LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TIỂN CÔNG NGHỆ HÓA SINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÁC HỢP CHẤT
POLYPHENOL TRONG MỘT SỐ GIỐNG
CHÈ Ở VIỆT NAM”
2.2.5. Một số nghiên cứu trong nước và ngoài nước về hóa - sinh – y dược
học trên cây chè (Camellia sinensis O. Kuntz)
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng thực vật
3.1.2 Đối tượng động vật
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Chiết xuất và định lượng Polyphenol tổng số theo phương pháp của
Folin – Denis.
3.2.2. Chiết xuất và định lượng Flavonoid tổng số theo phương pháp của B.C.
Talli
3.2.3. Định lượng Tanin tổng số theo phương pháp Dược Điển Việt Nam
3.2.4 Phân tích thành phần Flavonoid bằng sắc ký lớp mỏng và phổ tử ngoại
3.2.5 Xác đị
nh hoạt độ peroxydaza trong máu theo E. C. Xavron
3.2.6. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của các chế phẩm Flavonoid chiết
xuất từ các mẫu lá chè khác nhau
3.2.7. Nghiên cứu tác dụng độc tế bào invitro của các chế phẩm Flavonoid
chiết xuất từ các mẫu lá chè khác nhau
3.2.8 Xác định độc tính cấp theo phương pháp của A. Wallace Hayes
3.2.9 Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của chế phẩm Flavonoid chiết xuất từ
chè Trung Du lá xanh – F
14
(in vivo)
Trang 1
3
3.2.10. Nghiên cứu tác dụng hạ lipid huyết của chế phẩm Flavonoid F
14
(chiết
xuất từ chè Trung Du lá xanh) trên mô hình tăng lipid huyết nội sinh gây bởi
Triton WR -1339 trên chuột nhắt trắng.
3.2.11. Nghiên cứu hoạt tính chống ung thư và chống di căn ung thư trên
động vật thực nghiệm
3.2.12 Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HOÁ HỌC
4.1.1. Khảo sát sự có mặt của nhóm chất Polyphenol bằng các phản ứng định
tính đặc trưng
4.1.2. Xác
định trọng lượng khô tuyệt đối của lá chè
4.1.3. Định lượng Polyphenol tổng số trong lá chè
4.1.4. Định lượng Tanin tổng số trong lá chè
4.1.5. Chiết xuất và định lượng Flavonoid tổng số trong lá chè
4.1.6. Phân tích thành phần Flavonoid tổng số thu được bằng sắc ký lớp mỏng
và phổ tử ngoại.
4.2 NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG SINH HỌC
4.2.1.Nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá (Antioydant) của các chế phẩm
Flavonoid chiết xuất từ các giống chè khác nhau đối với nhóm máu O củ
a
người.
4.2.2 Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của chế phẩm Flavonoid chiết xuất từ
các giống chè khác nhau.
4.2.3 Nghiên cứu tác dụng gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư của các
chế phẩm Flavonoid chiết xuất từ các giống chè khác nhau.
4.2.4.Nghiên cứu độc tính cấp của chế phẩm Flavonoid chiết xuất từ chè
TDLX
46
46
49 52
56
58
61 62
65
67 1
Phần 1:MỞ ĐẦU
Cây chè (Camellia sinensis O. Kuntze) là một trong những loại cây có ảnh
hưởng lớn đến cuộc sống nhân loại và có bề dày lịch sử phát triển. Hầu như mọi dân
tộc trên trái đất đều biết uống trà; đây là loại nước uống phổ biến nhất mang tính toàn
cầu. Việc uống trà truyền thống đã giúp cho con người dần dần nhận biết những giá trị
polyphenol ưu việt để định hướng khai thác một cách có hiệu quả nguồn nguyên liệu
phong phú này vào mục
đích phục vụ sức khỏe cộng đồng là một hướng nghiên cứu
mới, cần thiết và có nhiều triển vọng. Với mong muốn đóng góp những hiểu biết để
2
nâng cao giá trị cây chè Việt Nam và hướng tới ứng dụng các hợp chất Polyphenol từ
cây chè Việt Nam vào mục đích bảo vệ sức khỏe chúng tôi đã thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu sử dụng các hợp chất polyphenol trong một số giống chè trồng
ở Việt Nam ”
Những nội dung chính của đề tài
• Chiết xuất và định lượng các hợp chất polyphenol chủ yếu trong lá của một
số giống chè trồng ở Việt Nam
- Định lượng Polyphenol tổng số
- Chiết xuất và định lượng Flavonoit tổng số ( giàu các chất catechin và 1 tỷ lệ nhỏ
các flavonoit khác) vì vậy gọi tên là chế phẩm giàu catechin. Thu 16 chế phẩm
- Định lượng Tanin tổng số
- Phân tích các chế phẩm giàu catechin bằng sắc ký lớp mỏng và ph
ổ tử ngoại.
