Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần viễn thông FPT giai đoạn 2009 - 2011 - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hội nhập, thị trường
viễn thông ngày càng được mở rộng và thu hút sự quan tâm không nhỏ của xã
hội.
Trong xu hướng đó, với lợi thế về sự đa dạng của sản phẩm cũng như
cách thức kinh doanh hợp lý, FPT Telecom đã tạo cho mình một chỗ đứng vững
chắc không chỉ trong lĩnh vực viễn thông trong nước và nước ngoài.
Tuy nhiên, song hành với sự phát triển cũng có những vấn đề chưa hợp lý
khiến sự tối đa hóa về lợi ích của doanh nghiệp vẫn chưa đạt được. Thêm vào
đó, là tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu, sự cạnh tranh mạnh mẽ
của các công ty khác đã khiến cho FPT Telecom gặp một số khó khăn nhất định
để phát triển kinh doanh dịch vụ
Xuất phát từ điều đó, nhóm 8 đã tiến hành phân tích báo cáo tài chính
công ty cổ phần viễn thông FPT giai đoạn 2009 - 2011 để có cái nhìn cụ thể
trong hoạt động tài chính của công ty. Từ đó, rút ra những điều đã và chưa làm
được. Đồng thời, có những phương án để cải thiện tình hình tài chính của công
ty trong những năm tới.
1 | P a g e
MỤC LỤC
1.1. Giới thiệu 2
1.2. Lĩnh vực hoạt động: 3
1.3. Sản phẩm – Dịch vụ: 4
1.4. Sơ đồ tổ chức Công ty 5
1.5. Công ty thành viên và liên kết 5
1.6. Tầm nhìn 6
II. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY 6
2.1. Phân tích vĩ mô 6
2.1.1. Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam giai đoạn 2009 – 2011 6
2.1.2 Tổng quan về ngành viễn thông năm 2011 7
2.2.2. Phân tích chỉ số 27
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG

Với phương châm “Mọi dịch vụ trên một kết nối”, FPT Telecom đã và
đang không ngừng đầu tư, triển khai và tích hợp ngày càng nhiều các dịch vụ
giá trị gia tăng trên cùng một đường truyền Internet. Ngoài ra, việc đẩy mạnh
hợp tác đầu tư với các đối tác viễn thông lớn trên thế giới, xây dựng các tuyến
cáp đi quốc tế… là những hướng đi FPT Telecom đang triển khai mạnh mẽ để
đưa các dịch vụ của mình ra khỏi biên giới Việt Nam, tiếp cận với thị trường
toàn cầu, nâng cao hơn nữa vị thế của một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông
hàng đầu.
1.2. Lĩnh vực hoạt động:
- Cung cấp hạ tầng mạng viễn thông cho dịch vụ Internet băng thông
rộng
- Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ viễn thông, Internet
- Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng Internet, điện thoại di động
3 | P a g e
- Dịch vụ tin nhắn, dữ liệu, thông tin giải trí trên mạng điện thoại di
động
- Cung cấp trò chơi trực tuyến trên mạng Internet, điện thoại di động
- Thiết lập hạ tầng mạng và cung cấp các dịch vụ viễn thông, Internet
- Xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông và Internet.
1.3. Sản phẩm – Dịch vụ:
- Internet băng thông rộng
- Kênh thuê riêng Data
- Nội dung số:
- Lưu trữ trực tuyến Fshare
- Quảng cáo trực tuyến
- Báo điện tử
- Trò chơi trực tuyến
4 | P a g e
1.4. Sơ đồ tổ chức Công ty
1.5. Công ty thành viên và liên kết

