Vai trò của bộ tư pháp trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế - Pdf 13

BỘ TƯ PHÁP

VAI TRÒ CỦA BỘ TƯ PHÁP
TRONG VIỆC KÝ KẾT, GIA NHẬP
VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Chủ nhiệm: TS. Lê Thành Long
Thư ký: ThS. Trần Tiến Dũng 7526
22/10/2009

Hà Nội, 2008 ii


iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU vii
Phần thứ nhất 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VÀ CÁC THIẾT CHẾ THỰC
HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1
1. Pháp luật điều ước quốc tế ở Việt Nam 1
1.1. Hệ thống các quy định về điều ước qu
ốc tế 1
1.2. Một số nội dung cơ bản của Luật Điều ước quốc tế 2005 4
1.2.1. Cơ cấu, phạm vi điều chỉnh 4
1.2.2. Nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 5
1.2.3. Quan hệ của điều ước quốc tế với pháp luật trong nước 5
1.2.4. Ký kết, gia nhập điều ước quố
c tế 5
1.2.5. Phê duyệt và phê chuẩn điều ước quốc tế 6
1.2.6. Bảo lưu, chấp nhận, phản đối và rút bảo lưu điều ứơc quốc tế nhiều bên6
1.2.7. Thực hiện điều ước quốc tế 7
1.2.8. Những vấn đề mới của Luật Điều ước quốc tế 2005 8
1.2.8.1. Phân loại điều ước quố
c tế 8
1.2.8.2. Chuyển hoá điều ước quốc tế 9
1.2.8.3. Vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam 10
1.3. Pháp luật về thoả thuận quốc tế 10
1.4. Các cơ quan có vai trò chủ yếu trong công tác điều ước quốc tế ở Việt Nam
12
1.4.1. Quốc hội và các cơ quan Quốc hội 12
1.4.2. Chủ t

ỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 37
1. Thực hiện điều ước quốc tế: Một số vấn đề chung 37
2. Phổ biến điều ước quốc tế 39
2.1. Quy định chung về công bố, đăng tải ĐƯQT tại Việt Nam 39
2.2. Vai trò Bộ Tư pháp 40
3. Kế hoạch thực hiện ĐƯQT và thực hiện kế hoạch: Rà soát VBQPPL 41
4. Giải thích điều uớc quốc tế 44
5. Khả năng hậu kiểm điều ước quốc tế 46
5.1. Vài nét khái quát về hậu kiểm 46
5.2. Cơ sở xem xét giao việc hậu kiểm điều ước quốc tế cho Bộ Tư pháp 47
5.3. Ý nghĩa và nội dung hậu kiểm ĐƯQT của Bộ Tư pháp 47
6. Trách nhiệm thực hiện, báo cáo 48
7. Hiệp
định tương trợ tư pháp 49
7.1. Một số vấn đề chung và quy định hiện hành 49
7.2. Tình hình thực tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự từ năm 1995 đến nay
52
7.2.1. Thực hiện các uỷ thác tư pháp quốc tế 52
7.2.2. Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà
án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài 55
8. Hiệp
định hợp tác nuôi con nuôi 56
8.1. Bộ Tư pháp- Cơ quan đầu mối chủ trì đàm phán ký kết các Hiệp định về hợp
tác nuôi con nuôi 57
8.2. Bộ Tư pháp- Cơ quan đầu mối tổ chức thực hiện điều ước quốc tế về nuôi
con nuôi 59
8.3. Vai trò của Bộ Tư pháp trong tương lai 60
8.3.1. Tham gia Công ước La Hay 60
8.3.2. Tổ chức thực hiện Công ướ
c La Hay 62

c gia (Nhà nước) 77
4.2.4. Nghiên cứu khả năng giao Bộ Tư pháp một số chức năng hậu kiểm
ĐƯQT 79
4.3. Năng lực và tổ chức bộ máy Bộ Tư pháp 79
4.3.1. Năng lực thẩm định 79
4.3.2. Cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp và chất lượng công tác điều ước quốc
tế 81
vi
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BTA: Hiệp định thương mại (song phương) Việt Nam – Hoa Kỳ
BTP: Bộ Tư pháp
CCTP: Cải cách tư pháp
CLCCTP: Chiến lược cải cách tư pháp (Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020)
CLXDPL: Chiến lược xây dựng pháp luật (Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đế
n năm 2020)
CNQT: Con nuôi quốc tế
ĐƯQT: Điều ước quốc tế

