BỘ TƯ PHÁP
TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
******* ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP BỘ NĂM 2007 Đề tài
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG, NHU CẦU PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN VÀ XÂY DỰNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO YÊU CẦU CẢI
CÁCH TƯ PHÁP
Chủ nhiệm Đề tài : PGS.TS Nguyễn Văn Luyện
Thư ký Đề tài : TS. Nguyễn Quang Thái
8216
Hà Nội, 01/2010
Tư pháp.
3. CN. Nguyễn Thị Bích Chiến - Nguyên Trưởng phòng
Tổ chức cán bộ - Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp.
4. CN. Lê Quang Tiến - Cục trưởng Cục Thi hành án dân
sự thành phố Hà Nội - Bộ Tư pháp.
5. TS. Lê Thị Thu Hà - Trưởng Khoa đào tạo Chấp hành
viên & các chức danh tư pháp khác - Học viện Tư
pháp
6. ThS. Lại Thị Bích Ngà - Khoa đào tạo Chấp hành viên
& các chức danh tư pháp khác - Học viện Tư pháp
7. ThS. Bùi Nguyễn Phương Lê - Khoa đào tạo Chấp hành
viên & các chức danh tư pháp khác - Học viện Tư pháp
8. ThS. Phạm Thúy Hồng & ThS. Cao Thị Kim Trinh
Khoa Đào tạo CHV & các chức danh tư pháp khác, Học
viện Tư pháp
9. Th.s Lê Thị Kim Dung - Trưởng phòng Giải quyết khiếu
nại tố cáo - Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp.
10. Th.s Nguyễn Văn Nghĩa - CV T
ổng cục Thi hành án
dân sự - Bộ Tư pháp.
11. Th.s Đào Thị Hoài Thu - CVC Tổng cục Thi hành án
dân sự - Bộ Tư pháp.
3
MỤC LỤC
trong thời gian tới
99
3.2. Gi
ải pháp phát triển đội ngũ chấp hành viên trong thời gian tới
107
3.3. Định hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chấp hành
viên
122
4 Phần II. HỆ CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI
138
Chuyên đề 1:
Một số vấn đề cơ bản về Chấp hành viên
139
Chuyên đề 2:
Vấn đề quản trị và phát triển nguồn nhân lực (quản lý,
đào tạo, sử dụng, phát triển con người) - liên hệ với việc phát triển đội ngũ
chấp hành viên
167
Chuyên đề 3:
Đặc thù nghề nghiệp công việc của chấp hành viên thi
hành án dân sự
205
Chuyên đề 4:
Mối tương quan giữa khối lượng công việc và số lượng
Chuyên đề 11:
Nhu cầu về đội ngũ chấp hành viên từ nay đến năm
2010, định hướng đến năm 2020
453
Chuyên đề 12:
Dự kiến chương trình khung về đào tạo chấp hành viên
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
480
Mục lục 509
Danh mục tài liệu tham khảo 511 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. THA Thi hành án
2. THADS Thi hành án dân sự
3. TA Tòa án
4. XHCN Xã hội chủ nghĩa
5. CQTHA Cơ quan thi hành án
6. CQTHADS Cơ quan thi hành án dân sự
7. CHV Chấp hành viên
8. BA, QĐ Bản án, quyết định
9. TAND Tòa án nhân dân
10. PL Pháp luật
11. CQQLNN Cơ quan quản lý nhà nước
12. VKSND Viện kiểm sát nhân dân
13. CBCC Cán bộ công chức
chính sách phù hợp để thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho nền công
vụ; v.v
1
Đội ngũ chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cũng không nằm ngoài
tình trạng nói trên. Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp, đội ngũ chấp hành
viên ở nước ta còn tồn tại những điểm khiếm khuyết như: chấp hành viên còn lúng
túng về các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự, việc đào
tạo Chấp hành viên còn mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, việc đào t
ạo chuẩn hoá
trình độ chấp hành viên còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức Những vấn đề
này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác thi hành án.