- Kinh tế vĩ mô không ổn định, các chính sách tài chính tiền tệ của nhà
nước thay đổi nhanh nhưng mang tính đối phó và ngắn hạn.
- Thị trường chứng khoán bùng nổ trong 2 năm 2007-2008, sau đó suy
thoái dần và rất sâu, dưới những tác động không lành mạnh và không kiểm soát
được, TTCK mất dần chức năng và vai trò đối với nền kinh tế và từng doanh
nghiệp, làm mất niềm tin của nhà đầu tư.
6 | P a g e
2.1.2 Tổng quan về ngành viễn thông năm 2011
Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, đến hết năm
2011, tổng số thuê bao điện thoại cả nước được đăng ký và hoạt động là 130,5
triệu, trong đó thuê bao di động chiếm 90,4%. Toàn quốc hiện có trên 31 triệu
người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ 35% dân số; tổng số thuê bao Internet băng
rộng là 9 triệu, đạt tỷ lệ 10,2 % dân số. Sau 3 năm triển khai xây dựng hạ tầng
mạng di động 3G, hiện nay tổng số trạm thu phát sóng (BTS) 3G của các doanh
nghiệp đạt 33.700 trạm, vượt mục tiêu đề ra và phủ sóng được 91,5% dân số.
Hiện có khoảng 12,8 triệu thuê bao 3G trên tất cả các mạng.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng doanh thu thuần toàn ngành
bưu chính, viễn thông năm 2011 ước tính đạt 167,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3%
so với năm 2010. Về doanh thu của các doanh nghiệp trong ngành, Tập đoàn
VNPT và Tập đoàn Viettel vẫn dẫn đầu. Tổng doanh thu của VNPT trong năm
2011 ước đạt 120.800 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2010 (trong đó dịch vụ
bưu chính và viễn thông đạt 103.864 tỷ đồng), nộp ngân sách 7.880 tỷ đồng,
bằng 90,27% so với năm 2010. Số thuê bao di động của VNPT (bao gồm 2
mạng VinaPhone và MobiFone) là khoảng 83 triệu. Về Viettel, trong năm vừa
qua, tổng doanh thu ước đạt 116.012 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu phát sinh
trong nước là 105.432 tỷ đồng và ngoài nước là 10.580 tỷ đồng. Năm 2011,
Viettel nộp ngân sách nhà nước 9.453 tỷ đồng. Hiện nay tổng số thuê bao di
động của Viettel là 57,79 triệu, trong đó thuê bao trả sau là 3,25 triệu.
Ngoài ra, hiện nay có trên 500 doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất
kinh doanh trong ngành công nghiệp nội dung số Việt nam, điển hình VTC,

quản lý từ các nhà khai thác nước ngoài thông qua việc hợp tác với các nhà khai
thác lớn trên thế giới để phát triển, hiện đại hoá mạng lưới và cung cấp dịch vụ,
đồng thời cơ hội từng bước thâm nhập ra thị trường khu vực và trên thế giới.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển cho từng doanh
nghiệp và cho cả ngành viễn thông và CNTT Việt Nam. Cạnh tranh phát triển
tạo cơ hội cho các doanh nghiệp viễn thông trong nước tự đổi mới và tái cơ cấu
8 | P a g e
để hoạt động có hiệu quả, cải cách quy trình quản lý, khai thác, tập trung nguồn
lực vào các lĩnh vực mang tính chiến lược, nâng cao chất lượng dịch vụ và chất
lượng chăm sóc khách hàng. Đi kèm với đó là sự chia sẻ về thị phần thị trường
một cách đáng kể khi các tập đoàn viễn thông lớn đầu tư vào Việt Nam. Ngoài
ra, các doanh nghiệp nước ngoài khi liên doanh có quyền nâng mức góp vốn lên
cao hơn, khả năng kiểm soát của họ đối với việc điều hành kinh doanh dịch vụ
cũng lớn hơn. Đây cũng là chính là nguy cơ, thách thức mà các doanh nghiệp
viễn thông Việt phải đối mặt.
Thị trường trong tương lai sẽ biến chuyển khó lường hơn, tuy nhiên, cho
dù thị trường di động được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại, song điều đó cũng
chưa phải đến mức đáng lo trong năm 2012. Vì trên thực tế, nhiều ngành hàng
có tiềm năng gia tăng nguồn thu sẽ được triển khai mạnh trong những năm tới.
Xác định rõ những cơ hội và thách thức của mình, để có thể khẳng định
được vị thế, bảo vệ thương hiệu của mình trong môi trường cạnh tranh ngày
càng khốc liệt hiện nay, không còn cách nào khác là các doanh nghiệp ngành
điện tử, viễn thông sẽ phải có những chính sách, hướng phát triển thực sự bền
vững
2.1.3. Phân tích SWOT về FPT Telecom
* Điểm mạnh:
Tuy là một công ty mới được thành lập trong năm 2005, tuổi đời còn rất
trẻ song Công ty Cổ phần Viễn thông FPT lại đạt được thành tích tăng trưởng
rất xuất sắc so với mặt bằng nền kinh tế Việt Nam. Sự xuất sắc đó có được là do
Công ty có nhiều thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình.

