Công nghiệp hóa ở các nước Asean & khả năng vận dụng vào việt nam - Pdf 13

CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 1
Xuất phát điểm là một nớc nông nghiệp lạc hậu, sau khi chịu sự tàn phá nặng
nền bởi hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi
mới: chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, mở cửa đợc
hơn mời năm. Trong thời gian đó, nền kinh tế bắt đầu khởi sắc, đạt đợc một số thành
tựu quan trọng. Từ bớc khởi đầu nh vậy, chúng ta chuyển sang một thời kỳ phát triển
mới: thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Kinh nghiệm trong hơn mời năm
đó đã chỉ ra rằng những nỗ lực của bản thân là điều quyết định sự thành công của
chúng ta. Nhng để góp phần rút ngắn quá trình CNH, khắc phục tình trạng tụt hậu
nhằm tiến kịp các nớc đi trớc, chúng ta cần tham khảo kinh nghiệm của các nớc đã
thực hiện CNH, nhất là những nớc đang phát triển ở trong khu vực Asean - những nớc
có điều kiện kinh tế, xã hội và địa lý mang nhiều nét tơng đồng với chúng ta - đã thực
hiện khá thành công sự nghiệp CNH trong một khoảng thời gian tơng đối ngắn.
Chính từ sự cần thiết đó, CNH ở các nớc Asean và khả năng vận dụng vào
Việt Nam là một đề tài hay và thực sự hấp dẫn. Có thể nói, CNH là một cụm từ khá
phổ biến mà bất kỳ ai cũng đã từng bắt gặp một vài lần. Song, để có cái nhìn sâu sắc
về nó thì không phải là vấn đề đơn giản. Không chỉ là sự tìm hiểu về CNH, đề án còn
đòi hỏi có sự hiểu biết rộng lớn đối với quá trình CNH ở các nớc Asean: những chính
sách, biện pháp mà các nớc đã tiến hành để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với
nớc ta. Và đặc biệt quan trọng, từ những gì đã nghiên cứu kết hợp với hoàn cảnh cụ
thể của Việt Nam, chúng ta cần phải đa giải pháp thích hợp và có hiệu quả cao nhằm
thúc đẩy quá trình CNH-HĐH tại Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, CNH ở các n-
ớc Asean và khả năng vận dụng vào Việt Nam là một đề tài dễ mà cũng rất khó. Em
đã không ngần ngại khi quyết định chọn nó cho đề án kinh tế chính trị cũng chính bởi
tính hấp dẫn cùng với nhiều khó khăn thử thách nội hàm trong đó. Và có lẽ, điều cao
cả nhất mà ai cũng muốn đạt tới là tiếp thu đợc một lợng kiến thức nhất định của nhân
loại và góp phần nhỏ bé của mình cho quá trình CNH-HĐH của đất nớc.
Nội dung của đề án đợc sắp xếp thành 4 phần gồm có ba nội dung cơ bản:
Phần I và II sẽ giúp cho độc giả nắm sơ lợc khái niệm CNH, tính tất yếu
cần phải tiến hành CNH ở Việt Nam cũng nh tác dụng của nó đối với kinh tế, xã
hội và chính trị của quốc gia.

nghiên cứu và phân tích chủ yếu đề cập đến một số nớc Asean điển hình: Singapo,
Thái Lan, Inđônêxia,.... mà cha thể xem xét đến tất cả 11 thành viên trong khu vực.
Bên cạnh đó, do thời lợng có hạn, bản đề án này chỉ cho phép điểm qua những gì góp
phần quan trọng nhất cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và quá trình CNH nói
riêng. Chính vì thế, nó sẽ có giới hạn và hạn chế nhất định.
Ngoài ra, do sự giới hạn về kiến thức và khả năng, bản đề án tất yếu sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót. Hy vọng rằng, trong một lần khác, em sẽ quay lại đề tài
này với sự giúp đỡ góp ý của các thầy cô, sự hiểu biết sâu sắc hơn với nền kinh tế thế
giới của chính mình để tạo nên một công trình khoa học thực sự, góp phần đáng kể
cho kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển ngang tầm với các nớc trong khu vực và
trên thế giới. Và cuối cùng, em xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới Giảng viên Bộ
môn kinh tế chính trị - Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hiếu đã giúp đỡ trong quá trình
hoàn thành bản đề án.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2004
Sinh viên
Lê Thanh Huyền

CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 3

I Quan niệm về CNH
Trong lịch sử phát triển của nhiều nớc trên thế giới, CNH là biện pháp cốt lõi
để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, có công
nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Tính tất yếu này đã đợc các quốc gia thừa nhận. Song,
cũng nh các khái niệm kinh tế khác, khái niệm CNH luôn có sự thay đổi cùng với sự
phát triển của nền sản xuất xã hội, cùng với khoa học công nghệ tạo nên nhiều cách
hiểu khác nhau. Việc nhận thức đúng đắn khái niệm này có ý nghĩa to lớn cả về lý
luận và thực tiễn.
Một thời gian dài ở các nớc xã hội chủ nghĩa đã phổ biến quan niệm cho rằng:
CNH là quá trình liên tục hiện đại hóa nền kinh tế, thay đổi công nghệ cũ bằng công
nghệ tiên tiến hơn. Nh vậy, đây là quá trình phát triển kinh tế diễn ra lâu dài, bắt đầu

kinh tế. Nếu nh nền kinh tế nông nghiệp - nông thôn cổ truyền vận động và phát triển
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 4
trong khuôn khổ cơ chế tự cấp - tự túc, khép kín với sự thống trị của các quan hệ trao
đổi hiện vật trực tiếp thì trong nền kinh tế dựa trên nền tảng đại công nghiệp, cơ chế
vận hành phải là một cơ chế mang tính xã hội hóa cao và phổ biến rộng rãi các quan
hệ trao đổi sản phẩm của lao động. Hình thái hiện vật của nền kinh tế đợc thay thế
bằng hình thái xã hội hóa (hình thức giá trị). Nh vậy, xét trên tổng thể, CNH là một
quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế. Một mặt, đây là quá trình thay thế các phơng
tiện sản xuất dựa vào kỹ thuật thủ công; mặt khác, đây cũng chính là quá trình cải
biến các phơng thức sản xuất tiền t bản, thay thế chúng bằng phơng thức sản xuất dựa
trên nguyên tắc thể chế mới - nguyên tắc thị trờng.
Quan niệm mới về CNH của Đảng ta sẽ là cơ sở để tổng kết, đánh giá tiến trình
CNH-HĐH trong giai đoạn vừa qua, đồng thời có những định hớng chiến lợc cho giai
đoạn tiếp theo phù hợp với xu hớng phát triển chung của toàn xã hội.

II Tính tất yếu và tác dụng của CNH
1,Tính tất yếu khách quan của CNH
Giống nh các biện pháp kinh tế khác, CNH cũng tồn tại những mặt trái của nó.
Song tiến trình phát triển lịch sử khắc nghiệt từ trạng thái kinh tế truyền thống sang
trạng thái kinh tế hiện đại bắt buộc chúng ta phải trải qua quá trình CNH, dù muốn
hay không muốn. Theo Christian Coméliau, một chuyên gia lý luận về lĩnh vực này,
dù một số mô hình và chiến lợc phát triển tỏ ra không thành công, CNH vẫn là "chìa
khóa của sự phát triển", đặc biệt gắn chặt với sự tăng trởng bởi "CNH chẳng phải là
cái gì khác ngoài một phơng tiện đặc biệt mạnh mẽ để tăng năng suất của con ngời,
qua đó tăng số lợng sản phẩm, tính đa dạng và chất lợng sản phẩm. Tất nhiên CNH
không phải là mục đích "tự thân", cũng không phải là thứ thuốc thánh chữa trị căn
bệnh kém phát triển. Nhng không thể chối cãi đó là một nấc thang tất yếu trên con đ-
ờng phát triển kinh tế. CNH tạo ra nền kinh tế hiện đại với những u thế nổi bật: năng
suất lao động cao, cơ cấu sản phẩm đa dạng, công ăn việc làm phong phú, thu nhập
quốc dân chung và tính theo đầu ngời cao hơn nhiều so với nền kinh tế cha có CNH.

hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên
tiến. Muốn thực hiện nhanh chóng nhiệm vụ quan trọng trên, nhất thiết phải tiến hành
CNH, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp,
tạo ra những nhân tố cơ bản cho chủ nghĩa xã hội.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải có một nền
kinh tế tăng trởng và phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất. Tất cả các yếu tố đó đòi hỏi cần phải xây
dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ
để tạo ra đợc một năng suất lao động xã hội cao. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với
xuất phát điểm thấp, là một nớc nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật thấp
kém, trình độ của lực lợng sản xuất cha phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
mới đợc thiết lập, cha đợc hoàn thiện. Vì vậy, CNH chính là quá trình tạo nền tảng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa. Mỗi bớc tiến của quá
trình CNH-HĐH là một bớc tăng trởng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa.
Cho đến nay, CNH vẫn là một tất yếu lịch sử góp phần quan trọng "rút ngắn"
quá trình xây dựng và tạo những tiền đề căn bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, trong
điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển rất nhanh
chóng, những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan, có nhiều thời cơ và
cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở thách thức nền kinh tế của
chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, chúng ta cần phải chủ động
sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình CNH, tạo
ra thế và lực mới vợt qua những khó khăn, đẩy lùi nguy cơ, đa nền kinh tế tăng trởng,
phát triển bền vững.

