Nghiên cứu điều trị rách sụn chêm do chấn thương bằng khâu nội soi - Pdf 13

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển sâu rộng, gia tăng các
phương tiện giao thông và tập luyện thể thao làm cho tỷ lệ chấn thương trong đó
có chấn thương khớp gối ngày càng tăng. Thương tổn sụn chêm do chấn thương
kín khớp gối thường gặp, chiếm 68 - 75%, nhiều hơn so với các loại tổn thương
sụn chêm do các nguyên nhân khác [27].
Đối với thương tổn sụn chêm, các phương pháp điều trị kinh điển như
“nắn lại” sụn bị rách hoặc bất động khớp gối sau chấn thương đã có những kết
quả nhất định. Kết quả điều trị các phương pháp này phụ thuộc vào tính chất,
hình thái và vị trí của đường rách, tuy nhiên có nhược điểm là thời gian bất
động kéo dài sau chấn thương do đó có những hạn chế.
Phương pháp điều trị phẫu thuật mở khớp gối để cắt sụn chêm bán
phần hay toàn phần đã được áp dụng trong một thời gian dài nhưng nhược
điểm của phương pháp này là phải bất động sau phẫu thuật, thời gian điều
trị kéo dài, nguy cơ nhiễm khuẩn cao, dễ bỏ sót tổn thương và gây nhiều
thương tổn phần mềm do đó kết quả phục hồi cơ năng cho khớp gối bị hạn
chế.
Nhờ kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân cho phép thấy rõ hình ảnh
tổn thương của các thành phần bên trong khớp, giúp phẫu thuật viên đưa ra
chẩn đoán và phương pháp điều trị thích hợp, có ý nghĩa rất lớn trong việc
tránh được những hậu quả không đáng có phát sinh từ thương tổn này như
hạn chế vận động của khớp gối, teo cơ, thoái hóa khớp cũng như việc phục
hồi vận động khớp gối.
Phẫu thuật nội soi khớp gối lần đầu tiên được tiến hành trên thế giới vào
năm 1955 do Watanabe M. thực hiện [31] và đã có nhiều sự phát triển nhanh
chóng. Từ đóNhờ từng bước hoàn thiện và được ứng dụng ngày càng rộng rãi
với nhiều ưu điểm: chẩn đoán chính xác các thương tổn bên trong khớp gối,
Style Definition: TOC 3: Indent: Left: 0.39",
Hanging: 0.5", Tab stops: 6.1", Right,Leader:

đoán và điều trị thương tổn sụn chêm. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về
chẩn đoán và điều trị rách sụn chêm còn ít, nhất là tham khảo y văn trong
3
nước chưa thấy có đề tài nào đề cập riêng về phẫu thuật nội soi khâu sụn
chêm.
Năm 2012, Nguyễn Quốc Dũng đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ của
mình với đề tài “Nghiên cứu hình thái tổn thương sụn chêm khớp gối và đánh
giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt sụn chêm”. Trong công trình
nghiên cứu, tác giả cũng đã thông báo 44 trường hợp sụn chêm khớp gối được
khâu lại. Toàn bộ các trường hợp chỉ được thực hiện bằng kỹ thuật khâu từ
trong ra ngoài. Kết quả kiểm tra từ 3-12 tháng cho thấy về lâm sàng theo
thang điểm Lysholm đều đạt kết quả rất tốt và tốt, không có kết quả kém .
Tuy nhiên, tác giả chưa có được hình ảnh cận lâm sàng để minh chứng cho
những kết quả đã đạt được [3].
Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều trị rách sụn
chtrênm do chấn thương bằng khâu nội soi” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình thái tổn thương rách sụn
chêm do chấn thương trên bệnh nhân được phẫu thuật khâu nội soi.
2. Đánh giá kết quả điều trị rách sụn chêm do chấn thương bằng phương
pháp khâu nội soi.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. ĐẶC ĐIỂM VỀSƠ LƯỢC GIẢI PHẪU CỦA SỤN CHÊM
1.1.1. Sụn chêm trong
Sụn chêm trong có hình chữ C, dài khoảng 5 - 6 cm, đi từ diện trước
gai chạy vòng theo mâm chày trong ra phía sau và bám vào diện sau gai, bờ
ngoại vi dính chặt vào bao khớp trong.
Sừng sau (16 - 20 mm) rộng hơn sừng trước (8 - 10 mm), sừng trước bám

Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: List Paragraph, Centered, Indent:
First line: 0", Tab stops: 0.39", Left
5
Sụn chêm ngoài có hình chữ O mở vào trong, phủ bề mặt khớp mâm
chày và rộng hơn sụn chêm trong, nó xuất phát từ diện trước gai, hơi ra phía
ngoài một chút so với điểm bám của dây chằng chéo trước ở mâm chày.
Sừng trước và sừng sau của sụn chêm ngoài rộng bằng nhau, kích thước
khoảng 12-13 mm. Sụn chêm ngoài chạy vòng ra sau theo bờ mâm chày ngoài
và bám vào diện sau gai cùng với dây chằng đùi - sụn chêm và dây chằng chéo
sau [25].
1.1.3. Thần kinh và mạch máu nuôi sụn chêm
 Mạch máu nuôi sụn chêm:

Hình 1.2: Sơ đồ cấp máu cho sụn chêm
*Nguồn: Direct real time measurement of meniscal blood flow - Swiontkowski M. F.
(1988) [78]
Mạch máu nuôi dưỡng sụn chêm đều được tách ra từ các nhánh của
động mạch khoeo. Ở khoeo, động mạch khoeo chia ra 5 nhánh bên:
- Hai nhánh trung tâm đi vào bao khớp phía sau và tạo thành mạng
mạch nuôi dưỡng bao khớp.
- Sau đó động mạch khoeo chia thành những nhánh nhỏ là: động mạch
gối trên, gối giữa và gối dưới:
+ Động mạch gối giữa chạy xuyên qua bao khớp phía sau và chia thành
3 nhánh cấp máu cho dây chằng chéo sau, vùng cạnh sụn chêm trong và vùng
cạnh sụn chêm ngoài.
+ Động mạch gối dưới gồm nhánh bên trong và bên ngoài xuyên qua

máu bắt đầu giảm dần, tổn thương có thể lành khi điều trị đúng nhưng kết quả
đem lại với tỷ lệ thấp hơn.
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Line spacing: Multiple 1.3 li
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
7
- Vùng vô mạch (vùng trắng - trắng): 1/3 trong không có mạch máu
nuôi, rách ở đây không có khả năng phục hồi nên thường điều trị cắt bỏ đi
phần rách.
Đây là cơ sở quan trọng cho việc chỉ định khâu sụn chêm bị rách do
chấn thương.

Hình 1.4: Phân vùng sụn chêm theo cấp máu
*Nguồn: Direct real time measurement of meniscal blood flow - Swiontkowski M. F.
(1988) [78]
 Thần kinh:
Thần kinh đi theo cùng mạch máu, nằm trong lớp áo ngoài của mạch
máu và đi vào sụn chêm phân nhánh cùng các bó sợi collagen tạo thành mạng
lưới. Các sợi thần kinh tập trung chủ yếu một phần ba rìa ngoài của sụn chêm
và đóng vai trò bảo vệ khớp chống lại những cử động bất thường [77].
1.2. CẤU TẠO MÔ HỌC CỦA SỤN CHÊM
Năm 1958, tác giả Viernstein K. đã nêu sụn chêm được cấu tạo bởi 65%
sợi collagen, 16% chondrotinsulfat, 19% là nước và các thành phần khác. Khi
sụn chêm bị thoái hóa, lượng chondrotinsulfat sẽ giảm đi còn khoảng 5%,
thay thế vào đó sẽ là các tổ chức xơ, còn thành phần collagen gần như không

khác nhau của sụn chêm, nên dẫn đến các hình thái tổn thương giải phẫu bệnh
khác nhau:, ví dụ như tổn thương ở phần rìa sụn chêm sát bao khớp thường là
đường rách dọc, tổn thương tại phần tự do thường là tổn thương rách ngang
hoặc rách hình vạt.