hành pháp luật ở Việt Nam, pháp luật quốc tế (PLQT) nói chung và điều ước quốc tế
(ĐƯQT) nói riêng chưa có bề dày phát triển và chưa được dành sự ưu tiên như các lĩnh
vực pháp luật khác (pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kinh tế, thương mại). Hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) cùng các thiết chế xây d
ựng, đảm bảo
thi hành pháp luật, trong đó có pháp luật ĐƯQT, cho đến nay vẫn còn chịu nhiều ảnh
hưởng của cơ chế tập trung với mô hình chưa thực sự được hoàn toàn đổi mới. Vấn đề
đặt ra là với những chuyển biến về chất của pháp luật nội dung phù hợp hơn với thể
chế kinh tế thị trường và yêu cầu của quá trình tham gia ngày càng sâu hơn vào đời
số
ng quốc tế, cần làm gì và làm như thế nào để thiết kế được một hệ thống thiết chế
thật sự phù hợp với cái chung trong khi phải tính đến những đặc thù của hệ thống
chính trị xã hội Việt Nam.
Bộ Tư pháp Việt Nam là Cơ quan thuộc Chính phủ - một hợp thành của Bộ máy
hành pháp. Quá trình hình thành và phát triển của Cơ quan pháp luật này không thể
tách khỏi những bước thăng trầ
m của một đất nước mà trong một thời gian dài phải vất
vả tự tìm đường đi để khẳng định chính mình. Kể từ khi được thành lập năm 1945, giải
thể rồi tái thành lập, cùng với tiến trình phát triển của cả nước, Bộ Tư pháp ngày càng
gánh vác nhiều hơn những nhiệm vụ xây dựng và thực thi pháp luật trong nước và điều
ước quốc tế. Về phương diệ
n pháp luật quốc gia, vai trò tiền kiểm (thẩm định) và hậu
kiểm (kiểm tra) VBQPPL của Bộ Tư pháp được quy định trong pháp luật hiện hành đã
thực sự đưa Bộ lên vị trí của người "gác cổng", đảm bảo tính thống nhất, khả thi của cả
hệ thống pháp luật. Đối với công tác điều ước quốc tế, đã thấy có sự biến chuyển cả về

lượng và chất trong vai trò của Bộ Tư pháp trong quá trình rà soát, thẩm định, đàm
phán, ký kết và thực hiện ĐƯQT nói chung cũng như ĐƯQT chuyên ngành nói riêng.
Có thể nói, chức năng ĐƯQT của Bộ Tư pháp đã được thiết kế và mô hình hoá trong
bối cảnh những đặc thù kết cấu của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam. Với tinh thần

gắn với bản chất chính trị và hệ tư tưởng của chế độ, và kèm theo đó là một hệ thống
các thiết chế, bộ máy được thiết kế phù hợp, lại vừa gắn với truyền thống văn hóa và ý
thức về pháp luật của quốc gia nơi chế độ trị vì. Vì lẽ đ
ó, việc tổ chức và vận hành các
cơ quan quyền lực nói chung và Bộ Tư pháp nói riêng không thể không mang dấu ấn
đặc thù. Cần nói là từ năm 1986 đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong xây
dựng pháp luật (XDPL) và cải cách tư pháp (CCTP) để phục vụ yêu cầu đổi mới
chung của đất nước. Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng bộ máy các cơ quan
quyền lực c
ủa chúng ta vẫn chưa vượt qua ngưỡng đăc thù - dung hoà sao đây giữa đặc
thù và giá trị chung đã được công nhận là việc còn phải tiếp tục làm.
Đề tài Vai trò của Bộ Tư pháp trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế, như tên gọi của nó, nghiên cứu một số vấn đề về nhận thức, pháp luật và
thực tiễn về sự tham gia của Bộ T
ư pháp với tư cách là một cơ quan của Chính phủ
trong công tác ĐƯQT. Đề tài cho rằng việc giao Bộ Tư pháp một số việc về ký kết, gia
nhập và thực hiện ĐƯQT, nói cách khác là một số chức năng chung và chuyên ngành
về ĐƯQT, được thiết kế và mô hình hoá trong điều kiện Việt Nam. Các lập luận của
đề tài, do đó, cũng dựa trên thực tế là chúng ta đang trong quá trình đúc kết kinh
nghiệm để
đề xuất một số vấn đề có tính chất khái quát về vai trò của Bộ Tư pháp, qua
đó nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác ĐƯQT của Bộ Tư pháp nói riêng
và của Việt Nam nói chung. Một trong những đặc thù đáng chú ý nhất là ở Việt Nam,
chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của khối các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư
pháp cũng như quan hệ giữa các cơ quan này có những điểm khác so vớ
i các nước trên
thế giới: Chính phủ trên thực tế vẫn là cơ quan soạn thảo pháp luật chính (cả VBQPPL
trong nước và điều ước quốc tế; hiện chưa có văn bản khẳng định ĐƯQT là một bộ
phận của hệ thống pháp luật Việt Nam; Toà án nhân dân hầu như không áp dụng