phần hóa).
- Thị trường di động chủ yếu tập trung vào khu đô thị lớn, trong khi đó,
các khu vực về nông thôn vẫn chưa phát triển, nhất là mạng 3G mới chỉ chiếm
10 | P a g e
10%, vì thế nội dung số vẫn rất thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu của người
tiêu dùng.
* Cơ hội
- Cạnh tranh gia tăng trên thị trường di động sẽ thức đẩy tăng trưởng
toàn thị trường viễn thông, và FPT Telecom cũng không phải là một ngoại lệ.
Điều này vừa là khó khăn cũng vừa là động lực để FPT Telecom vươn lên
khẳng định vị thế. Cùng với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu
nghiên cứu và phát triển ngành công nghệ viễn thông, tập đoàn FPT nói chung
và FPT Telecom nói riêng luôn có thế mạnh trong việc tìm tòi, phát triển sản
phẩm mới, mang tính đột phá trên thị trường.
- Ngành viễn thông ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nhanh
với rất nhiều tiềm năng to lớn, tăng trưởng bình quân của thị trường trong 3
năm gần đây là 26% ( Theo số liệu tin học TP.Hồ Chí Minh). Điều đó là dấu
hiệu khả quan với những doanh nghiệp trong ngành viễn thông, số người sử
dụng tăng lên, các dịch vụ đa dạng hơn, là cơ hôi để các doanh nghiệp mở
rộng quy mô hoạt động, nâng cao các chất lượng sản xuất cũng như đổi mới
các dịch vụ chăm sóc khách hàng.
* Nguy cơ:
- Quá trình phân cấp quản lý nhà nước diễn ra chậm chạp
- 1/3 làng xã Việt Nam nằm tại các vùng núi non rất khó để triển khai
dịch vụ viễn thông, làm cản trở việc phát triển mạng cố đinh, di động và
Internet.
- Tỷ lệ thuê bao di động ngừng hoạt động chưa được xác định rõ ràng,
tạo ra sự không minh bạch trên thị trường di động.
- Sự gia tăng cạnh tranh có thể dẫn đến chiến tranh về giá cước, quá đó
có thể làm giảm nghiêm trọng chất lượng dịch vụ.

rõ hơn về sự tăng lên đột ngột của TSNH cả về số lượng lẫn tỷ trọng, ta xem xét
các chỉ số tiêu biểu sau:
12 | P a g e
- Tiền và các khoản tương đương tiền:
Có thể nhận thấy sự biến động không đều đặn trong khoản mục này qua
các năm. Cụ thể là vào các năm 2009, 2010, 2011, con số này lần lượt là 278,15
tỷ đồng, giảm xuống còn 152,7 tỷ đồng (giảm 45,14%) và lại bất ngờ tăng vọt
lên đến 725,75 tỷ đồng (tăng gần 4 lần so với 2010). Tỷ trọng của khoản mục
này trong tổng tài sản cũng biến động theo cung xu hướng trên. Có thể đi đến
kết luận sơ bộ rằng hoạt động quản lý tiền mặt của công ty đã tốt hơn rất nhiều
so với 2 năm liền trước. Dự đoán với lượng tiền mặt tăng nhanh như vậy, khả
năng thanh toán tức thời của công ty là rất tốt.
- Đầu tư tài chính ngắn hạn và hàng tồn kho:
Cuối năm 2011, 2 khoản mục này đều giảm lần lượt là 92,93% và 36,05%
so với số đầu năm. Thứ nhất, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn giảm vào cuối
năm 2011 có thể là do chính sách muốn giữ tiền mặt nhằm mục đích thanh toán
của công ty hoặc cũng có thể do các khoản đầu tư này đã đến hạn thanh toán, sự
giảm sút đầu tư tài chính ngắn hạn đã đóng góp một phần khá lớn vào lượng
tiền tăng lên của công ty vào cuối năm, 236,65 tỷ đồng. Thứ 2, khoản mục hàng
tồn kho là một chỉ số nữa góp phần làm nên sự gia tăng của dòng tiền. Sau khi
HTK của cuối năm 2010 tăng 185,89% so với năm 2009 thì đến cuối năm 2011,
tỷ lệ biến động này là -36,5%. Có thể thấy rõ nỗ lực giảm HTK của doanh
nghiệp là rất đang hoan nghênh, mặc dù HTK không ảnh hưởng quá lớn đối với
lượng tiền nhưng cho thấy sự quản lý HTK của doanh nghiệp là hiệu quả, giảm
thiểu các nguy cơ ứ đọng vốn, đồng thời góp phần cải thiện khả năng thanh toán
của công ty.
- Phải thu ngắn hạn:
Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong TSNH, tỷ trọng này
biến động rất ít, qua các năm 2009, 2010, 2011 con số này lần lượt là 10,78%,
12,17% và 12,89%. Xu hướng biến động về mặt lượng của khoản mục này là