2, Tác dụng của CNH
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 6
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đờng lối

là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội. Đặc biệt, nó góp phần tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tăng c-
ờng quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế của nhà nớc, giữ
vững chế độ chính trị, mãi là nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quá trình
CNH còn tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh;
trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế. Sự nghiệp CNH đất n-
ớc thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng
lãnh thổ hợp lý theo hớng chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các
vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn. Sự chuyên môn hóa cao là những điều
kiện cơ bản mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia có hiệu quả vào quan hệ kinh tế
quốc tế. Dựa vào thế mạnh vốn có của mình, Việt Nam ngày càng phát triển, tạo chỗ
đứng vững chắc trên trờng quốc tế. Không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế
tăng trởng phát triển cao, CNH tạo ra những tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và
hiện đại hóa nền quốc phòng-an ninh, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ mà nhân
dân ta đã dành đợc sau những năm tháng chiến tranh gian khổ và ác liệt. Sự nghiệp
quốc phòng và an ninh cần gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội.
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 7
Thành tựu của CNH tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế-
chính trị, văn hóa-xã hội, quốc phòng và an ninh. Do đó, thành công của sự nghiệp
CNH nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định thắng lợi của con đờng xã hội chủ
nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà CNH luôn đợc coi là
nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

III CNH ở các nớc Asean
1- Đặc điểm CNH ở các n ớc Asean
Khái quát quá trình CNH điển hình ở một số nớc Asean:
Singapo là nớc đầu tiên ở Đông Nam á thực hiện chiến lợc công nghiệp hóa
hớng về xuất khẩu vào giữa những năm 60 nhằm vơn tới các thị trờng rộng lớn bên
ngoài. Quá trình này đã đem lại tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất trong khu vực: 8%/

chế tạo máy chính xác, đồng thời cũng là trung tâm tài chính và buôn bán lớn nhất
Đông Nam á.
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 8
Thái Lan: Khác với những nền kinh tế khác trong khu vực, thành công của
Thái Lan chủ yếu dựa vào các sản phẩm nông sản và khoáng sản (lúa gạo, thiếc,
ngô,...) mà không phải ở hàng xuất khẩu chế biến. Đến khoảng những năm 70-80, nền
kinh tế nớc này bị suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và
khách quan. Cho đến năm 1986, sự chuyển hớng cơ cấu và chiến lợc phát triển giúp
cho khu vực chế biến của Thái Lan phát triển nhanh chóng. Do vậy, hàng xuất khẩu
chế biến chiếm hơn 66% tổng số hàng xuất khẩu. Đầu t nớc ngoài thực sự quan trọng
trong việc khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến đặc biệt là sự đầu t của Nhật
Bản. Bên cạnh đó, chiến lợc công nghiệp hớng ra xuất khẩu đợc áp dụng luôn cố gắng
tìm "kẽ hở" trong nền kinh tế thế giới để chen chân vào. Khác với Singapo, chính phủ
Thái Lan đợc coi là một trong những chính phủ ít có tính can thiệp nhất Asean bên
cạnh sự ra đời của Bộ Đầu T tạo điều kiện cho đầu t nớc ngoài. Chơng trình giảm và
miễn thuế nhập khẩu cho các nhà xuất khẩu đã đợc áp dụng tạo ra sự gia tăng mạnh
của xuất khẩu. Giống nh Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan ở t thế thuận lợi để tiếp nhận
các thị trờng tiêu thụ những hàng công nghệ phẩm dùng nhiều lao động với sự đầu t
kỹ thuật cao mà các nớc ở mức lơng cao ở Châu á không còn khả năng cạnh tranh.
Những nỗ lực liên tục trong xây dựng và phát triển kinh tế của Thái Lan đã đem lại
những kết quả làm ngời ta phải ngỡng mộ. Tốc độ kinh tế tăng trởng cao với mức trên
10% trong những năm 1987-1990 và trên dới 8% trong những năm 1991-1995. Bên
cạnh đó, Thái Lan còn tồn tại nhiều vấn đề nh: cơ sở hạ tầng thiếu thốn, thiếu lao
động lành nghề,...
Inđônêxia: Hầu hết các ngành kinh tế của Inđônêxia đều phát triển nhanh
chóng. Năm 1966, chính phủ Inđônêxia bắt đầu chơng trình CNH đất nớc. Những
ngành sản xuất hàng hóa không phải dầu mỏ đợc hỗ trợ đáng kể bằng các khoản trợ
cấp đầu vào, bảo hộ thuế quan, hạn chế số lợng nhập khẩu. Ngành chế tạo đã phát
triển nhanh chóng, nhng hầu nh toàn hớng vào sản xuất những mặt hàng thay thế nhập
khẩu. Chỉ sau khi giá dầu mỏ thế giới giảm mạnh, Inđônêxia mới bắt đầu khuyến