• Nghiên cứu tác dụng sinh học của các chế phẩm polyphenol ( tức các chế
phẩm giàu catechin) chiết xuất từ lá chè.
a.Kiểm tra hoạt tính chống oxy hóa của các chế phẩm giàu catechin thu từ chè.
b.Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của các chế phẩm giàu catechin trên các chủng vi
khuẩn kiểm định. Chọn những mẫu có hoạt tính kháng khuẩn cao để định lượng ( tìm
nồng độ ức chế tối thiể
u – xác định MIC, IC
50
).
c.Nghiên cứu độc tính tế bào ( thử trên tế bào ung thư)
d. Từ những kết quả thu được ở trên tiến hành sàng lọc để chọn ra một vài mẫu có hàm
rezoxyn ); tri phenol (pyrogalon, oxy hydroquinon )
* Nhóm hợp chất phenol phức tạp (polyphenol): trong thành phần cấu tạo,
ngoài vòng benzen còn có dị vòng mạch nhánh, được phân thành các nhóm: monome
và polyme
+ Monome hay polyphenol đơn giản: được chia thành
- Nhóm C
6
– C
1
(axit phenol cacbonic): trong cấu trúc phân tử có thêm nhóm
cacbonyl, thường gặp ở hạt nảy mầm.
-Nhóm C
6
– C
3
( axit cumaric, axit cafeic): có gốc cacbonyl được nối với nhân
benzen qua hai nguyên tử cacbon, thường gặp ở thực vật bậc cao.
-Nhóm C
6
– C
3
– C
6
: gọi là các Flavonoid và được chia thành các nhóm phụ
như flavon, flavonol (sắc tố vàng), antoxyanidin (sắc tố xanh, đỏvà tím), catechin
(không màu)
+Nhóm hợp chất polyphenol polymer: được chia thành các nhóm phụ như
Tanin, Lignin, Axit Humic….
H
+
trong quá trình photphoryl hoá oxy hoá ), quá trình quang hợp, điều hòa sinh
trưởng phát triển của thực vật….
Thành phần Polyphenol của lá chè rất đa dạng, nhưng bao gồm chủ yếu là: các
Flavonoid và tanin. Các polyphenol này chiếm 20 -35 % trọng lượng chè khô ( ở lá
búp non).
2.1.1. Flavonoid thực vật
Trong số các polyphenol thiên nhiên, các hợp chất Flavonoid có ý nghĩa thực tiễn
lớn vì chúng phân bố rộng rãi trong thế giới thực vật, ít độc đối với cơ thể và có nhiều
hoạt tính sinh - dược họ
c giá trị. Các Flavonoid không được tổng hợp ở người và động
vật; chúng được tìm thấy ở động vật là do động vật ăn thực vật mà có.
Flavonoid được cấu tạo bởi khung cacbon CF -C
3
-C
6
, gồm 2 vòng Benzen (vòng
A và B) và một vòng pyron (vòng C); trong đó vòng A kết hợp với vòng C tạo thành
khung Chroman.
Humic
Phenol đơn giản
Nhóm C6 - C1
Axit phenolcacbonic
Nhóm C6 - C3
Axit Cumaric
Axit Cafeic
Nhóm C6 - C3- C6
Flavonoid
Aglycon của Flavonoid thành các nhóm phụ sau:
* Flavon, Flavonol, Flavanon, Flavanonol, Catechin, Leucoanthoxyanidin,
Anthoxyanidin, Chalcon, Auron.
Catechin là hợp chất Flavonoid phổ biến trong thiên nhiên và có nhiều trong quả
và lá chè.
