CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỚP HỌC CÓ HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG THCS VÙNG KHÓ KHĂN - Pdf 13

Bùi Ngọc Diệp (chủ biên), Hồ Mộng Hùng,
Nguyễn Thị Thu Hương, Bùi Thanh Xuân
CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỚP HỌC
CÓ HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TRƯỜNG THCS VÙNG KHÓ KHĂN
1
Hµ Néi - 3/ 2012
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3
Bài mở đầu 7
Phần 1: Một số vấn đề chung về công tác quản lý lớp học có học sinh DTTS
ở trường THCS vùng khó khăn
10
Phần 2: Một số biện pháp quản lý lớp học có HS DTTS ở trường THCS
vùng khó khăn
35
Bài 1. Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp học 35
Bài 2. Xây dựng những quy ước rõ ràng, nhất quán 43
Bài 3. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái, tin tưởng, tôn trọng 50
Bài 4. Quan tâm đến những khó khăn của học sinh 59
Bài 5. Tăng cường sự tham gia của học sinh trong các hoạt động của lớp học 68
Bài 6. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học
tập, rèn luyện ở lớp, ở nhà
78
Bài 7. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán 86
Bài 8. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh 95
Bài 9. Động viên, khen thưởng và trách phạt kịp thời 102
Bài 10. Làm gương trong cách cư xử 111
Bài 11. Phối hợp kịp thời với các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường 117
Phần 3: Phụ lục 130

của bài học; 2) Nội dung bài học: bao gồm các hoạt động của bài để giúp giáo
sinh tự học; 3) Tự đánh giá sau bài học, gồm một số câu hỏi hoặc hoạt động tiếp
nối giúp các bạn củng cố, ôn lại kiến thức.
Sau đây là gợi ý để các bạn có thể sử dụng tài liệu một cách hiệu quả:
3
- Đọc kỹ các thông tin cơ bản trong phần đầu của tài liệu (phần I) và phần
phụ lục (phần III) để nắm được bối cảnh vấn đề, những kiến thức chung liên quan
đến lý thuyết quản lý lớp học, và một số đặc điểm văn hóa, tập quán của đồng bào
DTTS.
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung của từng biện pháp quản lý lớp học theo
các hướng dẫn cụ thể của từng hoạt động, tự liên hệ và đối chiếu với thực tiễn học
tập, thực tập của mình để rút ra những nhận định riêng hoặc ý kiến bổ sung cho
tài liệu. Ngoài ra, trong quá trình đọc tài liệu và tự học, bạn cũng có thể tự đưa ra
và suy ngẫm, đánh giá về những biện pháp quản lý lớp học của riêng mình mà tài
liệu chưa đề cập tới hoặc trình bày chưa đầy đủ.
- Một số nhiệm vụ/câu hỏi nêu trong phần “Tự đánh giá sau bài học” ở mỗi
biện pháp quản lý lớp học giúp bạn hệ thống lại, đào sâu hơn các kiến thức đã
tiếp thu. Bạn hãy cố gắng dành thời gian thực hiện các phần tự đánh giá này để
tăng hiệu quả tự học, tự nghiên cứu của mình.
Cuốn sách hy vọng cung cấp cho bạn một số kiến thức nền tảng làm hành
trang ban đầu trong quá trình trở thành một nhà sư phạm thực thụ, có vốn tri thức
vững vàng và lòng yêu nghề. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học, giáo dục mà bạn sẽ
trải nghiệm trong tương lai cũng sẽ là một ‘cuốn sách mở’ vô cùng hữu ích, thú
vị, giúp bạn trau dồi và mở rộng thêm những gì đã học. Chúc các bạn thành công!
Với lần xuất bản đầu tiên, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những sai
sót, khiếm khuyết nhất định. Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn mọi ý kiến góp
ý, phản biện của các bạn để hoàn thiện tài liệu trong những lần tái bản sau. Xin
cảm ơn!
- Nhóm tác giả -
4

trường THCS vùng khó khăn.
- Biết và vận dụng được các biện pháp quản lý lớp học có học sinh dân
tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn.
- Có được các kỹ năng quản lý lớp học đối với học sinh DTTS vùng khó
khăn góp phần năng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
II. Đối tượng sử dụng tài liệu
Đối tượng chính sử dụng tài liệu “Công tác quản lý lớp học có học sinh dân
tộc thiểu số ở trường THCS” là các sinh viên năm cuối ngành Sư phạm. Tài liệu
6
này cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý, giáo
viên trường THCS có học sinh DTTS.
III. Cấu trúc nội dung tài liệu
Tài liệu được cấu trúc theo các phần sau:
Phần 1: Một số vấn đề chung về công tác quản lý lớp học có học sinh dân
tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn.
1. Vài nét về công tác quản lý lớp học.
2. Đặc điểm lớp học có học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS vùng
khó khăn.
3. Tầm quan trọng của công tác quản lý lớp học có học sinh dân tộc thiểu
số ở trường THCS vùng khó khăn.
4. Trách nhiệm của người giáo viên trong việc quản lý lớp học có học
sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn.
5. Những điều cần lưu ý khi quản lý lớp học có học sinh dân tộc thiểu số
ở trường THCS vùng khó khăn.
Phần 2: Một số biện pháp quản lý lớp học có học sinh dân tộc thiểu số ở
trường THCS vùng khó khăn.
1. Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp học
2. Xây dựng những quy ước rõ ràng, nhất quán
3. Tạo môi trường tâm lý thoải mái, hòa đồng, bình đẳng, chia sẻ, tôn
trọng.