nghiệp chế biến, tìm kiếm thị trờng xuất khẩu, dỡ bỏ chế độ bảo hộ sản xuất công
nghiệp trong nớc... đã đợc ra đời. Trong những ngành công nghiệp xuất khẩu, chính
phủ Philippin đã đa ra chính sách cấm đình công và các doanh nghiệp loại này không
phải áp dụng luật mức lơng tối thiểu. Nhờ đó, nền kinh tế trong những năm 70 đã đạt
tốc độ tăng trởng 5-6%/năm. Tuy vậy, nền kinh tế Philippin còn phải đối mặt với
nhiều vấn đề phức tạp tạo ra những bớc phát triển thăng trầm. Những năm gần đây,
kinh tế Philippin đã bắt đầu khởi sắc với tốc độ tăng GNP là 5,1% năm 1994.
Malaysia chọn con đờng phát triển kinh tế bằng những bớc đi khác với các n-
ớc trong khu vực. Ngay sau khi giành đợc độc lập, Malaysia không vội vàng CNH mà
chú trọng phát triển nông nghiệp. Những năm 60, Malaysia tiếp tục phát triển nông
nghiệp đồng thời bắt đầu phát triển công nghiệp với các chính sách tự do đầu t nớc
ngoài, khuyến khích phát triển công nghiệp xuất khẩu. Vào thời gian này, 50 khu vực
mậu dịch tự do mời các công ty nớc ngoài vào hoạt động nhằm ba mục đích:
Một là, tạo việc làm cho lao động còn d thừa
Hai là, đào tạo công nhân, nâng cao tay nghề và trình độ quản lý sản xuất
cho những ngời làm thuê ở các cơ sở công nghiệp do chủ là ngời nớc ngoài đầu t
và điều hành
Ba là, sau khi hết thời hạn theo hợp đồng đã ký kết, các công ty nớc ngoài ra
đi sẽ để lại cơ sở vật chất và kỹ thuật đáng kể cho nền kinh tế Malaysia.
Ngoài ra, Malaysia còn chú ý đến phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp,
nổi bật nhất là sản xuất các máy móc nhằm cơ giới hóa việc gieo trồng các loại cây
mà nhập khẩu sẽ không phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới. Để thúc đẩy nhanh
quá trình CNH, đầu năm 1968, Malaysia công bố luật đầu t nớc ngoài. Luật đầu t nớc
ngoài đảm bảo với các chủ đầu t nhiều điều khoản quan trọng: cam kết không quốc
hữu hóa; cho phép các công ty họat động trong khu vực của đồng bảng Anh đợc phép
hoàn lại vốn; tự do chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài. Nhờ đó, Malaysia đã có một nền
kinh tế tăng trởng nhanh chóng trong hai thập kỷ 1970-1990 mà cơ bản là cơ cấu hàng
xuất khẩu. Sự cân đối phần lớn là dựa vào việc xuất khẩu sản phẩm chế tạo gồm: cấu
kiện và thiết bị điện tử, hàng dệt, quần áo và giầy dép, gỗ và dầu lửa... Ngoài ra,
Chính phủ Malaysia cũng đề cao chơng trình CNH công nghiệp nặng với nhiều tham

