BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRẦN VĂN ĐIỀN
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG ĐẬU TƯƠNG XUÂN TRÊN ĐẤT DỐC
Ở TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2010
7. Các biện pháp che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô, phân xanh hoặc nilon
kết hợp với các băng chắn xói mòn là những băng cỏ tự nhiên không
những giảm lượng đất bị xói mòn từ 35-66%, còn có tác dụng làm
tăng năng suất đậu tương lên từ 7-14% và tăng hiệu quả kinh tế từ
15-17% so với công thức không thiết lập b
ăng cỏ hạn chế xói mòn
và không che phủ giữ ẩm.
8. Các biện pháp kỹ thuật cải tiến đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu
đã được người dân ở Bắc Kạn triển khai trên 35 ha mô hình thâm
canh đậu tương xuân trên đất dốc cho năng suất bình quân đạt 19,57
tạ/ha, vượt năng suất đậu tương ngoài mô hình tới 48,4%.
ĐỀ NGHỊ
1. Triển khai tiếp các nghiên cứu về quản lý sâu b
ệnh hại tổng hợp
(IPM) trên cây đậu tương xuân để giảm chi phí thuốc bảo vệ thực
vật và đảm bảo an toàn vệ sinh sản phẩm hạt đậu tương.
2.
Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đưa giống đậu tương
ĐT22 vào cơ cấu cây trồng vụ xuân cho chân đất ruộng 1 vụ lúa
không chủ động nước tại tỉnh Bắc Kạn.1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài: Tỉnh Bắc Kạn có 37,7 nghìn ha đất
cho sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích đất dốc dành cho các
cây màu chiếm 12,5 nghìn ha (Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2007).
Đậu tương là một cây trồng quan trọng đứng thứ 3 sau cây lúa và cây
ngô, nhưng hiện nay người dân ở tỉnh Bắc Kạn chủ yếu vẫn chỉ trồng
một vụ đậu tương hè. Khoảng 65% qu
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho hệ thống
khuyến nông các cấp và nông dân của tỉnh Bắc Kạn lựa chọn được
những giống đậu tương tốt và biện pháp k
ỹ thuật thâm canh phù hợp
với điều kiện canh tác đất dốc trong vụ xuân ở tỉnh. Kết quả nghiên
2
cứu của đề tài giúp cho tỉnh phát triển thêm một vụ đậu tương xuân
trên những diện tích đất dốc thường bỏ hoá trong vụ xuân, tăng hệ số
sử dụng đất dốc, duy trì và cải thiện độ phì của đất, giảm bớt dư thừa
lao động nông thôn trong vụ xuân, góp phần vào phát triển kinh tế xã
hội xoá đói giảm nghèo cho người dân trong vùng.
Mục đích: Nghiên cứu một số biệ
n pháp kỹ thuật chính nhằm
tăng năng suất cây đậu tương gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc,
góp phần hoàn thiện qui trình thâm canh và phát triển sản xuất đậu
tương xuân ở tỉnh Bắc Kạn.
Yêu cầu: (i) Đánh giá được thực trạng bao gồm cả các yếu tố
thuận lợi và khó khăn trong sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc tại
tỉnh Bắc Kạn; (ii) Xác đị
nh được giống đậu tương phù hợp với điều
kiện sinh thái của tỉnh; (iii) Xác định được một số biện pháp kỹ thuật
chủ yếu trong thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc;
(iv) Xây dựng được mô hình trình diễn, bước đầu đề xuất qui trình kỹ
thuật thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc cho tỉnh Bắc Kạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
chính là các giống đậu tương mới được chọn tạo ra từ các cơ quan
nghiên cứu trong nước, có tiềm năng cho năng suất cao trong vụ xuân và
có một số đặc điểm sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện canh tác
cải tiến
Năm và địa điểm
Diện tích
(ha)
NSTB
(tạ/ha)
Số hộ
(hộ)
NSTB
ngoài mô
hình
(tạ/ha)
Năm 2007
Khang Ninh - Huyện Ba Bể 4,5 18,27 17 14,93
Địa Linh - Huyện Ba Bể 2,6 22,15 4 15,73
Bình Văn - Huyện Chợ Mới 7,2 17,84 32 12,34
Tổng và trung bình năm 14,3 19,42 53 14,33
Năm 2008
Nông Hạ - Huyện Chợ Mới 8,9 19,56 178 13,12
Nông Thịnh - Huyện Chợ Mới 5,2 18,47 105 12,63
Lạng San - Huyện Na Rì 3,1 19,35 16 13,28
Văn Minh - Huyện Na Rì 3,7 21,49 21 13,74
Tổng và trung bình năm 20,9 19,72 320 13,19
Tổng và trung bình 2 năm 35,2 19,57 373 13,76
KT: Kỹ thuật; NSTB: Năng suất trung bình KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Có tới 95,8% số hộ dân có đất dốc có thể trồng được đậu tương
2
;
- Phân bón: bón với liều lượng 30 N + 90 P
2
O
5
+ 45 K
2
O + 300
kg vôi bột;
- Phòng trừ sâu bệnh: Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh 4 lần như
quy trình phòng trừ sâu bệnh của Trung tâm khuyến nông tỉnh
Bắc Kạn (2002);
- Biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn: Trên nương đậu tương
để băng cỏ tự nhiên rộng 0,5 m; đất trồng được che phủ bằng
cây phân xanh sẵn có tại địa phương với lượng 3 kg/m
2
;
- Với đậu tương trồng xen: Trồng xen ngô với mật độ 15000
cây/ha (3 cây ngô/2 m
2
);
- Các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như Quy trình trồng đậu
tương của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Kạn (2002).
