Nghiên cứu yêu cầu kỹ thuật khi đấu nối nguồn điện phân tán vào lưới điện trung áp - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NĂNG LƯỢNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ CẤP BỘ NĂM 2010

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU YÊU CẦU KĨ THUẬT
KHI ĐẤU NỐI NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN
VÀO LƯỚI ĐIỆN TRUNG ÁP
Mã số đề tài: I-173
Chủ nhiệm Đề tài

Lê Việt Cường
Cơ quan chủ trì Đề tài Hà nội – 12/2010
1

Mục lục
MỞ ĐẦU 6
1. Cơ sở và lý do thực hiện đề tài 6
2. Định nghĩa về nguồn điện phân tán 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 8
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN 9
1.1 Phân loại nguồn phân tán 9
1.2 Máy phát điện sử dụng động cơ đốt trong 9
1.3 Máy phát điện tua-bin khí 10
1.4 Thủy điện nhỏ 11
1.5 Pin nhiên liệu (Fuel cell) 13
1.6 Nguồn điện sử dụng NLMT 15
1.7 Tuabin gió 17
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN ĐẾN HỆ THỐNG ĐIỆN 20
2.1 Lợi ích nguồn điện phân tán 20
2.2 Ảnh hưởng của nguồn điện phân tán 21
2.2.1 Ảnh hưởng về kinh tế 21
2.2.2 Ảnh hưởng về kĩ thuật 21
2.3 Giải pháp đối với những ảnh hưởng của nguồn phân tán 28
2.3.1 Giải pháp cho những ảnh hưởng về kinh tế của nguồn phân tán 28
2.3.2 Giải pháp đối với những ảnh hưởng về kĩ thuật của nguồn điện phân tán 29
Chương 3: YÊU CẦU KĨ THUẬT ĐỐI VỚI NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN ĐẤU NỐI VÀO
LƯỚI ĐIỆN TRUNG ÁP 32
3.1 Yêu cầu kĩ thuật của Việt Nam đối với nguồn phân tán đấu nối vào lưới điện trung áp 32
3.2 Quy định kĩ thuật của một số quốc gia trên thế giới 35
3.2.1 Quy định đấu nối của hệ thống điện các nước Bắc Âu 35
3.2.2 Quy định đấu nối của hệ thống điện bang Texas, Hoa Kỳ 37
3.2.3 Quy định về thông số bảo vệ khi đấu nối nguồn phân tán vào lưới điện của IEEE và một
số quốc gia khác 40
3.3 Đánh giá về những quy định kĩ thuật đối với nguồn điện phân tán 41

liệu để phục vụ việc giám sát, điều khiển và v
ận hành hệ thống điện)
TĐL Tự động đóng lại
TBA Trạm biến áp
5

TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu yêu cầu kĩ thuật khi đấu nối nguồn điện phân tán vào lưới điện
trung áp” thuộc danh mục các đề tài nghiên cứu năm 2010 của Bộ Công Thương. Thực
hiện đề tài này có sự tham gia của một số chuyên gia từ các cơ quan, đơn vị: Viện Năng
lượng, trung tâm điều độ HTĐ miền Bắc trong đó Viện Năng lượng là đơn vị thực hiện
chính.
Đề tài được biên chế thành hai phần là: phần thuyết minh báo cáo và phần phụ lục.
Phần một: Thuyết minh chung bao gồm