1
Báo cáo thẩm tra Dự án Luật cán bộ, công chức. 7
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân, vai
trò và ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự ngày càng được nhận thức đầy đủ
hơn, có vị trí xứng đáng trong hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư
pháp Việt Nam. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt
động thi hành án dân
sự cũng được ban hành và hoàn thiện đảm bảo khung pháp lý về tổ chức hoạt động
và việc thực thi các phán quyết dân sự của Toà án. Hoạt động thi hành án trong thời
gian qua đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận, tổ chức và hoạt động của cơ
quan thi hành án được hoàn thiện dần, đội ngũ chấp hành viên được tăng cường về
số lượng và đào tạo về k
cao (chỉ 300 Chấp hành viên/năm), đội ngũ giảng viên tuy có kinh nghiệm thực tiễn
nhưng lại ít kinh nghiệm về công tác sư phạm, lịch học chưa thực sự phù hợp với
các chấp hành viên ở các tỉnh xa, nội dung chương trình đào tạo mới dừng lại ở việc
vừa đào t
ạo, vừa rút kinh nghiệm
Một bộ phận Chấp hành viên sau khi được bổ nhiệm còn gặp rất nhiều lúng
túng về các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự như: các
yêu cầu của việc tống đạt giấy tờ, yêu cầu của quá trình xác minh, kỹ năng lập biên
bản, yêu cầu của việc cưỡng chế Các kỹ năng nghề nghiệp là điề
u kiện hết sức
quan trọng để Chấp hành viên có thể hoàn thành nhiệm vụ. Việc thi hành án không
chỉ thực hiện đúng các thủ tục thi hành án mà đòi hỏi chấp hành viên phải hiểu biết
pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, doanh nghiệp Chưa kể, pháp luật ở
nước ta thường xuyên thay đổi, nhiều quy định quá chung chung, thiếu rõ ràng,
trong khi đó Chấp hành viên không được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn m
ột cách
thường xuyên, kịp thời. Điều này đã dẫn đến một thực tế là Chấp hành viên áp dụng
không đúng, thiếu thống nhất, thậm chí sai các quy định của pháp luật. Mãi đến năm
2002, chúng ta mới mở được khóa đào tạo nguồn Chấp hành viên đầu tiên, song
công tác đào tạo nghề của Chấp hành viên mới chỉ ở bước đầu vừa làm vừa học hỏi
và rút kinh nghiệm, nên hiệu qu
ả chưa thực sự như mong muốn;
Đặc biệt, hiện nay trước yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong
lĩnh vực thi hành án đã được đặt ra trong hai Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính
trị đó là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và
Nghị quyế
t số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 với các định hướng lớn về cải cách, đổi mới trong lĩnh vực thi hành án cần
phải được nghiên cứu để luận giải một cách thấu đáo, như: Tăng thời hạn bổ nhiệm
Với hàng loạt các yêu cầu đổi mới, cải cách lớn như vậy đặt ra cho công tác
thi hành án, đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu tổng thể phân tích, đánh giá một
cách nghiêm túc, khách quan thực trạng đội ngũ chấp hành viên, dự kiến phát triển
đội ngũ chấp hành viên và từ đó đề ra khung chương trình đào tạo chấp hành viên
đã trở thành yêu cầu vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu
Đề tài được triển khai nhằm hai mục tiêu chủ yếu đó là đánh giá tổng quan
thực trạng đội ngũ chấp hành viên hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất nhu cầu phát triển
đội ngũ chấp hành viên và ch
ương trình khung về đào tạo chấp hành viên trong thời
gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
2.2. Nhiệm vụ 10
Để đạt được mục tiêu đề ra, Đề tài có những nhiệm vụ chính sau đây:
- Làm rõ khái niệm, đặc thù nghề nghiệp chấp hành viên, các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng lao động của chấp hành viên.
- Xác định rõ các tiêu chí đánh giá đội ngũ chấp hành viên.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ chấp hành viên và việc đào tạo Chấp hành viên
hiện nay.