thuận lợi.
Nhờ đó, nền kinh tế-xã hội của khu vực Asean đã đạt đợc những bớc tiến đáng
kể. Nếu nh tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân mỗi năm tính theo tổng sản phẩm
trong nớc (GDP) của nền kinh tế thế giới từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay
chỉ đạt đợc 3,5% thì liên tiếp trong hai thập kỷ qua, các nớc Asean đã đợc tốc độ trên
dới 7%. Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tính theo giá cố định năm 1990 so với năm
1970 của Inđônêxia đã gấp 3,66 lần, bình quân mỗi năm tăng 6,7%. Tơng tự Malaysia
gấp 2,81 lần, tăng 6,9%; Philippin gấp 2,44 lần, tăng 3,9%; Singapo gấp 4,69 lần, tăng
8,0%; Thái Lan gấp 4,15 lần, tăng 7,4%. Những năm cuối thập kỷ 80, trong khi nền
kinh tế thế giới lâm vào tình trạng trì trệ, thậm chí một số nớc bị giảm sút thì các nớc
Asean đạt đợc t ốc độ tăng trởng cao, đặc biệt ở Thái Lan đạt tới tốc độ tăng hai
chữ số. Và dự báo rằng, Malaysia và Thái Lan sẽ sớm trở thành những "con rồng nhỏ"
của Châu á.
Thay đổi rõ nét nhất ở các nớc Asean là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một n-
ớc nông nghiệp sang một nớc công - nông nghiệp và dịch vụ. Điều này thể hiện ở việc
thay đổi phần đóng góp của các ngành vào tổng sản phẩm quốc nội ở một số nớc.
Bảng 1: Tỷ lệ các ngành trong GDP (%), 1970-1990
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1970 1980 1990 1970 1980 1990 1970 1980 1990
Inđônêxia 46,0 24,4 19,7 20,9 41,3 40,6 33,1 34,3 39,6
Thái Lan 30,2 20,6 14,2 25,7 30,8 35,3 44,1 48,6 50,1
Philippin 28,8 25,6 26,9 29,4 36,2 33,0 41,8 38,3 40,1
Malaysia 32,0 22,9 19,4 24,7 35,8 41,7 43,3 42,3 38,9
Singapo 2,3 1,1 0,3 29,8 35,9 35,9 67,9 60,0 63,8
Nguồn: Ngân hàng Phát triển Châu á - Asean Development Outlook (1991)
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 11
Theo bảng trên, sự thay đổi cơ cấu kinh tế diễn ra theo hớng giảm tỷ lệ ngành
nông nghiệp, tăng tỷ lệ ngành công nghiệp và dịch vụ. Đây cũng chính là xu hớng của
rất nhiều nớc trên thế giới, nh là một minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn của các n-
ớc trong khu vực trong quá trình CNH đất nớc.

việc tính toán phần giá trị gia tăng trong khu vực dịch vụ giữa các nớc. Mặc dù đã chú
ý đến điều này, Malaysia, Philippin, Singapo và Thái Lan vẫn có thể đợc xem là các
nớc có nền kinh tế tơng đối CNH hơn so với các nớc trong khu vực.
Bảng 3 dới đây sẽ trình bày cơ cấu ngành chế tạo của các nớc Đông Nam á.
Một điểm quan trọng là trong các nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, tổng giá trị
gia tăng ngành chế tạo do các ngành công nông nghiệp đóng góp lớn hơn nhiều. ở
Thái Lan, phần giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến và thực phẩm năm 1996
chiếm 55%, ở Inđônêxia là 23% và Philippin là 38%. Trái lại, ở Singapo, con số này
chỉ là 4%.
CNH ở các n ớc Asean & khả năng vận dụng vào Việt Nam 12
Bảng 3: Cơ cấu ngành chế tạo (phân tích theo lĩnh vực), 1970,1986
và 1996
Phần giá trị gia tăng của khu vực chế tạo (%)
Chế biến nông
sản và thực
phẩm
Dệt may Máy móc và
phơng tiện vận
chuyển
Hóa chất
70 86 96 70 86 96 70 86 96 70 86 96
Inđônêxia 18 23 23 7 11 19 5 10 15 7 10 9
Malaysia 26 21 8 3 5 5 8 23 40 9 14 9
Philippin 39 40 38 8 7 9 8 7 9 13 10 11
Singapo 12 6 4 5 5 1 28 46 59 4 8 8
Thái Lan 43 30 55 13 17 5 9 14 8 6 6 8
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Báo cáo phát triển thế giới, các số khác nhau
Ngân hàng Thế giới, Bảng tình hình thế giới, 1995
Ngân hàng Thế giới, Các chỉ số phát triển thế giới,1999
Do tính co giãn thu nhập của nhu cầu đối với phần giá trị gia tăng cho nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status