nay đến năm 2015 cũng như những năm sau đó, ngày càng có nhiều nguồn điện được
triển khai xây dựng và đấu nối vào lưới điện trung áp. Các phương án đấu nối những
nguồn
điện này vào hệ thống điện thường chỉ đơn thuần xem xét đến khía cạnh kĩ thuật
của phương án về tổn thất công suất, điện năng trên lưới mà chưa xem xét, đánh giá đến
những ảnh hưởng kĩ thuật khác có thể có của chúng đến hệ thống điện như điện áp trên
lưới, hệ thống bảo vệ rơle
Thông tư
số 32/2010/TT-BCT của Bộ Công Thương ban hành ngày 30 tháng 7
năm 2010 về “Qui định hệ thống điện phân phối” thay thế cho quyết định số
37/2006/QĐ-BCN do Bộ Công Nghiệp cũ ban hành tháng 10 năm 2006 cũng đưa ra
những quy định kĩ thuật về vận hành nguồn điện trong lưới trung áp về tần số, điện áp và
bảo vệ hệ thống điện. Cùng với qui định này là biểu mẫu h
ồ sơ đề nghị đấu nối vào lưới
điện phân phối qui định việc cung cấp các thông số kĩ thuật của nguồn điện cho đơn vị
phân phối điện. Các tài liệu này chưa yêu cầu xem xét cụ thể đến sự thay đổi và những
ảnh hưởng khi đấu nối nguồn điện phân tán vào lưới điện trung áp. Trong khi đó thực tế
một số nhà máy thuỷ
điện nhỏ vận hành đấu nối vào lưới trung áp đang gây nên những
ảnh hưởng đến lưới điện phân phối như điện áp trên lưới tăng cao, thu hẹp pham vi bảo
vệ của rơ-le Qui định trong thông tư 32/2010/TT-BCT được áp dụng cho cả cấp điện áp
110kV và trung, hạ áp đang nên gây khó khăn nhất định cho đơn vị phân phối điện cũng
như nhà máy điện. Đ
ó là chưa kể đến những ảnh hưởng có thể có khi đấu nối nguồn điện
từ năng lượng tái tạo khác trong tương lai.
Trong nước một số bài báo, nghiên cứu khoa học và luận án tốt nghiệp sau đại học
cũng đã bước đầu đề cập đến ảnh hưởng của nguồn điện khi đấu nối vào lưới điện trung
áp. Những tài liệu này chủ y
ếu tập trung nghiên cứu tác động của nguồn điện đến ổn định
điện áp và tổn thất công suất trên lưới điện khi đấu nối vào lưới trung áp [16], [17], [18],

- IEA (International Energy Agency) định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn
điện phục vụ trực tiếp phụ tải khách hàng hoặc hỗ trợ cho lưới điện phân phối, được đấu
nối vào hệ thống điện ở các cấp điện áp của lưới phân phối.
- IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers Inc.) định nghĩa nguồn
điện phân tán là nguồn phát điệ
n nhỏ hơn những nhà máy điện trung tâm, thường nhỏ
hơn hoặc bằng 10MW, cho phép đấu nối vào bất kỳ điểm nào trong hệ thống điện.
- EPRI (Electric Power Research Institute) định nghĩa nguồn điện có công suất từ
vài kW đến 50MW và/hoặc các thiết bị lưu điện có vị trí gần phụ tải khách hàng hoặc
lưới phân phối và các trạm biến áp truyền tải trung gian là những nguồn đi
ện phân tán.
Như vậy, những định nghĩa về nguồn điện phân tán thường căn cứ vào quy mô
công suất và cấp điện áp đấu nối. Do chưa có sự thống nhất về quy mô công suất cũng
như cấp điện áp đấu nối nên một định nghĩa tổng quan về nguồn điện phân tán là cần
thiết. Gần đây, định nghĩa nguồn điệ
n phân tán là nguồn điện đấu nối trực tiếp vào lưới
8

điện phân phối hoặc đấu nối vào lưới điện của phía khách hàng (so với điểm đặt thiết bị
đo đếm) được chấp nhận rộng rãi và phổ biến. Do định nghĩa này xem xét nguồn điện
phân tán về vị trí nguồn điện trong hệ thống điện và điểm đấu nối của nguồn điện hơn là
xem xét đến quy mô công suất củ
a nguồn điện nên có tính khái quát cao cũng như bao
trùm được những đặc điểm kĩ thuật của loại nguồn điện này. Định nghĩa này về nguồn
phân tán được sử dụng trong các nghiên cứu của đề tài.
3. Phạm vi và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Tại Việt Nam, theo thông tư 32/2010/TT-BCT lưới điện phân phối là lưới điện có
cấp điện áp từ 110kV trở xuống. Lưới phân phối bao gồm lưới điện có điện áp danh định
110kV, lưới điện trung áp (điện áp danh định 35, 22, 15, 10, 6kV) và lưới hạ áp (điện áp