Sợi đứng dọc
Sợi dọc
Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li
9

Hình 1.5: Cấu trúc mô học và phân tử sụn chêm
*Nguồn: The meniscus: review of basic principles with application to Surgery and
Rehabilitation - Timothy Brindle (2001) [81]
Năm 1911, Fick R. nghiên cứu cấu trúc sụn chêm ở người trưởng thành
đã nhận thấy những bó sợi chun bao quanh tổ chức xơ sụn thành một lớp
mỏng và nằm trong lớp tổ chức liên kết. Các bó sợi này sắp xếp theo hình
vòng cung chạy từ phần nền sụn chêm ra đến phần rìa [35].
Năm 1936, nghiên cứu của Tobler T. vào năm 1936 cũng cho thấy cấu
trúc sụn chêm của trẻ sơ sinh là những mô liên kết sắp xếp dạng lượn sóng
xen kẽ với những bó sợi chun [97].
Theo công trình nghiên cứu của Reinbach W. năm 1954 [93], Bullough
P. G. năm 1970 [21] và Walker P. S. năm 1975 [83] cho thấynêu lên rằng sự
sắp xếp của các bó sợi chun và tổ chức xơ sụn theo cấu trúc không gian 3 chiều
đã đảm bảo cho sụn chêm thực hiện vai trò hấp thu lực, phân phối và dàn đều
lực.
Năm 1986, Beaupre A. R. quan sát trên kính hiển vi điện tử nhận thấy
các bó sợi nằm ngang ở bờ tự do giúp cho sụn chêm có khả năng hấp thu lực,

Hình 1.6: Cơ chế gây tổn thương sụn chêm của gối
*Nguồn : Sémiologie TraumatologieLa pathalogie mécanisque du Genou -
SaragagliaLerat J. L. (20053) [105]

Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Not Italic
11
Ở các độ tuổi khác nhau thì độ dày, độ chắc và chất lượng lớp sụn của
mặt khớp cũnghày và đùi khác nhau. Chính vì vậy, do đó khi bị chấn thương
sẽ gây ra những kiểu thương tổn khác nhau. Ở những nNgười trẻ, mặt sụn
khớp dày, khả năng đàn hồi và, hấp thu lực còn tốt nên thường thấy đường
rách dọc. Ngược lại, ở nNgười trưởng thànhlớn trên 30 tuổi, chất lượng sụn
thường bắt đầu suy giảm, khả nănghông hấp thu được các lực xoay kém hơn
nên cho rahay gặp đườnghình dạng rách ngang hoặc rách chéo. Ở nNgười già,
sụn khớp thoái hoá nhiều, lớp sụn mất đi, khe khớp gối hẹp lại, cử động lăn
của lồi cầu trên mâm chày bị ma sát nhiều, nên thường thấy những đườngcó
rách nham nhở [105].
Kiểu rách dọc thường gặp khi mức độ chấn thương quá lớn ở tư thế gối
duỗi tối đa, làm cho mâm chày xoay ngoài quá mức. Khi mảnh rách dọc sụn
chêm quá lớn và có dạng hình quai xách, quai này di chuyển vào trong khuyết
lồi cầu và gây kẹt khớp [76], [77].