2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
A. NỢ PHẢI TRẢ 846,10 0,49 863,01 0,41 1.235,28 0,58 16,91 0,02 372,27 0,43
I. Nợ ngắn hạn 621,12 0,36 861,03 0,41 1.233,70 0,58 239,91 0,39 372,67 0,43
1. Vay và nợ ngắn hạn 112,75 0,07 71,13 0,03 - - (41,62) (0,37) (71,13) (1,00)
2. Phải trả người bán 282,11 0,16 385,86 0,18 224,53 0,11 103,75 0,37 (161,33) (0,42)
3. Người mua trả tiền
trước
8,43 0,00 15,75 0,01 30,61 0,01 7,32 0,87 14,86 0,94
4. Thuế và các khoản phải
nộp NN

1.724,75 1,00 2.122,95 1,00 2.418,60 1,14 398,20 0,23 295,65 0,14
16 | P a g e
Tổng nguồn vốn tăng lên với quy mô khá lớn, từ 1724,75 tỷ tăng lên
23,09% vào năm 2010 và tiếp tục tăng thêm 13,93%, đạt mức 2418,6 tỷ vào năm
2011. Như trên đã phân tích về xu hướng biến động của TS, dưới đây ta tiếp tục
phân tích biến động của Nguồn vốn để có được cái nhìn sâu sắc hơn về xu
hướng biến động của tổng TS bắt nguồn từ đâu và sẽ đi về đâu. Để làm được
điều đó, ta xem xét các khoản mục chính như sau:
a. Phân tích diễn biến Nợ phải trả
Biến động của khoản mục này là không ổn định. Năm 2009, Nợ là 846,1
tỷ đồng, sang đến năm 2010 con số này dao động không lớn, tăng 2%, đạt
863,01 tỷ đồng, nhưng đến năm 2011, nợ bất ngờ vọt lên tới 1235,28 tỷ đồng,
tăng 43,14%. Theo đó, tỷ trọng nợ trong Tổng nguồn vốn cũng biến động tăng.
Qua 3 năm, con số này lần lượt là 36,01%, 40,56% và 51,07%. Cụ thể Nợ phải
trả biến động như thế nào, ta xem xét các khoản mục chi tiết hơn.
- Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn chiếm đại đa số trong toàn bộ nợ của công ty và dao động
theo đúng xu hướng của tổng nợ như đã phân tích ở trên. Khoản mục phải trả
người bán chiếm đa số trong nợ ngắn hạn và có xu hướng biến động không ổn
định. Đạt 281,11 tỷ đồng năm 2009, tăng lên 36,78%, đạt mức 385,86 tỷ đồng
năm 2010 và lại giảm xuống 41,82%, còn 224,53 tỷ đồng vào năm 2011. Phải
trả người bán cũng chiếm một phần quan trọng trong tổng nguồn vốn của công
ty. Số vốn chiếm dụng được này sẽ giúp công ty tài trợ một phần lớn cho tài sản
của mình.Ngoài ra các khoản mục người mua trả tiền trước, phải trả công nhân
viên, thuế và các khoản phải nộp khác…dù không chiếm tỷ trọng lớn trong
nguồn vốn nhưng cũng là những nguồn vốn rẻ và hữu ích để công ty tài trợ cho
tài sản. Hơn nữa những khoản mục này đều có xu hướng tăng lên cho thấy khả
năng tận dụng được nguồn vốn rẻ bên ngoài của doanh nghiệp ngày càng tốt
hơn.
- Nợ dài hạn