và các công nghệ khác đang được phát triển như pin nhiên liệu, pin mặt trời, tua-bin
gió Mỗi loại nguồn phân tán đều có những ưu điểm, hạn chế về đặc tính kĩ thuật và tính
kinh tế. Sự lựa chọn công nghệ là nhân tố chính để quy
ết định về công suất và vị trí lắp
đặt của nguồn phân tán. Dưới đây là phân loại một số nguồn điện phân tán chính hiện có
trên thế giới. Phần lớn những loại nguồn điện này đã xuất hiện và đang được phát triển
trong hệ thống điện của Việt Nam.
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại các loại nguồn phân tán
1.2 Máy phát điện sử dụng động cơ đốt trong
Động cơ pittông, công nghệ đầu tiên của các loại nguồn phân tán, được phát triển
hơn 100 năm, được tiêu thụ nhanh trên thị trường bởi có tính cạnh tranh và độ tin cậy
cao, tuổi thọ lớn và ít phải bảo dưỡng. Động cơ đốt trong được sử dụng rộng rãi, có công
suất từ vài chục kW (tua bin siêu nhỏ) cho tới 60MW. Nhược điểm lớn nhất của động cơ
này là tiếng ồn, chi phí bảo dưỡ
ng lớn, và khí thải lớn. Lượng phát thải này có thể giảm
được bằng cách thay đổi đặc tính đốt của động cơ. Chi phí lắp đặt và vận hành của động
cơ này phụ thuộc vào lượng khí phát thải muốn cắt giảm.
Đông cơ đốt trong là công nghệ đã được kiểm chứng qua thực tế với tính cạnh
tranh cao, dải công suất rộng, có khả năng khởi động nhanh, hiệu suất cao (lên t
ới 43%
cho các hệ thống diesel lớn, 80% đối với micro turbine), và độ tin cậy cao trong vận

điện NLMT
10

Nguồn điện có động cơ sử dụng khí tư nhiên có hiệu suất cao và phát thải ít khí NO
x
hơn
động cơ dùng dầu diesel.
Loại nguồn điện này hiện nay được sử dụng rộng rãi trong cả nước trong đó chủ
yếu đóng vai trò là nguồn điện dự phòng hoặc cấp điện cho khu vực chưa có điện lưới
quốc gia (khu vực hải đảo ). Một số ít nguồn điện loại này được đấu nối vào lưới điện
trung áp có kh
ả năng hoạt động song song với lưới điện khu vực tại một số thời điểm phụ
tải đỉnh theo yêu cầu của đơn vị phân phối điện.

Hình 1.2: Hoạt động của tuabin sử dụng động cơ đốt trong
Một số đặc tính của máy phát điện sử dụng động cơ đốt trong:
• Hiệu suất cao, chi phí đầu tư thấp và chi phí sản xuất điện cạnh tranh so với nhiều
loại công nghệ sử dụng trong nguồn phân tán khác.
• Thời gian khởi động ngắn nên có thể sử dụng để phủ đỉ
nh đồ thị phụ tải hoặc thích
hợp cho dự phòng quay.
• Phát thải khí CO và NO
x
nhiều hơn so với tuabin khí.
• Chất lượng điện năng không được cao.
• Có khả năng hoạt động độc lập và có khả năng khởi động “đen” (black start).
1.3 Máy phát điện tua-bin khí
Tuabin khí là các thiết bị sử dụng không khí nén dưới áp suất cao kết hợp với
nhiên liệu khí hoặc nhiên liệu lỏng được đánh lửa tạo thành hỗn hợp cháy dưới nhiệt độ
và áp suất cao. Hỗn hợp này được phun trực tiếp vào các cánh tuabin để làm quay máy

• Lượng khí phát thải nhỏ,
• Thích hợp cho chu trình nhiệt điện hỗn hợp,
• Thời gian khởi động, thay đổi công suất nhỏ,
• Hiệu suất điện thấp hơn nhiều so với hiệu suất của cả chu trình nhiệt điện hỗn
hợp.
1.4 Thủy điện nhỏ
Nhà máy thủy điện nhỏ biến đổi năng lượng thế năng của nước thành cơ năng
quay tuabin máy phát để sản xuất ra điện. Công suất điện được tạo ra bởi thế năng của
nước được tính theo công thức:
P = η*ρ*g*Q*H
Trong đó: P là công suất điện được tạo ra,
W; η là hiệu suất tuabin;
ρ là khối lượng riêng của nước, kg/m
3
;
g là gia tốc trọng trường, m/s
2
;
Buồng đốt
Máy phát
Tua-bin
Đ
ường ống dẫn
kh
í
bio
g
as
Kh
í

i khu vực miền núi
phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên.
Hồ chứa
Đ
ập
Máy phát
MB
A
Nhà máy điện
Lưới điện
C

a nhận n
ư

c
Tu
y
ến NL
ư

ng
13 Hình 1.6: Mô hình nhà máy thủy điện kiểu kênh dẫn
Nguồn: www.hydromaxenergy.com
Một số tính chất của thủy điện nhỏ:
• Linh hoạt trong vận hành, có dự trữ quay nên có khả năng dự phòng cho các
trường hợp sự cố,