và nâng cao năng lực của Bộ Tư pháp nói riêng để Bộ thực hiện có hiệu quả hơn nữa
công tác pháp luật vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia có vai trò và vị trí ngày càng
quan trọng này.
Xin có một số điểm lưu ý về các văn bản pháp luật được sử dụng trong Báo cáo
phúc trình. Trong thời gian thực hiện Đề tài, một số văn bản pháp luật quan trọng có
liên quan đến chủ đề của
Đề tài được sử dụng trong các báo cáo chuyên đề và Báo cáo
phúc trình đã được bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới. Cụ thể, Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật 1996, (sửa đổi 2002) được thay thế bằng Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật được Quốc hội thông qua ngày 03/06/2008 (có hiệu lực từ
01/01/2009). Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 (có
hiệu lực từ 01/7/2008). Nghị định 103/1999/N
Đ-CP ngày 26/12/1998 của Chính phủ
về quản lý hợp tác với nước ngoài về pháp luật được thay thể bằng Nghị định số

1
Luật Tổ chức Chính phủ 25/12/2001 (Điều 8, kh.8). Cụ thể về vai trò của Chính phủ trong công tác điều ước
quốc tế, xem Phần thứ nhất, Mục 1.4.3.

x
78/2008/NĐ-CP ngày ngày 17/7/2008 của Chính phủ về quản lý hợp tác với nước
ngoài về pháp luật. Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tư pháp được thay thế bằng Nghị định
số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Bộ Tư pháp. Về cơ
bản, Báo cáo phúc trình dựa theo quy định và thực
tiễn thi hành các văn bản pháp luật có hiệu lực vào thời gian thực hiện Báo cáo, nhưng
có cập nhật nội dung mới trong các văn bản mới được ban hành. Cũng có điểm thuận
lợi là các văn bản sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới như đã nêu trên thường chỉ củng
cố và quy định thêm các chức năng của Bộ Tư pháp trong chừng mực có liên quan

việc mà Bộ Tư pháp phải làm đối với việc ký kết, gia nhập ĐƯQT là như nhau: góp ý
xây dựng, trực tiếp ho
ặc phối hợp đàm phán theo thẩm quyền, và cuối cùng là thẩm
định - giai đoạn trước khi ký kết hoặc gia nhập ĐƯQT, không phụ thuộc đó là ĐƯQT
song phương hay đa phương.

xi
Hai là, Luật Điều ước quốc tế 2005 không có định nghĩa về "thực hiện điều ước
quốc tế", mặc dù Luật 2005 dành trọn chương VII (các điều từ 71-96) quy định về vấn
đề thực hiện ĐƯQT, trong đó có những việc cụ thể như kế hoạch thực hiện, giải thích,
sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lự
c, tạm đình chỉ ĐƯQT. Theo Luật Điều ước
quốc tế 2005 thì Bộ Tư pháp không có vai trò chung trong việc thực hiện ĐƯQT mà
chỉ thực hiện những việc cụ thể nếu đó là các ĐƯQT thuộc thẩm quyền chuyên ngành
của Bộ Tư pháp như trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, tương trợ tư pháp, hay trong
chừng mực nào đó là trong lĩnh vực hỗ trợ phát triể
n chính thức (ODA).
Ba là, cách bố cục Báo cáo phúc trình theo đúng trình tự như tên gọi của chủ đề
Đề tài sẽ không tránh khỏi một số điểm trùng hợp nhất định. Ví dụ, đối với những
trường hợp ĐƯQT thuộc thẩm quyền riêng biệt với tư cách là cơ quan quản lý ngành
thì Bộ Tư pháp đảm nhận từ khâu đầu đến khâu cuối, tức là từ đề xuất đ
àm phán, ký
kết ĐƯQT, thành lập Hội đồng thẩm định, đề xuất phê duyệt/phê chuẩn và cuối cùng
là tự mình hoặc điều phối thực hiện ĐƯQT đó - một quá trình ĐƯQT xuyên suốt hoàn
toàn thuộc "sân" của Bộ Tư pháp. Ví dụ cụ thể nhất là các ĐƯQT trong lĩnh vực tương
trợ tư pháp (TTTP) trước khi Luật TTTP 2007 được ban hành và lĩnh vực con nuôi
quốc tế. Đối với các ĐƯ
QT về thương mại thì thực tế gần đây cho thấy Bộ Tư pháp có
tham gia đàm phán, ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Hiệp
định WTO, các hiệp định thương mại khu vực ASEAN. Sau đó, Bộ Tư pháp cũng