* Ngoài ra còn có các dẫn xuất:
- IzoFlavonoid (vòng B nối với vòng C ở vị trí C
3
)
- NeoFlavonoid (vòng B nối với vòng C ở vị trí C
4
)
- BiFlavonoid (2 phân tử Flavonoid liên kết với nhau)
-Các công trình nghiên cứu đã cho biết thành phần Flavonoid trong lá chè xanh
chủ yếu là:
*Catechin và các dẫn xuất của catechin như: catechin, epigallocatechin (EGC),
gallocatechin
(GC), epigallocatechin gallat (EGCG), epicatechin (EC),
epicatechin gallat(ECG)…
*Các chất flavonol: Quercetin, Kaempferol, Myricetin và các dẫn xuất khác của
flavonol
*Theaflavin và diosmin: Theaflavin sản phẩm của sự oxy hóa đồng thời
epigallocatechingalat và epigallocatechin.
-Còn các Flavonoid trong chè đen chủ yếu là Theaflavin và Thearubigin.
Thearubigin là nhóm sản phẩm oxy hóa đã bị polimer hóa của catechin và các hợp chất
gallat của nó.
Công thức hóa học của một số Flavonoid trong lá chè xanh (Camellia
sinensis)
Khung cacbon của Flavonoid O H
HO
o
O
1
2
4
5
6
7
8
R
O H
R '
OH
flavonol
kaemferol (R = R' = H)
quercetin (R = OH; R' = H)
myricetin (R = R' = OH)6
O
H
(-) epicatechin
catechingallat
gallocatechingallat
⎯
⎯
⎯
⎯
→
⎯
xydazapolyphenol
Flavonoid (dạng bị oxy hóa) +
H
2
O
(Hydroquinon) (Semiquinon hoặc Quinon)
2. H
2
O
2
+ Flavonoid (khử)
⎯
⎯
⎯
→
⎯
peroxydaza
Flavonoid (dạng bị oxy hóa) +
H
2
O
(Hydroquinon) (Semiquinon hoặc Quinon)
anthoxyanin, leucoanthoxyanin và axit phenolic lên Salmonella (vi khuẩn thương hàn)
8
và thấy có tác dụng kìm hãm rõ rệt. Hầu hết các chất này đều có khả năng kìm hãm sự
hô hấp hay phân chia của vi khuẩn khi có mặt glucoza. Tác dụng chống giun của
Flavonoid đã được thống kê với 16 chalcon và những chất tương tự, đặc biệt là các
chalcon có nhiều nhóm thế OH. Tác dụng kháng virut của Flavonoid cũng đã được
khẳng định; Chang-Qi Hu và cộng sự đã nghiên cứu khả năng ức chế virut HIV ở các
tế bào H9 của 35 Flavonoid chiế
t xuất từ thực vật và tổng hợp - đã thấy rằng các hợp
chất có nối đôi ở vị trí C
2
= C
3
và có nhóm OH ở C
6
và C
4
thể hiện hoạt tính cao hơn
các Orthodiphenol. Trong các dòng tế bào người, Herpesvirus hominis bị kìm hãm bởi
quercetin ở nồng độ 300µg/ml, nhưng không bị kìm hãm bởi rutin hay
dihydroquercetin. Khi thêm quercetin vào virut gây bệnh ở người, virut sẽ bị kìm hãm
nếu nó có vỏ bọc và chết nếu không có vỏ bao bọc bảo vệ.
d. Tác dụng đối với các bệnh tim mạch
Tác động bảo vệ của các Flavonoid đối với tim mạch có thể do khả năng của
chúng trong việ
c ngăn ngừa sự oxy hóa các lipoprotein tỷ trọng thấp, phòng ngừa xơ
vữa động mạch, chặn sự kết tụ huyết khối, điều hòa nhịp tim, ngăn ngừa bệnh mạch
vành và nhồi máu cơ tim, điều hòa huyết áp
e. Tác dụng đối với ung thư [ 17,18]
benzyloxy- 5,7-dimetoxyflavon, 2
’
-benzyloxy – 5,7,8 – trimetoxyflavon, 2
’
-benzyloxy
– 5-hydroxyflavon,5
’
,2
’
-dihydroxyflavon thể hiện tính gây độc tế bào đối với dòng tế
bào LI210 và HL-60. Tác dụng chống khối u gây bởi dòng tế bào ung thư S-180 trên
chuột đối với 5
’
2
’
-dihydoxy – 6,7,8,6
’
- tetrametoxyflavon chiết xuất từ
Scutellariabaicallensis đã dược chứng minh bởi B.Ahn và cộng sự. Bằng các chuyển
hóa cấu trúc vòng B, một số tác giả nhận thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa hoạt tính
chống khối u của hợp chất flavonoid trên với sự có mặt của nhóm thế oxy ở vị trí 2
’
hay hai nhóm thế oxy ở vị trí 2,6 của vòng B và sự đổi góc liên kết giữa vòng B và C.