2
+ O
2
=> 2H
2
O + t
0

Hồ chứa nhỏ Đập tràn
Tuyến năng lượng

Nhà máy điện
Máy biến áp
Lưới điện
14 Hình 1.7: Nguyên lý làm việc của pin nhiên liệu loại axit phosphoric
Nguồn: Internet
Ưu điểm của pin nhiêu liệu này là hiệu suất cao, vận hành không có tiếng ồn, và
không gây ô nhiễm môi trường do nhiên liệu sử dụng là hydrô. Nhiên liệu hydrô được
chiết suất từ khí tự nhiên, dầu mỏ, và biomass. Các loại pin nhiên liệu chính được trình
bày trong bảng 1.1 dưới đây.
Bảng 1.1 : Đặc tính kỹ thuật của một số loại pin nhiên liệu
Loại Điện cực
Nhiệt độ làm
việc (°F) [33]
Hiệu suấ
t
điện

Exchange
Membrane
(PEM)
Polymer
membrane
60-100 40%
Giao thông và
phát điện
Hiện nay, Việt Nam chưa có hệ thống pin nhiên liệu công suất lớn đấu nối, hoạt
động song song trên lưới điện do giá thành của loại nguồn điện này còn rất cao. Khi yêu
cầu về độ tin cậy cung cấp điện ngày càng cao, khái niệm “lưới điện thông minh” bắt đầu
được giới thiệu rộng rãi tại các thành phố lớn thì khả năng xuất hiện của hệ thống pin
nhiên liệu trong h
ệ thống điện Việt Nam sẽ không còn xa.
C

c dư
ơ
n
g
C

c âm
Chất đi

n
p
hân
Nhiên liệu H
y

Nguồn điện PV: gồm các dàn pin NLMT được đấu nối với nhau, mỗi dàn pin
NLMT được ghép từ các miếng pin rời rạc nối với nhau để biến đổi bức xạ mặt trời thành
dòng điện một chiều. Trong pin mặt trời, điệ
n áp được hình thành bằng các electron và
các hố điện tích ở trạng thái mất cân bằng khi có bức xạ mặt trời chiếu vào. Pin mặt trời
tạo ra dòng điện một chiều và chỉ phát điện khi có ánh sáng mặt trời. Do đó cần sử dụng
bộ nghịch lưu để chuyển đổi thành dòng xoay chiều và các bộ tích điện để phát điện vào
thời điểm khác.
Hệ thố
ng PV đấu nối vào lưới điện được chia làm hai loại chính là hệ thống PV
tích hợp, PV phát điện tập trung. Đối với hệ thống PV tích hợp, điện năng sản xuất bằng
các tấm pin năng lượng mặt trời thông qua bộ nghịch lưu biến đổi thành dòng điện xoay
chiều. Tại tủ phân phối, một phần điện năng được sử dụng cho các thiế
t bị trong một tòa
nhà hoặc khu vực dân cư. Phần điện năng dư thừa sẽ nạp điện các bộ tích điện như acquy
hoặc phát lên lưới điện, bán lại điện cho các công ty điện lực.

Hình 1.8: Sơ đồ nguyên lý hệ thống PV tích hợp
Nguồn: Internet
Dàn pin NL mặtt
r

i
Bộ nghịch
l
ư
u

động độc lập với lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam có tiề
m năng lớn để phát triển
nguồn năng lượng mặt trời nên hiện nay đã có một số dự án nguồn điện PV có quy mô
lớn, đấu nối vào lưới điện quốc gia đang dự kiến được triển khai.
Một số tính chất của nguồn điện pin NLMT:
• Chi phí vận hành thấp, không có khí thải,
• Độ tin cậy cao và ít phải bảo dưỡng,
• Chấ
t lượng điện năng không cao,
• Hiệu suất trong phòng thí nghiệm là 24% nhưng trong thực tế là 10%,
• Chi phí đầu tư cao, công suất phát thấp so với các dạng nguồn phân tán khác do
phụ thuộc vào thời tiết và thời gian trong ngày.
Nhà máy nhiệt điện NLMT: Hoạt động với nguyên lý như một nhà máy nhiệt điện
thông thường trong đó năng lượng sơ cấp biến đổi nước thành hơi là nhiệt năng t
ừ ánh
sáng mặt trời. Nguyên lý hoạt động của nhà máy được trình bày trong hình 1.10. Hiện
nay Việt Nam chưa có nhà máy nhiệt điện NLMT nhưng qua nghiên cứu bước đầu cho
thấy có một số địa điểm thích hợp để xây dựng nhà máy điện loại này tại khu vực Trung
Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
Dàn pin NL mặtt
r