- Xác định rõ nhu cầu phát triển đội ngũ chấp hành viên, đồ
ng thời định
hướng xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chấp hành viên nhằm đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin. Bởi vì, chỉ có phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
nghiệm có hiệu quả của nước ngoài phù hợp với tình hình của nước ta. Tránh sự sao
chép máy móc kinh nghiệm của nước ngoài.
- Phương pháp xã hội học: khảo sát và nghiên cứu tình hình thực tiễn, kể cả
các y
ếu tố tập quán xã hội, tâm lý của người Việt Nam
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận và thực tế,
tổng hợp các kết quả thu được, đưa ra phương hướng, giải pháp về nhu cầu phát
triển đội ngũ chấp hành viên và xây dựng chương trình đào tạo theo yêu cầu cải
cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
4. Những hoạt động chính của đề tài.
Để thực hiện đề tài, Ban chủ nhiệm đã triển khai các hoạt động sau: triển khai
hoạt động nghiên cứu (viết chuyên đề, tọa đàm khoa học ), hoạt động khảo sát thu
thập số liệu và tổng hợp kết quả nghiên cứu, hoàn thiện báo cáo phúc trình.
5. Những điểm mới của Đề tài
Đề tài là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống
về thực trạng, nhu cầu phát tri
ển đội ngũ chấp hành viên và xây dựng chương trình
đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp, vì vậy có những đóng góp mới về khoa học
như sau:
Về lý luận, đây là công trình tổng thể, chuyên sâu nghiên cứu về đội ngũ
chấp hành viên với những đặc thù nghề nghiệp gắn với vấn đề quản trị nguồn nhân
lực, gắn việc phát triển đội ngũ chấp hành viên với công tác thi hành án và sự
nghiệp cải cách tư pháp (ví dụ như: làm rõ cho được Chấp hành viên là chức danh
tư pháp hay hành chính tư pháp; những vấn đề lý luận đặt ra về địa vị pháp lý, 12
nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên trong điều kiện xây dựng chức danh Thừa
Theo quy định mới của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì khái niệm
công chức được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ươ
ng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lậ
p), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định của pháp luật.
Dựa vào những quy định trên cho thấy, Chấp hành viên trước hết là công
chức. Đồng thời cũng là người giữ vai trò trung tâm trong các hoạt độ
ng thi hành án
dân sự. Theo Từ điển Luật học thì: Chấp hành viên là công chức ngành tư pháp.
Người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân
sự của Toà án Việt Nam và bản án, quyết định về dân sự của Toà án nước ngoài đã
được Toà án Việt Nam công nhận
2
.
Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì: Chấp hành
viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo
quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ
cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.
Tuy nhiên, Chấp hành viên là chức danh gì và có đặc thù ra sao thì hiện nay
đang có nhiều ý kiến khác nhau.
22/10/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 12 về việc giải trình tiếp thu,
chỉnh lý Dự thảo Luật Thi hành án dân sự cũng cho rằ
ng: “Chấp hành viên là một
chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về thi hành án dân
sự, việc bổ nhiệm không theo nhiệm kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để Chấp hành viên làm
tốt công tác thi hành án, điều này cũng không làm hạn chế đến việc xử lý kỷ luật
nếu Chấp hành viên có vi phạm, hoặc miễn nhiệm nếu không đủ năng lực, điều kiện
làm Chấ
p hành viên. Vì vậy, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng quy định
việc bổ nhiệm Chấp hành viên thông qua thi tuyển và không có nhiệm kỳ là phù
hợp với định hướng của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị: “Nghiên cứu thực
hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời 16
hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”.