g. Tác dụng đối với chuyển hóa và trên lâm sàng
Các Flavonoid được hấp thụ theo đường dạ dày - ruột ở người và động vật, và
được bài tiết nguyên dạng hoặc dưới dạng chất chuyển hóa của chúng qua nước tiểu và
phân. Một vài Flavonoid dạng glycozit bị deglycosyl hóa bởi các enzym trong mô của
người. Tốc độ và phạm vi deglycosyl hóa phụ thuộc vào cấu trúc Flavonoid và vị trí,
bản chất của gốc đường bị thay thế bằng phép đo khả năng chống oxy hóa của huyết
canxi
-Một số bệnh liên quan đến nội tiết và điều hoà cân bằng sinh học của cơ thể.
-Hỗ trợ cho cơ thể khi dùng nhiều kháng sinh hoặc sống trong môi trường có
nhiều bức xạ ion.
-Về phương diệ
n miễn dịch học, nhiều bioFlavonoid có khả năng kích thích
limpo tế bào sản xuất inteferon, chống virus xâm nhập vào cơ thể và kìm hãm sự nhân
lên của virus.
-Giảm đau do tác dụng chống co thắt, giãn cơ trơn. Làm giảm các đám xuất
huyết nhỏ trong bệnh đái đường.
- Một số Flavonoid có tác dụng chống khối u lành và ác tính. Làm tăng tạo máu
do làm tăng tổng hợp axit folic của vi khuẩn đường ruột, tăng số lượng h
ồng cầu và tỉ
lệ hemoglobin.
-Loại trừ rối loạn thần kinh cơ do thiếu vitamin C.
2.1.2. Tanin thực vật
-Tanin (hay chất chát) rất phổ biến trong cơ thể thực vật, các tanin tuy có cấu
trúc hóa học khác nhau nhưng đều có bản chất chung là polyphenol. Tanin thiên nhiên
đều là hợp chất của axit gallic và digallic ở dạng tự do cũng như dạng kết hợp với
glucoza. Dưới tác dụng của tanin, protein sẽ đông vón, da còn nguyên sẽ thành da
thuộc ngh
ĩa là tạo thành da rất bền với nước và với vi sinh vật gây thối, có tính dẻo,
tình đàn hồi
-Người ta thường chia Tanin thành 2 nhóm là: Tanin thủy phân pyrogalic
(Tanin Gallic) và Tanin ngưng tụ (Tanin Catechin).
a. Tanin Gallic (Tanin thủy phân pyrogalic)
-Thuộc nhóm này có các tanin mà thành phần chính để tạo polymer thường là
este của axit gallic với gốc đường, các este không mang đường của axit
phenolcacbonic và các este của axit ellagovic với đường.
* Este của axit gallic với gốc đường
giải bởi axit vô cơ cũng như bởi enzim.
- Đại diện của nhóm này là tanin có trong chè: là hỗn hợp polymer của catechin
và leucoanthoxyanidin, có công thức như sau
12
Chất lượng cảm quan của chè phụ thuộc khá nhiều vào hợp chất tanin, bởi nó chính là
hợp chất tạo ra vị chát đặc trưng không thể thiếu của cây chè. Độ chát cao hay thấp tùy
thuộc vào tỷ lệ tanin và các chất hòa tan có trong chè. Có thể nói không sai lắm là tất
cả những thuộc tính cơ bản của nước chè như: màu, mùi, vị đều liên quan ít nhiều đến
tanin và các dẫn xuất của tanin. Tanin trong cây chè chủ yếu là tanin catechin nên
ngoài đặc tính qui định ch
ất lượng cảm quan nó còn là hợp chất có nhiều hoạt tính sinh
dược học.
c. Tác dụng sinh học của Tanin
- Tanin làm cho miệng có cảm giác khô, se, làm cho biểu bì cứng lại và giảm sự bài
giống chè tự nhiên trên thế giới. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của
Đjemukhatze (1961 – 1976) về hợp chất catechin (thành phần Polyphenol đặc trưng
13
của cây chè) có trong lá chè từ các nguồn gốc khác nhau - so sánh về thành phần các
chất catechin giữa các loại chè được trồng và chỉ mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm
về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên quan điểm để xác minh nguồn gốc cây chè.