miếng đệm có vai trò giảm sự va đập và chấn động của lồi cầu đùi với mâm chày
khi gấp duỗi gối [35].
Sự chuyển động và thay đổi hình dạng của sụn chêm trong quá trình gấp,
duỗi gối cũng như các động tác xoay trong, xoay ngoài của khớp gối đảm bảo
vai trò hấp phụ lực của sụn chêm. Khi gấp gối, cả hai sụn chêm cùng trượt dần
trên mâm chày ra phía sau và ngược lại khi duỗi gối cả hai sụn chêm cùng trượt
dần trên mâm chày ra phía trước. Qua đó diện tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và mâm
chày tăng lên, lực tác động giữa lồi cầu đùi và mâm chày giảm đi.
1.4.3. Chức năng tăng diện tiếp xúc giữa lồi cầu đùi với mâm chày
Nhờ có sụn chêm mà diện tích tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và mâm chày
tăng lên. Các nghiên cứu có sử dụng cảm ứng lực của Helne H. J. năm 1981
[37], của Baratz M. E. năm 1986 [16] cho thấy sau khi cắt bỏ sụn chêm làm
cho giảm đáng kể diện tiếp xúc giữa lồi cầu và mâm chày.
1.4.4. Chức năng dàn đều dịch khớp
Sụn chêm tạo sự tương hợp giữa hai mặt tiếp xúc giữa lồi cầu đùi và
mâm chày, qua đó phân bố đều hoạt dịch bôi trơn giúp dinh dưỡng sụn khớp.
Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Swedish (Sweden)
13
1.4.5. Các vai trò khác
Sụn chêm góp phần cho sự vững chắc của khớp gối. Bên cạnh đó với cấu
trúc mật độ dày các cảm thụ bản thể tập trung ở sừng sau sụn chêm đã giúp
cho chúng có vai trò bảo vệ khớp gối chống lại các cử động xoay và duỗi gối
quá mức. Ngoài ra sụn chêm còn có tác dụng lấp đầy khe khớp gối, tránh cho
bao khớp và hoạt mạc không bị kẹt vào khe khớp [95].
Tóm lại:, qua giải phẫu, cấu tạo mô học, cơ sinh học và vai trò của sụn
chêm ta thấy rằng: trong chấn thương sụn chêm trong dễ tổn thương hơn sụn
chêm ngoài. Bên cạnh đó , tuổi trẻ sụn chêm thường rách dọc. , nNếu cắt bỏ
sụn chêm sẽ làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối, do đó rách sụn chêm ở

Ngoài thương tổn rách sụn chêm, kẹt khớp còn có thể gặp trong bệnh lý
như: sụn chêm hình đĩa, chuột khớp, sai khớp xương bánh chè, các bệnh lý
sụn khớp hoặc hiếm gặp hơn nhưlà trong bệnh lý phát triển phì đạiquá phát
dây chằng Hoffa [70].

1.5.1.3. Tràn máu khớp gối
Là dấu hiệu hay gặphằng định nhất trong chấn thương khớp. Khi có tổn
thương sụn chêm,. Tuy nhiên cần phân biệt rõ tính đặc trưng của tràn máu
khớp gối trong thương tổn sụn chêm với thương tổn dây chằng. Trong tổn
thương sụn chêm, tràn máu khớp gối thường xuất hiện muộn vào ngày thứ 2
sau chấn thương, khác với những. Còn khi chấn thương có tổn thương dây
chằng, tràn máu khớp gối thường xuất hiện ngay trong những giờ đầu.
Tuy nhiên, theo Triliat A. trong những trường hợp chấn thương mạnh
gây tổn thương sừng sau của sụn chêm kèm theo có rách bao khớp phía sau
thì dịch khớp kèm theo máu tụ sẽ chảy ra ngoài khớp và nằm tại tổ chức dưới
da ngay những giờ đầu [106].
1.5.1.4. Các nghiệm pháp lâm sàng
Có nhiều nghiệm pháp, nhưng nhìn chung có thể chia thành những nhóm
như sau:
- Tìm đĐiểm ấn đau khu trú:
+ Nghiệm pháp Bragrad: được Bragard K. mô tả lần đầu tiên năm
1930 dựa trên sự dịch chuyển của sụn chêm khi gối gấp và xoay. Nếu tổn
thương sụn chêm trong, bệnh nhân sẽ đau vùng khe khớp gối bên trong khi
cẳng chân xoay trong và ngược lại sẽ đau vùng khe khớp gối bên ngoài khi
xoay cẳng chân ra ngoài với bệnh nhân tổn thương sụn chêm ngoài [88].
+ Nghiệm pháp Steinmann II:
Thực hiện tương tự như nghiệm pháp Bragrad nhưng ngón tay người
khám đặt vào khe khớp. Tay còn lại nắm cổ chân bệnh nhân và từ từ gấp gối
lại khi đánh giá tổn thương sừng sau và duỗi gối ra khi đánh giá tổn thương
Formatted: Line spacing: Multiple 1.35 li

