đa quốc gia, việc chuyển tiền của công ty con ở ngoại
quốc về cho công ty mẹ dễ dàng hơn bằng cách mua cổ phần của công ty mẹ
Tuy nhiên, với quy định này có thể làm cho các công ty chịu sự chi phối
của các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài dễ thâu tóm các doanh
nghiệp trong nước rất nhiều
1.3.2 Tác động của rủi ro lãi suất
- Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro
không phân tán được khi đầu tư vào TTCK. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn
định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là
dao động trong mức lãi suất chung.
- Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái
phiếu Chính phủ. Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là không rủi ro.
Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn
không rủi ro. Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng
tới toàn bộ hệ thống CK, từ trái phiếu cho đến các loại CP rủi ro nhất.
- Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường.
Ví dụ, khi ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát hành thêm CK đế bù đắp, như
vậy sẽ làm tăng mức cung CK trên thị trường. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ
mua các trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại CK khác đang được
lưu hành. Do lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở nên hấp dẫn hơn và các
loại CK khác sẽ bị kém hấp dẫn đi. Hệ quả là, những nhà đầu tư sẽ mua trái phiếu
Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, và do vậy lãi suất trái phiếu công ty cũng
phải tăng lên. Lãi suất trái phiếu công ty tăng sẽ dẫn đến giá của các loại CP
thường và CP ưu đãi giảm xuống như một phản ứng dây chuyền.
thiểu yêu cầu, khi đó nhà đầu tư sẽ không tiến hành đầu tư. Các đường SML của
TTCK sẽ thể hiện kết quả của CAPM đối với các mức rủi ro khác nhau (β).
1.4.1.2 Các giả định của mô hình
iffiff
2
i
2
f
2
f
2
f
2
P
)w1(w2)w1(w
2
i
2
f
2
P
)w1(
if
2
i
2
fp
)w1()w1(
- E(R
f
)] = 0.
Tỷ suất sinh lợi mong đợi: E(R
p
) = w
f
.r
f
+ (1 - w
f
).E(R
i
)
Độ lệch chuẩn:
Vì
f
= 0;
fi
= 0
Độ lệch chuẩn
Tỷ suất sinh lợi
mong đ
ợi
A
r
bất động sản….
Danh mục thị trường bao gồm các tài sản rủi ro nên nó là danh mục đa dạng
hóa hoàn toàn có nghĩa là tất cả các rủi ro riêng của mỗi tài sản trong danh mục
đều được đa dạng hóa
* Đường thị trường CK SML (Security Market Line)
Như chúng ta đã biết, thước đo thích hợp của một tài sản riêng lẻ chính là
hiệp phương sai của nó với danh mục thị trường
Ta có: hiệp phương sai của thị trường với chính nó là phương sai của tỷ
suất sinh lợi thị trường COV
M,M
= σ
2
M
Như vậy, phương sai của đường rủi ro – tỷ suất sinh lợi ở hình trên là:
Độ lệch chuẩn
Tỷ suất sinh lợi
mong đ
ợi
r
f
M
E(R
i
)
0
Cov
iM
SM
2
M
r
f
Chúng ta định nghĩa
β
i
=
2
,
M
Mi
COV
Phương trình trên sẽ trở thành:
của CK
Có thể nói CAPM là một nỗ lực hết sức thành công đầu tiên đã chỉ ra rằng
làm thế nào để đánh giá rủi ro từ một cơ hội đầu tư tiềm năng và để ước lượng tỷ
suất sinh lợi mong đợi mà nhà đầu tư đòi hỏi khi đầu tư. Những cuộc kiểm tra trên
thực tiễn cũng đã ủng hộ mô hình CAPM, tuy nhiên CAPM không thực hiện một
cách chính xác như người ta mong muốn.
1.4.2 Tổng quan lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá( APT: Arbitrage
Pricing Theory)
1.4.2.1 Tổng quan về mô hình APT
Có một số hạn chế về mặt kỹ thuật đối với mô hình CAPM như mô hình
này dựa trên ý tưởng danh mục thị trường là danh mục không chỉ có giá trị trung
bình/ phương sai hiệu quả mà còn là một danh mục được đầu tư hoàn toàn với tỷ
số của TSSL vượt trội mong đợi so với độ lệch chuẩn là lớn nhất
Beta
âm
R
E(R
i
)
0
1,0
SM
)/(
2
, MMi