Đjemukhatze kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa, tổng hợp chủ
yếu là (-)– epicatechin và – (-) – epicatechin gallat, ở chúng phát triển chậm khả
năng tổ
ng hợp (-)epigallo catechin và các gallat của nó để tạo thành e (+)gallocatechin.
Khi nghiên cứu về các cây chè dại ở Việt Nam (rừng chè dại ở Suối Giàng, Tiên
Thông và Thông Nguyên) cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là: (-)– epicatechin
và – (-) – epicatechin gallat (chiếm 70% tổng số các loại catechin). Khi di thực cây chè
dại này lên phía Bắc, với các điều kiện khắc nghiệt hơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng
dần với các điều kiện sinh thái bằng cách có thành phần catechin phức tạ
p hơn, cùng
với sự tạo thành (-)epigallocatechin và các gallat của chúng. Điều này có nghĩa là sự
trao đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hydroxyl hóa e (-)–
epicatechin và gallic hóa. Theo các kết quả nghiên cứu đó, thì cây chè cổ Việt Nam
tổng hợp các chất catechin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam Trung Quốc và sự
tiến hóa của cây chè thế giới là như sau: Camellia → chè Việt Nam→ chè Vân Nam lá
to→ chè Assam (Ấn độ).
Ngày nay, cây chè đã được phân bố khá rộ
ng rãi trong những điều kiện tự nhiên
rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan – Nam phi ) đến 45 độ vĩ bắc (Gruria – Liên Xô
cũ) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Hiện tại có
khoảng 40 nước trồng chè, chè được tập trung trồng nhiều nhất ở châu á sau đó đến
châu Phi. Những nước trồng chè phổ biến là: Trung Quốc, ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản,
Indônêxia, Nga, Đài Loan, Việt Nam….
kim nghạch 84, 6 triệu USD. Trong
đó chè xanh chiếm 35,8%, còn lại là chè các loại.
Thị trường xuất khẩu của chè Việt Nam chủ yếu là các nước: Đài Loan, Mỹ, Anh, Ấn
Độ, Nga, Trung Quốc…
2.2.3. Các vùng chè của Việt Nam
- ở Việt Nam, cây chè có khả năng thích nghi rộng từ các tỉnh Lâm Đồng đến Hà
Giang, nhưng được trồng tập trung chủ yếu ở sáu vùng chè:
(1) Vùng chè Tây Bắc (miền núi phía Bắc): gồm 2 tỉnh là Lai Châu, Sơn La –
là vùng chè nổi tiếng với các giống chè Shan.
(2) Vùng chè Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn: gồm các tỉnh Hà Giang, Tuyên
Quang, Lào Cai, phía tây Yên Bái (Nghĩa Lộ, Văn Chấn) – là vùng chè rất nổi tiếng
với giống chè Shan Tuyết.
(3) Vùng chè Trung Du Bắc Bộ: gồm các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn,
Thái Nguyên, Hà Tây, Hòa Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh. Vùng này có loại chè tạo
được thương hiệu nổi tiếng trên cả thị trường trong nước và quốc tế là chè Tân Cương
– Thái Nguyên
(4) Vùng chè Bắc Trung Bộ: gồm các t
ỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
(5) Vùng chè Tây Nguyên: gồm các tỉnh Gia Lai – Kontum, Đắc Lắc, Lâm
Đồng.
(6) Vùng chè Duyên Hải miền Trung: gồm các tỉnh Quảng Bình, quảng Trị,
Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
- Còn nếu tính theo độ cao người ta thường chia thành thành 3 vùng sau: vùng thấp <
300 m, vùng giữa 300→ 600 m, vùng cao từ 600→ trên 1000 m
- Tuy nhiên, ở Việt Nam người ta thường nói nhiều tới 3 vùng chè đặc sản nổi tiếng
trong cả nước và quốc tế
là: vùng chè Thái Nguyên (Tân Cương), vùng chè Shan
(Mộc Châu, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái…) và vùng chè Bảo LoLâm Đồng
* Vùng chè Thái Nguyên
ổng hợp và tích lũy các hợp chất tự nhiên của cây chè ở các vùng sinh thái khác
nhau là khác nhau, và đây chính là nguyên nhân tạo ra tính riêng biệt về chất lượng
cảm quan cũng như hoạt tính sinh dược học của các hoạt chất trong chè ở từng vùng
địa lý khác nhau.