i
Tủ đấu

Nguồn: Internet
1.7 Tuabin gió
Năng lượng gió được xếp vào nguồn phân tán vì công suất và vị trí của nhiều
trang trại gió thích hợp khi đấu nối vào lưới điện phân phối. Tuabin gió gồm rôto, máy
phát, cánh quạt, các thiết bị định hướng và ghép nối. Khi gió thổi vào các cánh quạt theo
nguyên lý động lực học làm quay rôto. Lượng công suất điện phát ra phụ thuộc vào tốc
độ gió và diện tích bao phủ của vùng cánh quạt. Hiện nay, có nhiều phân loại khác nhau
về mô hình tua-bin máy phát điện gió nhưng có th
ể chia làm ba loại chính sau[14]:
• Tua-bin gió có vận tốc không đổi (Fixed-Speed Wind Turbine)

Hình 1.10: Mô hình tua-bin gió có vận tốc không đổi
Trong mô hình này, máy phát điện không đồng bộ được nối trực tiếp với lưới như
trong hình vẽ trên. Bộ điều tốc (Gear-box) có vai trò biến đổi tăng tốc độ quay của tua-
bin gió phù hợp với tốc độ của rô-to máy phát điện. Máy biến áp được sử dụng để nâng
điện áp máy phát lên điện áp của lưới điện đấu nối hoặc
điện áp hệ thống gom. Trong mô
hình này, hệ thống tụ được đặt tại đầu ra của máy phát để bù công suất phản kháng mà
Bộ tụ
Máy biếnáp
Điều
tốc
Dàn hấp thụ nhiệt NLMT
Máy phát điện và MBA
Hơi quá nhiệt
Bộ gia nhiệt bổ
sung
Nước làm mát
Nước cấp
Bộ sinh hơi

tốc
Bộ biến đổi điện
tử công suất
Máy biến áp
Bộ biến đổi điện
tử công suất
Máy biến áp
Điều
tốc
19

Mô hình này cũng sử dụng một bộ chỉnh lưu điện tử công suất nhưng điểm khác
nhau chính so với mô hình chỉnh lưu toàn phần là bộ chỉnh lưu này được nối với rô-to
của máy phát không đồng bộ, còn stato của máy phát được nối trực tiếp với lưới. Mô
hình này không những giữ được khả năng điều chỉnh công suất phản kháng của máy phát
mà còn giảm chi phí đầu tư và t
ổn thất công suất qua bộ chỉnh lưu điện tử công suất do
chỉ một phần công suất công suất của máy phát (thông thường từ 20-30%) đi qua bộ biến
đổi này. Mô hình này thích hợp cho những tua-bin gió có công suất lớn.
Việt Nam hiện có duy nhất một nhà máy điện gió đang hoạt động đấu nối vào lưới
điện 110kV: dự án Nhà máy phong điện Tuy Phong - Bình Thuận 20x1,5 MW (công suất
cả dự án) của Công ty cổ ph
ần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN). Hiện nay có năm
tuabin gió (5x1,5 MW) đang vận hành hòa điện, đấu nối và cung cấp điện cho hệ thống
điện quốc gia từ tháng 8/2009. Ngoài ra còn có nhiều dự án điện gió khác đang được
triển khai đầu tư sẽ sớm đưa các nhà máy điện tua-bin gió này vào vận hành như nhà máy
điện gió Phước Hữu, nhà máy điện gió Ninh Thuận
Một số đặc tính của n
ăng lượng gió:
• Không phát thải ra khí thải ô nhiễm,