- Đau khi gấp, duỗi gối và xoay cẳng chân:
16
+ Nghiệm pháp Mac Murray: được Mc Muray mô tả năm 1942 dựa trên
hiện tượng “lục khục” trong khớp gối khi sụn chêm bị rách [51].
- Đau khi sụn chêm bị ép và xoay cẳng chân:
+ Nghiệm pháp Apley: được Apley mô tả năm 1947, dựa vào cảm giác đau
của bệnh nhân khi sụn chêm rách bị ép giữa lồi cầu đùi và mâm chày [13]. Theo
Wirth C. J. nghiệm pháp Apley có thể đạt được độ chính xác đến 85% trong
xác định thương tổn sụn chêm [98].
Ngoài ra còn có nhiều nghiệm pháp thăm khám sụn chêm như Test de
Cyriax, Test troisier, Test Cridu ménique [39], [69], [104].
Theo Zippel H. tuỳ theo từng nghiệm pháp thăm khám lâm sàng mà tỷ lệ
chẩn đoán thương tổn sụn chêm có độ chính xác khoảng 60 đến 95% [99].
Ricklin P. cho rằng cần phối hợp nhiều nghiệm pháp khác nhau để có tỷ lệ
chẩn đoán chính xác cao nhất. Tác giả khuyên khi nghiệm pháp dương tính có
thể nghĩ đến thương tổn sụn chêm nhưng cũng không nên loại trừ trong
trường hợp nghiệm pháp âm tính [94].
Tóm lại, mỗi nghiệm pháp chẩn đoán rách sụn chêm có độ chính xác
khác nhau tuỳ theo thói quen thăm khám của thầy thuốc. Vì vậy để có một kết
quả chẩn đoán chính xác và khách quan hơn, nên phối hợp các nghiệm pháp
khi thăm khám.
1.5.2. Thăm khám cCận lâm sàng
1.5.2.1. Chụp X - quang thẳng, nghiêng
Đây là phương pháp hay dùng trong chấn thương khớp gối, tuy nhiên cần
chụp cả hai bên khớp để so sánh. X - quang khớp gối không xác định được
thương tổn sụn chêm mà chỉ cho phép loại trừ các bệnh lýí khác như dị vật khớp
gối, thoái hoá khớp, viêm xương sụn khớp kèm theo.
1.5.2.2. Chụp khớp gối có cản quang sụn chêm khớp gối
Có 3 phương pháp được thực hiện tuỳ thuộc vào chất cản quang được sử
dụng: . đĐó là dùng chất cản quang dạng khí, dạng dầu hoặc dùng phối hợp

Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Centered, No bullets or
numbering
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold
Formatted: Swedish (Sweden)
18
Năm 1986, Rabenseinfner L. sử dụng đầu dò siêu âm tần số 7,5 MHz
chẩn đoán chính xác thương tổn đường rách dọc theo chiều dài sừng sau sụn
chêm. Tác giả nhận thấy với những tổn thương sừng sau sụn chêm rất dễ dàng
nhận thấy trên siêu âm [92].