2.2.4. Cơ cấu giống chè
Về cơ cấu giống chè, hiện nay ở Quỹ gen của Tập đoàn giống chè có khoảng
150 giống chè, trong đó có chủ yếu là: các giống chè b
ản địa như nhóm giống chè
Trung du, nhóm giống chè Shan, PH1, LDP1, LDP2, A1, …; các giống chè nhập nội
của Đài Loan, Trung Quốc như chè Kim tuyên, chè Thúy ngọc, Tứ quý, Olong
Thanh tâm, Hùng đỉnh bạch trà, Thiệt bảo trà, Bát tiên, Đại bạch trà, Vân xương, Keo
am tích …;các giống chè nhập của Nhật Bản như Yabukita, Menori; các giống chè
nhập của ấn Độ như Manipur, Assami, PT 95 …; các giống chè nhập của
16
Indonexia như TC1, TC2, TC3, TC4, TC5; các giống chè nhập của Srilanca như
Cynyrual 143, ….
Dưới đây là một số giống chè hiện đang được trồng phổ biến ở các vùng chè
của Việt Nam.
a.Nhóm giống chè Trung du
- Là các giống địa phương hỗn hợp, lai tạo, không đồng đều, nhiều biến dị, gồm
có các loại là Trung du lá vàng, Trung du lá xanh, Trung du lá xanh thẫm.
- Đây là nhóm giống chè được trồng khá phổ biến ở vùng Trung Du Bắc Bộ.
Hi
ện tại diện tích trồng khoảng 63.000 ha chiếm 48 % tổng diện tích trồng chè của
nước ta (Tổng diện tích trồng chè của nước ta tính đến 2008 là 131.090 ha)
- Dùng để xản xuất chè xanh và chè đen
- Đặc điểm: thân gỗ nhỏ, lá to trung bình, chiều dài 12 -14 cm, chiều rộng có thể
tới 5-7 cm, có10 đôi gân lá nổi rõ làm bề mặt lá gợn sóng, giống chè này có sức sinh
trưởng mạnh nhưng kém chịu bệnh.
cao (đạt trên 10 tấn búp tươi / ha), nhưng chất lượng trung bình. Có tính thích ứng
rộng từ vùng có khí hậu ấm nóng đến vùng lạnh.
- Hiện tại được trồng với diện tích là khoảng 18.000 ha, chiếm khoảng 13,7%
tổng diện tích trồng chè của Việt Nam
- Đặc điểm: lá chè hình bầu dục đến bầu dục dài, dày, màu xanh nhạt. Búp ra s
ớm
và kết thúc muộn, mỗi đợt búp sinh trưởng ngắn hơn 2- 6 ngày so với bố mẹ. Búp chè
LDP1 và LDP2 thuộc loại hình nhỏ đến trung bình.
- Dùng để sản xuất chè xanh
- Năng suất: chè 4 tuổi đạt 4 tấn búp tươi / ha, chè 5 tuổi đạt 6, 7 tấn búp tươi / ha,
chè 8 tuổi trở nên đạt 9 – 10 tấn búp tươi / ha.
d. Giống chè PH1
- Là giống được tạo ra bằng phương pháp chọn lọc cá thể từ tập đoàn Assamica
(Ấn Độ). Diện tích trồng hiện nay là khoảng 11.000 ha, chiếm 8,3% tổng diện tích
trồng chè của Việt Nam. Trồng phổ biến ở vùng đồi núi thấp b
ắc bộ, khu bốn cũ, cao
nguyên trung bộ (Bảo Lộc – Lâm đồng).
- Có đặc điểm: phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, lá màu xanh đậm hình bầu
dục, lá to trung bình (35 - 40 cm2). Trọng lượng búp 0, 8 – 1 g. Tán rộng 1,0 -1,4 m.