Tóm lại, xét cả về cơ sở lý luận, thực tiễn đều cho thấy Chấp hành viên là
chức danh tư pháp, được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định
của Toà án, độc lập, tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được
pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Đặc thù nghề nghi
ệp của Chấp hành viên
Thứ nhất, đối với cơ quan thi hành án dân sự chỉ có Chấp hành viên là người
được Nhà nước trao thẩm quyền trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của Toà
án. Đây vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng khẳng định tính chuyên trách của hoạt
động thi hành án dân sự, vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Chấp hành viên là ng
ười được Nhà nước giao
trách nhiệm thi hành các BA, QĐ của TA theo quy định của pháp luật và được pháp
dụng các quyền mà pháp luật cho phép để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện
nghĩa vụ. Quyền cơ bản mà người được thi hành án có thể sử dụng ở đây đó chính
là quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án dân sự. "Theo yêu cầu của bên có quyền lợi,
nhà nước phát động quyền cưỡng chế thi hành và việc thực hiện quyền lợi của bên
có quy
ền sẽ tất yếu làm tổn hại đến vùng lợi ích của bên có nghĩa vụ"
3
. Đặc trưng
này thể hiện, PL không cho phép người được thi hành án và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ có liên quan, tự dùng sức mạnh bạo lực để buộc bên có nghĩa vụ thực
hiện nghĩa vụ cho mình. Đây không chỉ là nguyên tắc của PL Việt Nam của hầu hết
các quốc gia trên thế giới. Ví dụ như ở Cộng hòa Pháp, PL về thi hành án dân sự có
hai đặc trưng cơ bản: “Thứ nhấ
t đây là những đặc trưng chủ yếu mang tính chất
"trật tự công". Điều này được thể hiện thông qua bản chất của cưỡng chế thi hành.
Thực vậy, khác với tự nguyện thi hành, cưỡng chế thi hành được thực hiện trên cơ
chế quyền lực và cưỡng chế. Trong một nhà nước pháp quyền, cơ quan quyền lực
Nhà nước là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thực hiện c
ưỡng chế thi hành. Do đó,
cưỡng chế thi hành chỉ liên quan đến cơ quan quyền lực Nhà nước. Khi tiến hành
cưỡng chế thi hành, cơ quan quyền lực Nhà nước cần có sự hỗ trợ của cơ quan
quyền lực công. Các cá nhân không thể thao túng hoạt động này, cũng như không
thể làm sai lệch việc tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành theo quy định của PL;
bởi vì đây là hoạt động dựa trên cơ s
ở quyền lực. Hệ quả là, các nhà lập pháp phải
đảm bảo sự cân bằng giữa các lợi ích trong hoạt động cưỡng chế thi hành, làm sao
để các quy định PL không bao che cho các trường hợp bất công, lạm dụng và cũng
không dẫn đến các kết quả kinh tế, xã hội bất hợp lý. Đây cũng chính là đặc trưng
thứ hai của PL về thi hành án dân sự của Pháp. Đảm bảo sự cân bằng giữa các lợi
việc thi hành án, thể hiện rõ nhất là được sử dụng biện pháp cưỡng chế để buộc tất
cả các chủ thể có nghĩa vụ (cho dù người đó là ai, với chức vụ, quyền hạn gì ) phải
thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quy
ết định của Tòa án đã tuyên. Ngay cả
khi không phải thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án thì đằng sau những biện
pháp như đôn đốc, giáo dục, thuyết phục để tổ chức thi hành án mà Chấp hành
viên thực hiện đều ẩn chứa biểu hiện của quyền lực Nhà nước và khả năng các
đương sự bị Nhà nước áp dụng chế tài nghiêm khắc nếu họ không thi hành án luôn
luôn hiện hữu.
Th
ứ ba, quyết định của Chấp hành viên tác động trực tiếp tới quyền và lợi
ích của người phải thi hành án
4
GS.Claude Brenner, Đại học Panthéon - Assas Cộng hòa Pháp (2006), Những vấn đề lý luận và thực tiễn
trong việc lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với mỗi Quốc gia của tại Hội thảo Quốc tế các mô
hình tổ chức thi hành án trên thế giới, Hà Nội ngày 17 và 18 tháng 4 năm 2006, Kỷ yếu Hội thảo Nhà PL
Việt Pháp, Hà Nội. 19
Thực tế cho thấy, khi xét xử, dù bản án, quyết định của Tòa án có nghiêm
đến mấy đi chăng nữa thì đó cũng mới chỉ ở trên giấy. Trong khi đó thông qua hoạt
động thi hành án, các bản án, quyết định của Toà án được thi hành hành trên thực tế,
nên tính bức xúc đạt đến đỉnh điểm.