trên toàn thế giới. Nguyên nhân chủ yếu của xu thế này là do:
- Nguồn điện phân tán sẽ có đóng góp ngày càng quan trọng vào đảm bảo an ninh
năng lượng quốc gia đặc biệt đối với những quố
c gia phụ thuộc phần lớn vào năng
lượng nhập khẩu. Đa số nguồn điện phân tán đều sử dụng năng lượng sơ cấp tại
chỗ nên không bị phụ thuộc vào năng lượng sơ cấp nhập khẩu. Trong khi đó, tình
hình thế giới hiện tại và tương lai có nhiều biến động về kinh tế, chính trị ảnh
hưởng trực tiếp đến
đến nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp truyền thống như than
đá, dầu, khí trên thị trường thế giới. Giá các loại nhiên liệu hóa thạch có xu hướng
tăng cao khó lường dẫn tới chi phí sản xuất điện năng tăng cao
- Giãn tiến độ đầu tư của nền kinh tế vào hệ thống truyền tải, phân phối điện cũng
như giảm gánh nặng cho
đầu tư vào hệ thống nguồn điện. Ngoài ra, do công suất
nhỏ, cho nên các nguồn phân tán có thời gian xây dựng ngắn, giảm thiểu nguy cơ
rủi ro trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng nguồn điện mới so với các
nhà máy điện công suất lớn.
- Về mặt kĩ thuật, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống đ
iều khiển
và tự động hóa, làm cho việc vận hành và điều khiển các nguồn phân tán trở nên
linh hoạt và tin cậy. Nguồn điện phân tán có thể đóng vai trò là nguồn dự phòng
hoặc phủ đỉnh để tăng cường độ tin cậy cung cấp điện cũng như nâng cao chất
lượng điện năng của cả khách hàng và đơn vị phân phối điện.
- Nguồn đ
iện phân tán sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, thủy
điện nhỏ, tuabin gió… là những công nghệ thân thiện với môi trường, giảm thiểu
sự phát thải khí nhà kính, khí CO, NO
x
, SO
x

khác. Chính phủ muốn phát triển những loại nguồn phân tán này phải có chính sách trợ
giá, cũng như những chính sách ưu đãi đặc biệt khác. Những chính sách này có thể góp
phầ
n làm tăng gánh nặng tài chính và thâm hụt ngân sách quốc gia…
2.2.2 Ảnh hưởng về kĩ thuật
Về kĩ thuật, nguồn phân tán cũng có ảnh hưởng tới cấu trúc lưới điện, ổn định
điện áp, thay đổi dòng ngắn mạch và hệ thống bảo vệ rơle, máy biến áp vận hành với chế
độ dòng công suất ngược so với thiết kế ban đầu, dao động điện áp trong các chế độ làm
việc của nguồn điện, tác động đến một số chỉ tiêu của chất lượng điện năng đối với khách
hàng dùng điện và các nhà cung cấp điện…
a) Quá tải lưới điện
Đấu nối nguồn điện phân tán vào lưới phân phối sẽ làm thay đổi dòng công suất
trên lưới điện. Trong nhiều trường hợp những thay đổi này là tích cực khi làm giảm dòng
công su
ất mang tải của lưới điện. Tuy nhiên, nếu quy hoạch lưới điện phân phối không
được thực hiện tốt hoặc phương án đấu nối chưa xem xét tính toán kĩ thì nguồn phân tán
sẽ làm tăng dòng công suất trên lưới. Dòng công suất khi nguồn điện đi vào hoạt động có
22

thể vượt giá trị mang tải định mức các thiết bị trên lưới điện, gây quá tải cục bộ cho lưới
phân phối trong một số chế độ vận hành.
b) Điều khiển điện áp
Trong các chế độ hoạt động khác nhau của nguồn điện phân phối, những nguồn
điện này sẽ tác động đến quá trình điều khiển điện áp của l
ưới điện. Nguồn điện này có
thể làm điện áp trên lưới tăng cao, sụt xuống thấp hoặc gây dao động điện áp trên lưới
điện.
Hình vẽ dưới đây minh họa dao động điện áp phụ thuộc vào công suất phát tác
dụng của nguồn điện phân tán.


này được đấu nối vào lưới. Hình 2.2: Thay đổi dòng ngắn mạch khi đấu nối nguồn điện phân tán vào lưới điện
Dòng ngắn mạch
thiết kế
Nguồn phân tán mới
Thời gian
I
nmmin
I
nm hiện tại
I
nm max
(theo quy định)
I
nm
24

Thay đổi hệ thống bảo vệ của lưới điện: tăng dòng ngắn mạch trên lưới sẽ tác
động đến hệ thống bảo vệ của lưới điện như làm thay đổi sự phối hợp của hệ thống các
thiết bị bảo vệ, thay đổi tính chọn lọc của rơ-le, thay đổi đặc tính thời gian của thiết bị tự
động
đóng lại, thay đổi đến sự an toàn của hệ thống bảo vệ và thay đổi vùng tác động của
rơ-le bảo vệ. Cụ thể như sau:
- Thay đổi sự phối hợp của các thiết bị bảo vệ:

Hình 2.3: Sơ đồ minh họa tác động của nguồn điện phân tán đến hệ thống bảo vệ
Trong đó:
BB, BA: Máy cắt DG1, DG2, DG3: Nguồn điện phân tán FA, FB: Cầu chì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status