- Năng xuất cao nhưng chất lượng không tốt lắm. Năng xuất trung bình là 15 –
17 tấn búp tươi / ha, thâm canh tốt có thể đạt 25 – 28 tấn búp tươi / ha
- Dùng để sản xuất chè đen là chủ yếu
e. Giống chè Kim Tuyên, Bát Tiên, Thanh Tâm
-Là giống chè nh
ập nội của Đài Loan.
-Dùng đễ sản xuất chè Olong, hiện đang được phát triển trồng mở rộng ở các
tỉnh Lâm Đồng, Mộc Châu. Đây là những giống chè rất có lợi thế trong việc xuất khẩu
chè đi Châu Âu và các nước Đông Nam Á. Diện tích trồng khoảng > 2000 ha.
h. Các giống chè khác
nhau. Quercetin và 5,3’,4’ – trihydroxyl – 7- methoxyflavon thể hiện hiệu ứng đồng
vận khi chúng được thử ở dạng hỗn hợp. Salah và cộng sự (1995) đã chỉ ra rằng hoạt
tính chống oxy hóa toàn phần và thứ tự hiệu quả của các polyphenol chè xanh trong
việc loại bỏ các gốc tự do hoạt động có hại là: ECG > EGCG > EGC > axit Galic >
EC = catechin. Sự oxy hóa các lipoprotein phân tử thấp bị kìm hãm bởi catechin, EC,
ECG và EGCG với mức độ t
ương đương, nhưng không bằng khi có mặt EGC hoặc
axit Gallic. Theo nghiên mới nhất của các nhà khoa học ở trung tâm dinh dưỡng
Unilever (Vlaardingen, Hà Lan), trong nước chè có chứa một lượng lớn các chất chống
oxy hóa như catechin (trong chè xanh) và thearubigin (trong chè đen) – và đó chính là
những chất chống oxy hóa hữu hiệu giúp con người chống lại nhiều loại bệnh tật, đặc
biệt là bệnh tim mạch. Tiến sỹ Rianne Leenen – chủ nhiệm trương trình nghiên cứu
cho biết, những ngườ
i tham gia quá trình thử nghiệm đều được lựa chọn rất kỹ để đáp
ứng đầy đủ các nguyên tắc: đội ngũ tình nguyện viên này phải “dàn đều” trong độ
tuổi từ 18 đến 70, phải khỏe mạnh và không hút thuốc lá; các kết quả thu được cho
thấy: sau khi uống đều đặn mỗi ngày 3 chén nước chè, có hoặc không có sữa tùy
thuộc vào khẩu vị của từng người thì nhận thấy số
lượng và phạm vi hoạt động của
các chất chống oxy hóa trong huyết thanh của cơ thể họ đã tăng lên rõ rệt so với
nhóm chứng là những người không uống nước chè. Đồng thời nhóm nghiên cứu còn
nhận thấy hoạt tính chống oxy hóa của chè xanh mạnh nhất (mạnh gấp 5 lần chè đen),
tiếp đến là chè Olong và chè đen thể hiện hoạt tính thấp nhất.
Hara đã chỉ ra rằng thói quen uống n
ước chè có thể ngăn ngừa các bệnh tim
mạch thông qua việc làm tăng khả năng chống oxy hóa huyết tương ở người. Hấp dẫn
hơn là các polyphenol chè được hấp thụ nhanh sau khi uống với sữa và sữa không làm
19
giảm các đặc tính sinh học của polyphenol. Thói quen đưa vào cơ thể các Flavonoid từ
đáng ngạc nhiên. Các nghiên cứu cũng đưa ra mối liên quan giữa mức tiêu thụ chè và
tỷ lệ mắc bệnh ung thư. Một số công trình nghiên cứu khác đã chứng minh tác dụng
kìm hãm của polyphenol chè lên sự hình thành, phát triển và di căn của khố
i u. Tác
dụng này chủ yếu là do hiệu quả chống oxy hóa cao và chống tăng sinh khối u của các
hợp chất polyphenol trong chè. Chè xanh có thể bảo vệ cơ thể khỏi ung thư bằng cách
làm ngưng chu trình tế bào, kể cả chu trình nguyên phân của tế bào ung thư. Nhiều
nghiên cứu đã đề cập đến 2 cơ chế chính vì tác dụng ức chế sự phát triển tế bào u của