tích chức năng xây dựng, thực thi pháp luật của Bộ Tư pháp và chức năng điều ước
quốc tế trực tiếp của Bộ để thấy được sự chuyển biến cả về chất và lượng của nhiệm
vụ của Bộ Tư pháp trong công tác ĐƯQT.
Phần thứ ba "Bộ Tư pháp vớ
i việc thực hiện điều ước quốc tế", ngoài một số
vấn đề chung như khả năng giao nhiệm vụ hậu kiểm cho Bộ, rà soát quy định pháp
luật trong nước để phục vụ cho việc thực hiện ĐƯQT, hoặc tham gia tích cực hơn vào
một số loại ĐƯQT đặc biệt như trong lĩnh vực nhân quyền và thương mại, sẽ tập trung
và chức n
ăng ĐƯQT chuyên ngành của Bộ Tư pháp như Hiệp định tương trợ tư pháp,
Hiệp định con nuôi quốc tế - tức là những lĩnh vực cụ thể liên quan đến quản lý ngành
của Bộ Tư pháp.
Phần thứ tư, "Nhận xét về vai trò ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
của Bộ Tư pháp và đề xuất một số điể
m cần hoàn thiện” kiến giải về tính hợp lý của
việc giao Bộ Tư pháp chức năng này trong bối cảnh phát triển chung của hệ thống
pháp luật; nêu những vấn đề còn tồn tại và đề xuất cách xử lý và phương hướng tiếp
tục hoàn thiện vai trò, vị trí của Bộ Tư pháp trong công tác điều ước quốc tế.
Phần thứ nhất
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VÀ CÁC THIẾT CHẾ
THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

1. Pháp luật điều ước quốc tế ở Việt Nam
Bắt đầu từ khi ra đời đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm tới việc xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về điều ước quốc tế. Kể t
ừ Hiệp định sơ bộ mà Chính
phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Pháp ngày 6/03/1946, cho đến nay Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập hàng nghìn điều ước quốc tế với các quốc gia và tổ chức quốc tế
trên nhiều lĩnh vực; và ĐƯQT đã trở thành một trong những công cụ pháp lý quan
trọng của Việt Nam qua các thời kỳ phát triển của đất nước. Thực tế g

Bộ Ngoại giao, Báo cáo Tổng kết công tác ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế” trình bày tại Hội nghị tổng
kết công tác ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế, Hà Nội, 12/12/2005.

2
phê chuẩn, phê duyệt, đàm phán, ký kết và thực thi ĐƯQT;
3
quy định về "tính đến
điều ước quốc tế" của Việt Nam trong quá trình soạn thảo, ban hành VBQPPL trong
nước được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL 2002; và yêu cầu về soạn thảo
thông qua VBQPPL trong nước không được làm cản trở việc thực hiện các điều ước
quốc tế của Việt Nam trong Luật Ban hành VBQPPL 2008.
4
Hiệu lực ưu tiên áp dụng
các ĐƯQT so với pháp luật quốc gia (trừ Hiến pháp) trong trường hợp có mâu thuẫn
với pháp luật quốc gia được nêu tại các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong
nước cụ thể.
5

Về văn bản chuyên ngành ĐƯQT, trước Luật Điều ước quốc tế 2005,
6
Việt
Nam đã ban hành 02 Pháp lệnh về ĐƯQT, đó là Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều
ước quốc tế được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 17/4/1989 (Pháp lệnh 1989)
7
; và
Pháp lệnh về Ký kết và thực hiện điều ước quốc tế được UBTVQH thông qua ngày
20/8/1998 (Pháp lệnh 1998). Việc UBTVQH ban hành 02 Pháp lệnh Điều ước quốc tế
và Luật Điều ước quốc tế 2005, Nghị định về thoả thuận quốc tế 2002
8
và Pháp lệnh

Luật số 41/2005/QH11 của Quốc hội khoá 11 được ban hành ngày 14/06/2005, đăng Công báo ngày
17/07/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006.
7
Pháp lệnh về việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam ngày 17/10/1989.
8
Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày 20/02/2002 của Chính phủ về ký kết và thực hiện các thoả thuận quốc tế
của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội
nghề nghiệp của nước CHXHCN Việt Nam.
9
Pháp lệnh số 33/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế.