quan trọng nhất. Nguồn vốn này có xu hướng tăng qua các năm. Từ 593,98 tỷ
đồng vào năm 2009, đã tăng lên 39,92% đạt mức 831,07 tỷ đồng vào năm 2010
và lại tiếp tục tăng thêm 19,97% lên tới 997,02 tỷ đồng năm 2011. Giải thích
cho sự tăng trưởng này ta dễ thấy một trong các lí do là trong các năm số lượng
cổ phiếu phát hành ra ngày một nhiều do đó làm tăng lượng vốn cố đông.
Thành phần quan trọng thứ 2 trong vốn cổ đông là lợi nhuận sau thuế
chưa phân phối. Chỉ số này có sự biến động không được tốt như vốn cổ đông.
Cụ thể, năm 2009 con số này ở mức 249,1 tỷ đồng, sang năm 2010 tăng thêm
43,6% đạt mức 357,71 tỷ đồng nhưng sang đến năm 2011 thì bất ngờ giảm
18 | P a g e
mạnh 76,06% còn 85,64 tỷ đồng. Đây là một bất lợi trong hoạt động tài trợ bằng
vốn chủ của công ty. Ngoài ra các thành phần khác như là thặng dư vốn cổ phần
vầ cổ phiếu quỹ thì đến năm 2010 mới có và chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong NV.
- Lợi ích của cổ đông thiểu số
Thành phần này chiếm tỷ trọng trong nguồn vốn dao động trong khoảng
2%-4% và có xu hướng tăng lên. Điều này phản ánh sự mở rộng quy mô hoạt
động của các công ty thành viên, chi nhánh liên doanh liên kết đồng thời cũng
phán ảnh kết quả hoạt đông ngày một tốt lên của những thành viên này.
Nói chung là trong 3 năm qua, sự tăng trưởng nguồn vốn là đều đặn và ổn
định. Nguồn vốn có xu hướng tập trung vào nợ nhiều hơn là vốn chủ. Lợi ích
của cổ đông thiểu số vẫn là “thiểu số” nhưng đang từng bước nâng cao vị thế
của mình. Doanh nghiệp cần tiếp tục nghiên cứu để tìm được cơ cấu vốn hợp lý
và chủ động lựa chọn những phương án tài trợ cho nguồn vốn phù hợp và tránh
những tác động tiêu cực từ thị trường.
2.2.1.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 2011
Bảng 2.3 Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 2011
Diễn biến sử dụng vốn Số tiền (tỷ đồng) Tỷ lệ %
1. Tiền và các khoản tương đương tiền 573,15 193,86%
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (236,65) -80,04%
3. Phải thu khách hàng 69,42 23,48%

13. Vốn điều lệ 165,95 56,13%
14. Thặng dư vốn cổ phần (0,19) -0,06%
15. Cổ phiếu quỹ (0,56) -0,19%
16. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối (272,07) -92,02%
17. Lợi ích của cổ đông thiểu số 30,25 10,23%
18. TỔNG 295,65 100%
a. Phân tích diễn biến nguồn vốn.
Trong năm 2011:
Nguồn vốn tăng 819,53 tỷ đồng gồm có:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: 259,98 tỷ đồng (chiếm 32%)
+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: 559,55 tỷ đồng (chiếm 68%)
Nguồn vốn giảm 523,8 tỷ đồng gồm có:
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp giảm 227.93 tỷ đồng (chiếm 52%):
+ Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp giảm 250,87 tỷ đồng (chiếm 48%)
Như vậy có thể thấy trong năm 2011, Nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt
động của doanh nghiệp dựa một phần lớn vào các nguồn từ bên ngoài (68%),
20 | P a g e
trong đó lại chủ yếu là vốn chiếm dụng được của các tổ chức, cá nhân bên ngoài,
nguồn vốn này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí lãi vay tuy nhiên lại
không bền vững và làm doanh nghiệp khó có thể chủ động kiểm soát tình hình.
Trong khi đó, lượng vốn giảm chia đều cho cả 2 dòng vốn bên ngoài và bên
trong chứng tỏ sự cân xứng một cách tương đối trong hoạt động quản lý các
nguồn vốn của doanh nghiệp. Điều này là hợp lý trong bối cảnh kinh tế khó
khăn chung và các doanh nghiệp phải cạnh tranh rất lớn để có được vốn đầu tư
cho hoạt động SXKD của mình
b. Phân tích diễn biến sử dụng vốn
Trong tổng số vốn huy động được khoảng 819,53 tỷ đồng, trong đó 68%
là vốn từ bên ngoài. Bên cạnh đó, do nguồn vốn tài trợ cho tài sản giảm 523,8 tỷ
đồng nên tài sản cũng bị giảm một khoản tương đương như vậy và được thể hiện
trong các khoản mục đầu tư tài chính ngắn hạn, tài sản cố định, hàng tồn kho…