Về phía người phải thi hành án: nếu trong giai đoạn xét xử, các đương sự chỉ
dừng lại ở sự
nhận thức - bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử sắp có hiệu lực.
Và khi đó, họ vẫn tin rằng, việc xét xử sẽ còn được diễn ra ở nhiều cấp tiếp theo và
5
Học Viện tư pháp (2005), Giáo trình Kỹ năng THADS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.796.
6
Học Viện tư pháp (2005), Giáo trình Kỹ năng THADS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, , tr.795. 20
nghĩa vụ thi hành án bằng mọi cách có thể ở những địa phương có địa hình sông
nước phức tạp, để xuống thực địa các chấp hành viên phải thuê phương tiện giao
thông với chi phí đắt hơn nhiều so với các phương tiện giao thông đường bộ trong
khi kinh phí định mức Nhà nước cấp chưa tương xứng, trong một số trường hợp nếu
phương tiện giao thông thuỷ bị lật, trang phục
ướt nhưng chấp hành viên cũng phải
cố gắng bảo vệ hồ sơ để tiếp tục công việc. Còn ở những địa bàn rừng núi, vùng
sâu, vùng xa, các đương sự là người dân tộc thiểu số ngoài việc khắc phục khó khăn
về điều kiện đi lại các chấp hành viên còn phải khắc phục khó khăn về ngôn ngữ
phong tục tập quán để hoàn thành nhiệm vụ. Đối vớ
i những vụ việc người phải thi
hành án có tài sản nhưng có tình cất giấu có biểu hiện tẩu tán để trốn tránh nghĩa vụ
thi hành án thì chấp hành viên phải có trách nhiệm áp dụng nhiều biện pháp xác
minh ngăn chặn với những thủ tục phức tạp mà nếu chỉ một sơ suất nhỏ sẽ không
hoàn thành tốt nhiệm vụ dẫn tới thiệt hại cho đương sự hoặc bị khi
ếu nại phải bồi
dưỡng. Chấp hành viên phải tiến hành các thủ tục phong toả tài sản, kê biên, tạm
giữ, tổ chức bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án, thậm chí có trường hợp
phải xắn tay vào việc “thu hoạch” cà phê, xoài, dưa hấu, tôm, cá, lợn, gà, trâu bò…
của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án. Phức tạp hơn là những vụ việc
chấp hành viên phải áp dụng các trình tự, thủ t
ục bán đấu giá nhà, đất của người
cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước và chính sách nhân đạo nhằm bảo
đả
m quyền lợi cấp thiết của đương sự, pháp luật quy định quyền chủ động ra quyết
định THA của CQTHA trong những trường hợp.
Thứ năm, hoạt động của Chấp hành viên mang tính chuyên biệt. Với hàng
loạt các công đoạn và với những quy trình thủ tục chặt chẽ, đòi hỏi tính chuyên
nghiệp và chuyên môn hóa cao từ khâu thụ lý, khả năng phân tích bản án, quyết
định của Tòa án để ra quy
ết định thi hành án và lập phương án tổ chức thi hành;
năng lực đôn đốc, giáo dục, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án; năng lực
điều tra, xác minh và truy tìm tài sản của người phải thi hành án; năng lực tổ chức
và chỉ huy cưỡng chế thi hành án đòi hỏi sự thành thạo của người Chấp hành viên.