Hình 1.8: Hình ảnh rách sụn chêm trên siêu âm
*Nguồn: Die sonographiesche Untersuchung des Kniegelenkes - eine experimentle ind
klinische Studie - Rabenseifner L. (1986) [92]
Gergross H. và cộng sự (1986) khi đối chiếu kết quả giữa siêu âm và qua
nội soi khớp nhận thấy tỷ lệ chẩn đoán xác định của siêu âm trong thương tổn
sụn chêm khoảng 70 đến 90% tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người làm siêu
âm. Tác giả nhận thấy qua siêu âm có thể phát hiện được sự thay đổi cấu trúc
sụn chêm dù những thay đổi cấu trúc này rất nhỏ. Sự thay đổi này có thể
không gây rách sụn chêm vào thời điểm đó nhưng sẽ dẫn đến hiện tượng rách
sụn chêm sau này [102].
1.5.2.5. Chụp cộng hưởng từ
Phương pháp tạo ảnh cộng hưởng từ được Bloch và Purcell phát hiện
năm 1945. Đến năm 1976 -1980 các tác giả Mansfeild, Damian mới ghi được
hình ảnh đầu tiên trên người. Ngày nay phương pháp này được ứng dụng rộng
rãi vì có độ tin cậy cao trong chẩn đoán thương tổn sụn chêm.

Các dấu hiệu tổn thương sụn chêm trên cộng hưởng từ:
+ Về tín hiệu: tăng tín hiệu trên T2W ít nhất phải là 1 bờ của sụn chêm
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: Font: Calibri, 11 pt, Not Bold, Font
color: Auto, English (United States)
Formatted: Font: Calibri, 11 pt, English
(United States)
Formatted: Font: Calibri, 11 pt
Formatted: Font: Calibri, 11 pt, English
(United States)
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: French (France)
20
+ Về hình thái: thấy các đường rách (đường bờ gợn sóng, không đều), hoặc
các hình ảnh đặc biệt giúp cho chẩn đoán rách sụn chêm dù không thấy đường
rách như: dấu hiệu “2 sừng trước” (do sừng sau bị rách đẩy ra phía trước), dấu
hiệu “quai xô nước”, “dây chằng chéo sau kép” trong rách quai xách, dấu hiệu
sụn chêm bị mỏng đi ở phía bao khớp, dày lên về phía bờ tự do…
Theo Steinbrich W. nếu phối hợp với thăm khám lâm sàng thì độ chính
xác của chụp cộng hưởng từ khoảng 90% [95]. Tuy nhiên phương pháp này
có nhược điểm đắt tiền và kết quả phụ thuộc vào người đọc, chất lượng máy.

nội soi để chẩn đoán bệnh lý khớp gối đã được ứng dụng rộng rãi ở một số
nước trên thế giới. Ví dụ như: tại Mỹ năm 1925 bởi Philipp Kreuscher, tại Hà
Lan và Đức năm 1937 bởi Hustinx Roland và Rene Sommer, tại Pháp năm
1955 bởi Hurter [39], [65], [90], [101]. Các tác giả đều thừa nhận rằng với:
những ống kính có kích thước nhỏ đã giúp cho việc có thể quan sát rõ các
thành phần trong khớp, đánh giá những thay đổi bệnh lý, từ đó đưa ra những
chỉ định điều trị thích hợp [16], [104].
Có thể thấy, nNội soi khớp gối là phương pháp tốt nhất để xác định các
tổn thương trong khớp gối, mọi hình ảnh tổn thương đều được quan sát bằng
mắt thường thông qua camera đưa hình ảnh từ bên trong gối ra màn hình. Với
kỹ thuật nội soi, ta có thể thấy được trực tiếp vị trí rách, loại rách, màu sắc
thật của sụn chêm và các tổn thương phối hợp. Tuy nhiên, đây là phương
pháp can thiệp nên có thể có nguy cơ nhiễm khuẩn, thực hiện phải tuân thủ
nghiêm ngặt những quy định về vô khuẩn.
1.6. HÌNH THÁI TỔN THƯƠNG RÁCH SỤN CHÊM
Tuỳ theo thời gian, vị trí, tính chất và hình thái đường rách mà phân chia
thành nhiều loại khác nhau.
1.6.1. Theo vị trí sừng của sụn chêm
+ Rách sừng trước sụn chêm
+ Rách sừng sau sụn chêm
+ Rách sừng giữa sụn chêm (thân)
1.6.2. Theo tính chất thời gian
+ Rách mới: trong vòng ba tuần đầu tiên kể từ khi chấn thương.
22
+ Rách cũ: ngoài thời gian ba tuần sau chấn thương.