3
Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật
đó". Như trên đã nói, hiệu lực của ĐƯQT còn được quy định ở nhiều VBQPPL khác
theo một nguyên tắc chung là trong trường hợp ĐƯQT của Việt Nam có quy định khác
với các quy định của Luật, Pháp lệnh, Nghị định, thì ưu tiên áp dụng quy định của
ĐƯQT đó. Cùng với các văn bản khác, Pháp lệnh n
ăm 1989 đã tạo ra một khuôn khổ
pháp luật cần thiết cho việc điều chỉnh các hoạt động ký kết và thực hiện ĐƯQT của
Nhà nước ta, góp phần thể chế hoá đường lối đối ngoại của Đảng trong những năm
đầu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Vào những năm 1989 - 1992 thế giới có những biến động lớn. Sự sụp đổ c
ủa
Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu đã có tác động sâu sắc đến quan hệ
quốc tế. Thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế
của Đảng và Nhà nước, ngày 20/8/1998, UBTVQH ban hành Pháp lệnh Ký kết và thực
hiện điều ước quốc tế (Pháp lệnh 1998). Ngày 18/10/1999, Chính phủ ban hành Nghị
định số 161/1999/NĐ-CP về Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh nă
m 1998 (Nghị định
161). Việc ban hành Pháp lệnh năm 1998 và Nghị định 161 đã đánh dấu bước chuyển

phủ liên quan đến việc ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT quy định tại Pháp lệnh năm 1998, xét về mức độ
tương thích với một s
ố VBQPPL do Quốc hội ban hành, nếu tiếp tục thể hiện dưới hình thức Pháp lệnh là chưa
phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách hoạt động lập pháp ở nước ta hiện nay.
12
Trong trường hợp VBQPPL có quy định khác với quy định của ĐƯQT mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập thì áp dụng quy định của ĐƯQT.4
đàm phán, ký kết và thực thi ĐƯQT;
13
tiến hành việc phân loại điêu ước quốc tế theo
hướng tách thoả thuận quốc tế ra điều chỉnh riêng. Luật Điều ước quốc tế phải đáp ứng
được các yêu cầu cơ bản như chuyển hoá quy định của Công ước Viên vào pháp luật
trong nước của Việt Nam, bảo đảm tính thống nhất của các quy định trong Luật với
nội dung các cam kết của Công ướ
c; Luật Điều ước quốc tế mới cần được xây dựng
trên cơ sở tiếp tục tiếp thu, kế thừa các nội dung vẫn còn có giá trị về thực tiễn cũng
như lý luận của Pháp lệnh năm 1998 và nội dung liên quan đến ĐƯQT trong các
VBQPPL hiện hành; gắn kết việc ký kết, gia nhập với việc thực hiện ĐƯQT, thiết lập
cơ chế phối h
ợp đàm phán, ký kết và thực hiện ĐƯQT. Với tinh thần như vậy, Luật
Điều ước quốc tế hiện hành được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ
ngày 01/01/2006.
1.2. Một số nội dung cơ bản của Luật Điều ước quốc tế 2005
1.2.1. Cơ cấu, phạm vi điều chỉnh
Với 9 chương và 107 điều,
14
Luật Điều ước năm 2005 quy định về việc ký kết,

26 đi
ều, từ Điều 71 đến Điều 96;Chương VIII: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động ký
kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT gồm 8 điều, từ Điều 97 đến Điều 104; Chương IX: Điều khoản thi hành, gồm 3
điều từ Điều 105 đến Điều 107.
15
Theo Luật 2005 (Điều 2, khoản 1) thì ĐƯQT là thoả thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh
Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ CHXHCN Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc
chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa
thuận, nghị định thư
, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.
16
Phạm vi điều chỉnh của Luật Điều ước quốc tế sẽ được xem xét, phân tích ở Phần những nội dung cơ bản của
Luật.

5
1.2.2. Nguyên tắc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
Luật Điều ước quốc tế 2005 quy định những nguyên tắc chủ yếu như phù hợp
với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế; phù hợp với quy định của Hiến pháp;
phù hợp lợi ích quốc gia, đường lối đối ngoại của Việt Nam; điều ướ
c quốc tế nhân
danh Chính phủ không được trái với điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; điều ước
quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
của Quốc hội, UBTVQH, ĐƯQT mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc
ban hành VBQPPL của Quốc hội, UBTVQH phải được trình UBTVQH cho ý kiến
trước khi đàm phán, ký hoặc gia nhậ
p; trong trường hợp đàm phán, ký hoặc gia nhập
ĐƯQT có quy định trái với VBQPPL của Quốc hội thì UBTVQH báo cáo Quốc hội
cho ý kiến.
1.2.3. Quan hệ của điều ước quốc tế với pháp luật trong nước
Như trên đã nêu, trên thực tế, mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật trong nước