Số tiền
(Tỷ đồng)
Tỷ lệ %
tăng giảm
1. Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ
1.864,85 2.467,22 3.500,17 602,37 32,30% 1.032,95 41,87%
2. Các khoản giảm trừ
doanh thu
13,33 9,82 10,88 (3,51) -26,33% 1,06 10,79%
3. DT thuần về bán hàng
và cung cấp dịch vụ
1.851,52 100,00% 2.457,39 100,00% 3.489,28 100,00% 605,87 32,72% 1.031,89 41,99%
4. Giá vốn hàng bán và
dịch vụ cung cấp
691,71 37,36% 1.227,35 49,95% 1.917,91 54,97% 535,64 77,44% 690,56 56,26%
5. LN gộp về bán hàng
và cung cấp dịch vụ
1.159,81 62,64% 1.230,04 50,05% 1.571,37 45,03% 70,23 6,06% 341,33 27,75%
6. DT hoạt động tài chính 32,75 1,77% 55,72 2,27% 76,44 2,19% 22,97 70,14% 20,72 37,19%
7. Chi phí hoạt động tài
chính
13,97 0,75% 30,32 1,23% 25,23 0,72% 16,35 117,04% (5,09) -16,79%
Trong đó: chi phí lãi vay 4,42 0,24% 13,92 0,57% 3,53 0,10% 9,50 214,93% (10,39) -74,64%
8. Chi phí bán hàng 96,89 5,23% 113,94 4,64% 175,15 5,02% 17,05 17,60% 61,21 53,72%
9. Chi phí quản lý DN 539,98 29,16% 540,31 21,99% 646,22 18,52% 0,33 0,06% 105,91 19,60%
22 | P a g e
10. Lợi nhuận thuần từ
HĐKD
541,72 29,26% 601,20 24,46% 801,22 22,96% 59,48 10,98% 200,02 33,27%

Trước hết ta xem xét phần quan trọng hơn, lợi nhuận từ hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Qua 3 năm, doanh thu thuần tăng lên với quy mô lớn. Năm 2009, DTT là
1851,52 tỷ đồng, sang đến năm 2010, DTT tăng lên 32,72% đạt 2457,39 tỷ
đồng, đến năm 2011, DTT lại tiếp tục tăng 41,99%, đạt đến 3489,28 tỷ đồng.
Quy mô đã tăng gần gấp 3 sau 3 năm.
Tuy nhiên, trong DTT, các loại chi phí như giá vốn hàng bán, chi phí tài
chính, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp… lại chiếm tỷ trọng khá lớn và
còn có xu hướng tăng lên. Cụ thể là:
- Về chi phí giá vốn hàng bán và dịch vụ cung cấp
Năm 2009, tỷ trọng của giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần là 37,36%,
sang đến năm 2010, con số này đã là 49,95% và đến năm 2011 thì tỷ trọng này
lại tiếp tục tăng lên và đạt tới mức 54,97%. Điều này cho thấy sự quản lý chi phí
giá vốn của công ty là chưa hiệu quả, giá vốn lớn sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực
đối với lợi nhuận đạt được.
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Hai loại chi phí này chiếm tỷ trọng không hề nhỏ trong DTT. Năm 2009,
tỷ trọng này là 34,39%, đến năm 2010, giảm đôi chút còn 26,63%, sang đến năm
2011 con số này giảm chỉ còn 23,54% Có thể thấy ttrong 3 năm qua công ty đã
thực hiện khá tốt công việc cắt giảm chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp,
tạo tiền đề để thực hiện các bước tinh giảm ở các lĩnh vực khác mạnh mẽ hơn.
- Doanh thu hoạt động tài chính.
Chỉ tiêu này mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong DTT, chỉ dao động
trong khoảng từ 2-3%, tuy nhiên xu hướng tăng lên mạnh mẽ của chỉ tiêu này
cũng là một tín hiệu đáng mừng,. Cụ thể là vào năm 2010, chỉ tiêu này tăng
70,14% so với năm 2009 và lại tiếp tục tăng thêm 37,19% vào năm 2011. Nếu
biết cách tận dụng và nhanh nhạy trong đầu từ tài chính thì món lợi từ hoạt động
này mang lại cho công ty chắc chắn sẽ không hề nhỏ.
Kế đến ta xem xét một khoản mục rất quan trọng khác, chi phí tài chính
mà chủ yếu là chi phí lãi vay. Do tình hình huy động vốn khó khăn, lãi suất cho

bán. Cụ thể qua 3 năm, tỷ trọng lần lượt là 24,32%, 21,04% và 19,11%.
- Lãi cơ bản trên cổ phiếu.
Con số này qua 3 năm lần lượt là 7.838VND, 4.795VND và 5.870VND.
Tại sao lợi nhuận sau thuế tăng lên qua các năm mà lãi cơ bản trên cổ phiếu lại
25 | P a g e

Trích đoạn MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status