1.6.3. Theo phân vùng cấp máu sụn chêm
- Vùng đỏ - đỏ (vùng giàu mạch máu nuôi): chiếm 1/3 ngoài, vùng này
có đầy đủ mạch máu nuôi, rách vùng này dễ liền nếu phát hiện sớm và khâu
phục hồi.

Hình 1.12: Phân loại tổn thương sụn chêm theo O’Connor
A: rách dọc B: rách chéo C: rách nan quạt D: rách ngang E: rách biến dạng
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T. (2004) [80]

+ Rách dọc: đường rách dọc theo bờ chu vi của sụn chêm. Khi đường
rách này dài gây kẹt khớp thì gọi là rách dọc kiểu quai xách.

Hình 1.13: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách dọc kiểu quai xách
Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T. (2004) [80]

+ Rách chéo cũng được xem như là rách kiểu vạt: thường gặp và xảy
ra tại điểm nối 1/3 giữa và 1/3 sau.

Formatted: Centered, No bullets or
numbering
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Italic
Formatted: Font: 12 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Indent: Left: 0.06"
Formatted: Justified
Formatted: Hinh, Tab stops: Not at 0"
24
Hình1.14: Hình ảnh nội soi sụn chêm rách chéo
*Nguồn: Meniscal Injuries in Active Patients - Theodore T. (2004) [80]

+ Rách hình tia (nan quạt): cũng thường xảy ra ở những vị trí điểm nối
1/3 giữa và 1/3 sau, chúng kéo dài từ mép tự do ngang qua sụn chêm đến phía
ngoại vi. Kiểu rách này làm mất khả năng phân phối lực ra phía ngoại biên
của sụn chêm thường phải cắt sụn chêm toàn bộ.

chêm ngoài bằng cách dùng ngón tay ấn vào khe khớp bên ngoài.
Năm 1773, William Bronfield cũng đã mô tả cách nắn sụn chêm bằng
cách nắm lấy cổ chân bệnh nhân từ từ kéo và gấp dần gối lại. Sụn chêm sẽ trở
về vị trí giải phẫu.
Năm 1803, VonHey cũng đưa ra phương pháp nắn lại sụn chêm khớp gối
khi bị kẹt khớp bằng cách duỗi mạnh khớp gối sau đó từ từ gấp lại.
Tuy nhiên, khi điều trị bảo tồn thì thời gian bất động bột kéo dài. Bên
cạnh đó, phương pháp này cũng có nhược điểm là không xác định được chính
xác đường rách nhỏ hay lớn, rách dọc theo thân sụn chêm hay rách phức tạp,
rách vùng rìa nơi cấp máu tốt hay là vùng vô mạch dẫn đến tỷ lệ thành công
thấp. Theo Dehaven K.E. tỷ lệ thành công là 38% [28]. Do đó ngày nay các
tác giả trên thế giới gần như chọn biện pháp can thiệp tích cực là can thiệp
phẫu thuật trừ các trường hợp: đường rách dọc thân nhưng không hết chiều
dày; hoặc đường rách dọc hết chiều dày dưới 10mm và phần sụn chêm rách di
Formatted: Font: 12 pt
Formatted: English (United States)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status