6
Trước khi đề xuất với Chính phủ về việc đàm phán, ký ĐƯQT thì cơ quan đề xuất phải
lấy ý kiến kiểm tra bằng văn bản của Bộ Ngoại giao và ý kiến thẩm định của Bộ Tư
pháp. Riêng Bộ Ngoại giao khi đàm phán và ký kết ĐƯQT thì phải lấy ý kiến thẩm
định của Bộ Tư pháp.
Về thẩm quyền quyết định đ
àm phán, ký kết hoặc gia nhập và cho ý kiến, theo
Điều 11 Luật Điều ước quốc tế 2005, Chủ tịch nước quyết định đàm phán, ký ĐƯQT
nhân danh Nhà nước với người đứng đầu Nhà nước khác; Chính phủ quyết định đàm
phán, ký ĐƯQT nhân danh Chính phủ. Trong trường hợp ĐƯQT có điều khoản phê
chuẩn hoặc nhân danh Nhà nước do Chính phủ đàm phán, ký hoặc gia nhập thì Chính
phủ báo cáo Chủ tịch nước tr
ước khi quyết định. Về thẩm quyền quyết định đối với
việc gia nhập ĐƯQT nhiều bên: Quốc hội quyết định gia nhập ĐƯQT nhiều bên theo
đề nghị của Chủ tịch nước; Chủ tịch nước quyết định gia nhập ĐƯQT nhiều bên nhân
danh Nhà nước, ĐƯQT nhiều bên có quy định phải phê chuẩn; Chính phủ quyết định
gia nhập ĐƯQT nhiều bên nhân danh Chính phủ. Phù hợp v
ới quy định của Công ước
Viên 1969, Luật 2005 quy định một số trường hợp sau khi đàm phán, ký kết ĐƯQT
không cần giấy uỷ quyền hoặc tham dự hội nghị quốc tế không cần giấy uỷ nhiệm.
18

1.2.5. Phê duyệt và phê chuẩn điều ước quốc tế
Phê chuẩn và phê duyệt ĐƯQT là hành vi pháp lý nhằm công nhận hiệu lực,
cũng như ràng buộc đối với ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Thẩm quyền
phê duyệt và phê chuẩn đối với ĐƯQT là khác nhau. Điều ước quốc tế phải được phê
chuẩn gồm những loại: (i) ĐƯQT có quy định phải phê chuẩn; (ii) ĐƯQT đượ
c ký
nhân danh Nhà nước; (iii) ĐƯQT được ký nhân danh Chính phủ có quy định trái với

hoặc rút phản đối bảo lưu sau khi lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư
pháp và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Thẩm quyền quyết định bảo lưu, chấp nhận
hoặc phản đối bảo lưu và rút bảo lưu thuộc Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ. Bộ
Ngoại giao hoàn thành các thủ tục nh
ư thông báo cho cơ quan lưu chiểu điều ước quốc
tế về việc Việt Nam bảo lưu, chấp nhận hoặc phản đối bảo lưu và rút bảo lưu đối với
ĐƯQT nhiều bên.
1.2.7. Thực hiện điều ước quốc tế
Cơ quan đề xuất và chủ trì thực hiện ĐƯQT xây dựng kế hoạch thực hiện
ĐƯQT. Kế hoạch th
ực hiện ĐƯQT bao gồm những nội dung: (i) Lộ trình thực hiện
ĐƯQT; (ii) Dự kiến phân công trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tổ
chức thực hiện ĐƯQT; (iii) Kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành
VBQPPL để thực hiện điều ước quốc tế; (iv) Các biện pháp tổ chức, quản lý, tài chính
và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện ĐƯQT; (v) Tuyên truyền, ph
ổ biến điều
ước quốc tế. Kế hoạch này trước khi thực hiện phải trình Chính phủ phê duyệt.
19

Một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình thực hiện ĐƯQT là giải
thích ĐƯQT. UBTVQH có thẩm quyền giải thích đối với: (i) ĐƯQT do Quốc hội phê
chuẩn hoặc gia nhập; (ii) ĐƯQT có quy định trái hoặc chưa được quy định trong các
VBQPPL của Quốc hội; (iii) ĐƯQT mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc
ban hành VBQPPL của Quốc hội; (iv) ĐƯQT có quy định trái hoặc chưa đượ
c quy
định trong các VBQPPL của UBTVQH; (v) ĐƯQT mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ
sung, bãi bỏ hoặc ban hành VBQPPL của UBTVQH; và các trường hợp cần thiết khác.
Chính phủ giải thích các ĐƯQT không thuộc thẩm quyền giải thích của UBTVQH.
Một nội dung nữa của việc thực hiện ĐƯQT là vấn đề sửa đổi, bổ sung hoặc gia
hạn ĐƯQT. ĐƯQT được sửa đổi, bổ sung, gia hạn theo quy định c