Là người chủ trì trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế Chấp hành viên
phải thực hiệ
n các thao tác nghiệp vụ như: i) Xác minh tài sản của người phải thi
hành án gồm tài sản thuộc sở hữu riêng của người phải thi hành án, tài sản thuộc sở
hữu chung của người phải thi hành án với người khác; tài sản người phải thi hành
án đang cho người khác vay mượn thuê, gửi, giữ, sửa chữa, thu nhập do lao động,
tài sản phải giao trả theo quyết định của bản án; ii) Xác minh nhân thân của người
phải thi hành án và gia đình. iii) Xác minh về
quan hệ, quan điểm của địa phương
và thái độ của dư luận đối với dự án và người phải thi hành án; iv) Xác minh về
điều kiện, địa hình và giao thông nơi có tài sản cưỡng chế; v) Dự kiến phương án
cưỡng chế; vi) Xây dựng kế hoạch cưỡng chế gồm cắn cứ để cưỡng chế, nội dung
cưỡng chế, thành phần Hội đồng cưỡng chế, phươ
ng tiện thực hiện và chi phí cưỡng
chế, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên tham gia cưỡng chế như cơ
quan Thi hành án, cơ quan Công an, cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân, chính quyền
thi hành án; Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài
sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật
chứng, tài sản và những vi
ệc khác liên quan đến thi hành án; Quyết định áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch
cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án; Yêu cầu cơ quan Công an tạm 23
giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật; Lập biên bản về
hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm
quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm; Quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản
đã chi trả cho đương sự không đúng quy
định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác; Được sử dụng
công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ; Thực hiện
nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo
pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luậ
t
bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn trên, pháp luật cũng quy định cụ thể
những việc Chấp hành viên không được làm bao gồm: Những việc mà pháp luật
quy định công chức không được làm; Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật; Can thiệp trái pháp luật
vào việc giải quyết vụ vi
ệc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động
phương tiện của người phải thi hành án, nên trong trường hợp đó việc thi hành án
không thể thực hiện được.
Quan điểm khác lại cho rằng, việc bổ sung quy định Chấp hành viên có thẩm
quyền khám người, khám nơi cất giấu để thu giữ
đồ vật, tài liệu, phương tiện của
người phải thi hành án có thể sẽ thu được hiệu quả lớn cho quá trình thi hành án,
song đây là vấn đề nhạy cảm, dễ sai phạm, có liên quan đến quyền cơ bản của công
dân. Vì vậy, trước mắt chỉ bổ sung quy định các biện pháp bảo đảm thi hành án mà
chưa quy định Chấp hành viên có quyền khám người, khám nơi cất giấu để thu giữ
đồ vật, tài liệu, phươ
ng tiện của người phải thi hành án
9
.
Chúng tôi cho rằng việc xác định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp
hành viên là quan trọng, có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của cơ quan
thi hành án dân sự. Thời gian qua đã xảy ra tình trạng, nhiều trường hợp Chấp hành
viên biết người phải thi hành án có tài sản cất giấu ở trên người, phương tiện
nhưng không thể buộc họ giao tài sản để thực hiệ
n nghĩa vụ thi hành án. Đây chính
là kẽ hở để người phải thi hành cố tình chây ỳ, trốn tránh trách nhiệm. Vấn đề này
pháp luật nhiều nước trên thế giới quy định Chấp hành viên hoặc người có thẩm
quyền trong thi hành án có quyền khám người, thu giữ đồ vật, tài liệu, phương tiện
của người phải thi hành án. Việc quy định quyền khám người, thu giữ đồ vật,
phương tiện của người phả
i thi hành án cũng không thể coi là vi phạm quyền công
dân vì bản thân người phải thi hành đã tự tước đi quyền bị loại trừ khỏi sự khám
xét, thu giữ khi cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình. Việc cho phép CHV
có quyền khám xét để truy tìm tài sản chính là: (i) Tạo cơ sở để CHV có thể thực thi
9
thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VIII) về Chiến lược cán bộ
thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đưa ra tiêu chuẩn về cán bộ như
sau: “Khẩn trương cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới để từ đó có chế
độ, chính sách thích hợp, tạo môi trường phát triển cho từng đối tượng cán bộ;
ngoài tiêu chuẩn đã được định trong chiến lược cán bộ cần bổ sung, cụ thể hoá tiêu
chu
ẩn đối với từng đối tượng, từng chức danh cán bộ trong từng loại hình cơ quan,
tổ chức, đơn vị. Về tiêu chuẩn chung, ngoài yêu cầu “có trình độ hiểu biết về lý luận
chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có
trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu nhiệm v
ụ được giao” đã được xác định trong chiến lược cán bộ,
10
Quốc Triều hình luật (1991), Nxb Pháp lý, Hà Nội.