Qui trình kỹ thuật đề xuất này đã được tập huấn cho người dân để
thực hiện xây dựng các mô hình trình diễn tại địa bàn sản xuất của tỉnh.
3.4.2. Kết quả xây dựng một số mô hình thâm canh đậu tương
xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn trong 2 năm 2007 và 2008
Kết quả triển khai một số mô hình trồng đậu tương tại một số
xã của tỉnh Bắc Kạn cho thấy giống đậu tương ĐT22 cho năng suất
O + 300 kg vôi; trồng xen ngô với đậu
tương với mật độ 15000 cây ngô/ha (3 cây ngô/2 m
2
); và áp dụng
phương pháp che phủ bằng cây phân xanh để giữ ẩm đất kết hợp với
băng cỏ tự nhiên để hạn chế xói mòn.
Khối lượng và cấu trúc luận án: Luận án gồm 195 trang, 49
bảng biểu, 2 biểu đồ, 8 ảnh minh họa, 180 tài liệu tham khảo. Cấu
trúc luận án gồm 8 phần: mở đầu, tổng quan tài liệu nghiên cứu trong
và ngoài nước, vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu, kế
t quả
và thảo luận, kết luận và đề nghị, một số bài báo đã công bố liên quan
đến nội dung luận án, tài liệu tham khảo và phụ lục.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cở sở khoa học của việc tăng năng suất cây đậu tương
Cơ sở sinh lý của việc tăng năng suất cây trồng đã được xây
dựng bởi Charles-Edwards (1982) và nhiều nhà nghiên cứu khác thể
hiện qua công thức: năng suất kinh tế là hàm số tích của tổng sinh
khối tích lũy và hệ số thu hoạch (HI).
Năng suất kinh tế (NS) = Tổng sinh khối x HI
Các nhà ch
ọn giống và nông học thường định hướng chọn
giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý để để đạt được năng
suất kinh tế cao theo một số cơ chế sau:
1.1.1. Tăng khả năng tiếp nhận năng lượng để tăng tổng sinh khối
Trong điều kiện canh tác bình thường, tỷ lệ sinh trưởng của cây
đậu tương là hàm tuyến tính của năng lượ
ng ánh sáng hấp thụ được
Hệ số thu hoạch (Harvest Index - HI) phụ thuộc vào mối quan hệ
tương đối giữa thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh
thực. Nhìn chung, HI sẽ tăng lên khi thời gian sinh trưởng sinh thực
chiếm tỷ lệ l
ớn hơn trong toàn bộ thời gian sinh trưởng. Chế độ ánh
sáng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tập tính sinh trưởng của các giống.
Ở đậu tương, điều kiện ánh sáng ngày dài sẽ làm giảm quá trình vận
chuyển vật chất khô và đạm tích lũy về hạt (Cure và các cs, 1982), làm
tăng khả năng sinh trưởng sinh dưỡng (Guiamet và Nakayama, 1984).
1.1.4. Tối ưu hóa những tính trạng có tương quan thuận với năng suất hạt
Mehetre và các cs (1998) chỉ ra rằng để chọn giống đậu tương có
năng suất cao và ổn định cho một vùng nên sử dụng các tính trạng có hệ
số di truyền cao và tương quan thuận với năng suất. Ở Việt Nam, một số
nghiên cứu về tương quan giữa các tính trạng và năng suất hạt đậu tương
đã kết luận năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn vớ
i thời gian
sinh trưởng, số quả chắc/cây, số đốt mang quả, số đốt/thân chính, chiều
cao cây, số cành cấp 1 và số hạt/quả (Nguyễn Tấn Hinh, 1992), Vũ Đình
Chính, 1995, Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Tấn Hinh, 2003).
1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương
1.2.1. Sử dụng giống đậu tương năng suất cao
Liu và các cs (2008) cho rằng chọn được giống
đậu tương có
năng suất cao và ổn định phù hợp với một vùng sinh thái là bước
21
tương cho năng suất cao hơn. Sự tương tác giữa biện pháp che phủ và băng cỏ
hạn chế xói mòn cũng không có ý nghĩa đối với chỉ tiêu NSTT.
Bảng 3.46. Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói
mòn đến năng suất thực thu của giống đậu tương ĐT22
Thu - Chi
(triệu
đồng/ha)
CT1 (không băng + không che) 9,16 21,55 12,38
CT2 (không băng + cỏ và rơm) 10,66 23,18 12,52
CT3 (không băng + phân xanh) 11,06 23,49 12,43
CT4 (không băng + nilon) 11,76 24,94 13,17
CT5 (có băng + không che) 9,16 23,20 14,04
CT6 (có băng + cỏ và rơm) 10,66 24,94 14,27
CT7 (có băng + phân xanh) 11,06 25,99 14,93
CT8 (có băng + nilon) 11,76 26,34 14,58
Trong các công thức không thiết kế băng chắn xói mòn, công
thức che phủ bằng nilon cho hiệu quả kinh tế cao nhất có lãi thuần
đạt 13,17 triệu đồng/ha. Còn trong các công thức có thiết kế băng
chắn xói mòn thì công thức che phủ bằng cây phân xanh có hiệu quả
kinh tế cao nhất có lãi thuần đạt tới 14,93 triệu đồng/ha.