quy định về định về điều ước quốc tế nhân danh Bộ hoặc điều ước nhân danh
TANDTC hoặc nhân danh VKSNDTC. Ngoài ra, nếu theo nguyên tắc phổ biến về việc
ưu tiên áp dụng ĐƯQT được quy định trong hầu hết các VBQPPL hiện hành như luật,
pháp lệnh thì trong trường hợp, các quy định của ĐƯQT cấp Bộ, ngành, nếu được
tiế
p tục quy định trong Dự thảo Luật, rất có thể sẽ được áp dụng thay cho Luật, Pháp
lệnh hay các quy định của Chính phủ một khi những quy định này khác với điều ước
quốc tế cấp Bộ, ngành. Điều này sẽ phá vỡ tính thống nhất và ổn định của hệ thống
pháp luật, công cụ chủ yếu của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành đất nướ
c.
Thứ hai, về thực tiễn của Việt Nam cho thấy, ĐƯQT do Bộ, ngành ký kết trong
thời gian quan gồm hai loại chính: loại thứ nhất là những thoả thuận hợp tác có những
cam kết quan trong về quốc phòng, an ninh hoặc liên quan đến ngân sách nhà nước
do Bộ, ngành ký nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ theo uỷ quyền tương ứng. Loại
thứ hai chủ yếu tập trung vào hợp tác có tính chất kỹ thuật thuộc thẩm quyề
n Bộ,
ngành như trao đổi đoàn giao lưu hữu nghị, trao đổi thông tin, hợp tác về đào tạo cán
bộ Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy, Bộ, ngành chỉ ký kết ĐƯQT hai bên nhân danh
Bộ, ngành và chưa có trường hợp nào Bộ, ngành gia nhập ĐƯQT nhiều bên nhân danh
Bộ, ngành.

20
Xem thêm phần trình bày và phân tích về thoả thuận quốc tế tại Mục 1.3. (Phần thứ nhất) và 4.3.3.3 (Phần thứ
tư).

9
Thứ ba, về thực tiễn quy định của pháp luật nước ngoài, Công ước Viên năm
1969, luật và thực tiễn áp dụng trong ký kết, gia nhập ĐƯQT của nhiều nước không
công nhận Bộ, ngành là chủ thể có thẩm quyền ký kết, gia nhập ĐƯQT. Ngoài ra, thực
tiễn pháp luật nước ngoài cũng cho thấy, nhiều nước trong đó có các nước đang phát

ốc tế 2005 đã có 2 loại ý kiến Loại
ý kiến thứ nhất cho rằng, nên có quy định về việc chuyển hoá điều ước quốc tế. Tuy
nhiên, xuất phát từ thực tế pháp luật của nước ta hiện nay cũng như lộ trình tham gia
hội nhập quốc tế của Việt Nam, không nên đưa ra một quy định cứng nhắc, đòi hỏi
nhất thiết phải chuyển hoá đ
iều ước quốc tế trong những trường hợp cần thiết bằng
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cụ thể để thực hiện điều ước quốc tế.
Trường hợp có thể áp dụng trực tiếp ĐƯQT thì không phải chuyển hoá. Thực tiễn ký
kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của ta cũng cho thấy, một số ĐƯQT sau khi có hiệu

10
lực đã được triển khai thực hiện mà không nhất thiết phải ban hành thêm văn bản
hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, cũng có ĐƯQT, mặc dù đã có hiệu lực, nhưng không
thể áp dụng trực tiếp để giải quyết các vấn đề liên quan ở trong nước mà nhất phải chờ
quyết định của cơ quan có thẩm quyền để thực hiện, chẳng hạn như ĐƯQT liên quan
đến cắ
t giảm thuế hàng hoá theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập ASEAN.
Loại ý kiến thứ hai đề nghị Luật cần phải quy định rõ nguyên tắc là khi ĐƯQT
đã có hiệu lực đối với Việt Nam thì các quy định của ĐƯQT đó sẽ được áp dụng trực
tiếp như là một nguồn của pháp luật Việt Nam để giải quyết các vấn đề liên quan. Các
cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là Toà án nhân dân các c
ấp có thể trực tiếp viện dẫn
các điều khoản của ĐƯQT liên quan để xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền. Có như
vậy mới đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế của nước ta.
Luật được xây dựng theo phương án thứ nhất, theo đó ĐƯQT có hiệu lực đối
với Việt Nam có thể áp dụng trực tiếp. Trong trường hợ
p không thể áp dụng trực tiếp
toàn bộ hoặc một phần ĐƯQT có hiệu lực đối với Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền
ban hành VBQPPL để thực hiện ĐƯQT (Điều 6 Khoản 3). Phương án này được xây
dựng linh hoạt, theo đó quyết định về việc ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập, cơ