EGCG: (1) tác dụng ngăn cản chu kỳ phân chia tế
bào, dừng chu kỳ phân chia tế
bào ở các pha G1, G2; (2) thúc đẩy quá trình apoptosis (sự chết tế bào theo chương
trình). Các nghiên cứu trên mô bệnh học cho thấy rằng cả chè xanh và chè đen đều có
thể kìm hãm sự tăng sinh của các tế bào u trong các mô hình động vật. EGCG, EGC và
20
ECG kìm hãm lipoxygenaza ở đậu tương – một nhân tố thúc đẩy phát sinh ung thư và
phát triển khối u, phần lớn có tác dụng ở liều lượng thấp. Còn theo các nhà khoa học
Mỹ (Neil E. Kay và cs – thuộc phòng thí nghiệm Mayo Clinic) hợp chất EGCG
(epigallocatechin – 3- gallate) trong chè xanh có khả năng tiêu diệt các tế bào gây ra
bệnh ung thư bạch cầu lympho mạn tính. Kết quả thử nghiệm cho thấy, 8 trong số 10
bệnh nhân ung thư bạch cầu nguyên bào lympho mãn tính đã có tế bào bạch cầu bị tiêu
diệ
t dưới tác động của EGCG. Một nghiên cứu khác của các nhà khoa học ở trường đại
học Rutgerbcuar (Mỹ) đã cho biết: khi cho polyphenol của chè đen vào môi trường
nuôi cấy của các tế bào ruột kết bình thường và các tế bào ung thư thì thấy tất cả các tế
bào ung thư đều bị tiêu diệt trong khi các tế bào bình thường lại không bị ảnh hưởng.
Mặc dù mối quan hệ giữa mức tiêu dùng chè và tỷ lệ người mắc b
ệnh ung thư
đã được nghiên cứu ở các quần thể dân cư khác nhau trên thế giới nhưng vẫn chưa rút
ra được kết luận rõ ràng. Những hạn chế đó có thể lý giải do thành phần, hàm lượng
epicatechin, epicatechingallat); các chất flavonol (quercitrin, kaemferol- 3-glycozit,
kaemferol- 3-rhamnozyl, quercetagemin); theaflavin và diosmin. Hàm lượng
polyphenol trong lá chè Tân Cương biến động mạnh theo mùa và theo tuổi lá. Bước
đầu nghiên cứu thăm dò về 1số hoạt tính sinh học của chế phẩm Flavonoid chiết xuất
từ lá chè Tân Cương nhận thấy: chế phẩm có khả năng chống oxy hóa cao, có tác dụng
bảo vệ gan trên chuột bị nhiễm độc CCl
4
, có tác dụng kháng khuẩn tốt đối với nhiều
chủng vi khuẩn gram dương và gram âm, có tác dụng trên viêm loét. Tiến hành nghiên
cứu thăm dò trên các tế bào ung thư nuôi cấy in vitro cho thấy có tác dụng gây độc đối
với các tế bào ung thư biểu mô người Hep – 2, tế bào u tủy chuột Sp – 2/0 và tế bào
ung thư mô liên kết Sarcoma – 180, nhưng không gây hủy hoại các tế bào máu ngoại
vi người khỏe mạnh. Mức độ tác dụng này tùy thuộc vào nồng độ chế phẩm và thờ
i
điểm đưa chế phẩm vào môi trường nuôi cấy. Các nghiên cứu của Trần Thị Thanh
Hương (Viện 69 – Bộ tư lệnh Lăng) và Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn (Bộ môn Hóa –
Hóa Sinh ĐH Y HN) [Tạp chí Y Học, 2006] cho thấy: bột chiết polyphenol và EGCG
chè xanh có tác dụng ức chế sự phát triển tế bào của dòng tế bào ung thư phổi LU -1
và dòng tế bào ung thư gan Hep – G2, tác dụng rõ nhất trên dòng LU – 1 với giá trị
IC50 là 3, 84 µM của EGCG chè xanh. Bước đầu phát hiệ
n sự tăng hoạt độ của enzym
caspase – 3 trên dòng tế bào LU -1 được bổ sung EGCG chè xanh vào môi trường nuôi
cấy.
22
-Phần 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng thực vật
a.Tiến hành điều tra và thu các mẫu chè làm mẫu nghiên cứu như sau:
+ Vùng chè Thái Nguyên