điều chỉnh hoạt động ký kết và thực hiện
thoả thuận quốc tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Sau 5 năm thực hiện Nghị
định đã phát sinh một số nội dung mới, một số nội dung của Nghị định không còn phù
hợp với thự
c tiễn nên cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung. Riêng về hoạt động ký kết
TTQT nhân danh các cơ quan nhà nước ở trung ương, cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung
ương của tổ chức, bên cạnh hoạt động ký kết, gia nhập ĐƯQT nhân danh nhà nước
hoặc nhân danh Chính phủ, để bảo đảm việc phân cấp một cách hợp lý , đề cao tính
chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nướ
c ở trung ương và địa phương,
của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đòi hỏi phải được quy
định đủ rõ để đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính.
Những lý do trên đã dẫn đến việc ban hành Pháp lệnh thoả thuận quốc tế
(2007). Pháp lệnh gồm 5 chương và 33 Điều.
21
Về phạm vi điêu chỉnh, Pháp lệnh được
áp dụng đối với việc ký kết, thực hiện TTQTcủa ba nhóm chủ thể là (i) Cơ quan nhà
nước ở trung ương (Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, cơ quan giúp việc của Quốc hội,
TANDTC, VKSNDTC, Kiểm toán Nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc
Chính phủ); (ii) Cơ quan cấp tỉnh bao gồm HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương); (iii) Cơ quan trung ương của tổ chức (Cơ quan trung ương của tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp).
Về cơ bản, các nguyên tắc ký kết và thực hiện TTQT (Điều 4) cũng giống như
các nguyên tắc ký kết thực hiện ĐƯQT. Tuy nhiên, có điểm đáng lưu ý là TTQT ch

có giá trị ràng buộc đối với cơ quan đã ký kết TTQT đó, không làm phát sinh quyền,
nghĩa vụ pháp lý quốc tế của nhà nước hoặc của Chính phủ Việt Nam. Về thẩm quyền
ký kết TTQT: đối với cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan cấp tỉnh thì người

bao gồm từ khâu lấy ý kiến của cơ quan hữu quan trước khi quyết định ký kết TTQT,
lấy ý kiến của cơ quan cấp trên trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa cơ quan
dự
định ký kết TTQT và cơ quan hữu quan, cho đến việc báo cáo cơ quan cấp trên và
thông báo cho Bộ Ngoại giao về TTQT đã được ký kết.
Tại phần IV của Báo cáo khi lý giải về vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác
ĐƯQT, chúng ta sẽ trở lại chi tiết hơn về những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc
tách để điều chỉnh thoả thuận quốc tế trong một văn bản riêng.
1.4. Các cơ quan có vai trò chủ
yếu trong công tác điều ước quốc tế ở Việt
Nam
Để làm cơ sở cho việc phân tích rõ hơn vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác
điều ước quốc tế, mục này sẽ sơ bộ nêu chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trực tiếp
hoặc có liên quan đến ĐƯQT của các cơ quan quyền lực ở Việt Nam (ngoài Bộ Tư
pháp) theo pháp luật hiện hành.
1.4.1. Quốc hội và các c
ơ quan Quốc hội
Theo Hiến pháp Việt Nam (Điều 84.13) thì Quốc hội “quyết định chính sách cơ
bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp
ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập
theo đề nghị của Chủ tịch nước". Luậ
t Điều ước quốc tế 2005 cụ thể vai trò, thẩm
quyền đó của Quốc hội bằng việc quy định Quốc hội cho ý kiến về đàm phán, ký kết,
gia nhập điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong VBQPPL
của Quốc hội, ĐƯQT mà để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành
VBQPPL của Quốc h
ội, (Điều 3, khoản 5 Luật 2005); Quyết định theo thẩm quyền về
chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT, việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần

13

phê chuẩn điều ước quốc tế theo thẩm quyền (các điều 31, 32).
1.4.3. Chính phủ
Chính ph
ủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình soạn thảo, đàm phán ký
kết các điều ước quốc tế của Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những đặc thù
của Việt Nam với vai trò quan trọng của hệ thống các cơ quan hành pháp.
Theo Điều 112 (khoản 8) Hiến pháp thì Chính phủ “Thống nhất quản lý công
tác đối ngoại; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội
ch
ủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điểm 10 Điều 103; đàm phán, ký, phê
duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi

22
Xem Luật tổ chức Quốc hội, sửa đổi ngày 27/4/2007 (Điều 27 và Điều 27a).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status