I. Mục tiêu
Sau bài học, học viên có khả năng:
- Nêu được một số nét cơ bản về công tác quản lý lớp học nói chung và
công tác quản lý lớp học có HS DTTS ở trường THCS vùng khó khăn nói
riêng
- Trình bày được tầm quan trọng của công tác quản lý lớp học có học sinh
dân tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn.
- Liệt kê được trách nhiệm của người giáo viên trong việc quản lý lớp học
có học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn và những
điều cần lưu ý khi quản lý lớp học có học sinh dân tộc thiểu số ở trường
THCS vùng khó khăn
- Vận dụng được các kiến thức cơ bản về công tác quản lý lớp học để thực
hiện tốt việc quản lý lớp học của mình.
II. Nội dung
Hoạt động 1: Tìm hiểu về công tác quản lý lớp học
1. Thông tin cơ bản cho hoạt động 1:
Vài nét về công tác quản lý lớp học
* Lớp học và quản lý lớp học
Lớp học, theo khái niệm thông thường, là một không gian đặc thù trong
mỗi nhà trường để GV cùng HS tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục.
Song, nếu nhìn nhận từ góc độ tâm lí học dạy học và lý luận giáo dục, thì lớp
9
học còn là một môi trường tâm lí, môi trường sư phạm đặc biệt, nơi diễn ra hầu
hết các hoạt động ở nhà trường của HS.
Trong các lý luận về quản lý và lãnh đạo thường phân biệt sự khác nhau
giữa “quản lý” và “lãnh đạo”, theo đó nhà quản lý là người tổ chức, thực hiện,
giám sát công việc, còn nhà lãnh đạo vạch ra tầm nhìn, hướng đi chung, cách
giải quyết cho vấn đề tổng thể. Người quản lý thực hiện đúng công việc, người
lãnh đạo làm được việc đúng đắn. Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý lớp học,
dường như cả hai vai trò ‘quản lý’ và ‘lãnh đạo’ này đều thuộc về một đối tượng

mà còn bởi việc QLLH hiệu quả đòi hỏi cả kỹ năng, phẩm chất nhân cách lẫn
kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh nghiệm cuộc sống của người GV – những
điều chưa thể có được ngay khi GV mới bước vào con đường dạy học. Do vậy,
để có thể trau dồi được năng lực QLLH tốt, GV phải không ngừng rèn luyện cả
về chuyên môn lẫn tư cách, phẩm chất đạo đức, lối sống để có thể tác động đến
tập thể lớp của mình một cách tích cực, hiệu quả nhất. Đối với người GV, việc
thiết lập và duy trì được một lớp học đoàn kết, vững mạnh, với những cá nhân
HS phát triển tòan diện, hài hòa cũng chính là một phần thưởng quí giá của
nghề dạy học.
* Công tác quản lý lớp học có HS DTTS ở vùng khó khăn
Với các nhóm đối tượng HS thông thường, QLLH vốn đã không phải một
công việc dễ dàng. Với nhóm HS DTTS, điều này lại càng khó khăn hơn nhiều
lần, do tính chất của địa phương, vùng miền cũng như các đặc điểm văn hóa,
tính cách, tập quán riêng của từng DTTS. Một trong những khó khăn đầu tiên
mà GV có thể gặp phải trong công tác QLLH có HS DTTS chính là rào cản về
ngôn ngữ. Mặc dù ở cấp tiểu học, HS đã được học tiếng Việt, song không phải
tất cả các em sau khi kết thúc tiểu học đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Việt
11
trong các môn học cũng như trong giao tiếp hàng ngày. Rào cản về ngôn ngữ
không chỉ gây khó khăn cho việc HS DTTS tiếp thu kiến thức và hòa nhập vào
môi trường chung của tập thể lớp, mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng quá trình giao tiếp giữa GV-HS hay giữa GV với phụ huynh của các HS
DTTS – yếu tố quan trọng của việc QLLH hiệu quả. Rào cản ngôn ngữ còn có
thể cản trở các em HS DTTS tham gia và đóng góp cho các hoạt động chung
của lớp/trường do các em cảm thấy thiếu tự tin khi sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp với bạn bè, thầy cô. Để giúp những em HS này gia nhập hiệu quả hơn vào
môi trường lớp học và nhà trường, GV cần giúp các em dần dần khắc phục trở
ngại ngôn ngữ, đồng thời tìm kiếm và thử nghiệm những cách thức phi ngôn
ngữ để các em vẫn có thể bày tỏ, thể hiện những ý tưởng của mình một cách
hiệu quả (VD: khuyến khích HS DTTS sử dụng những hình thức diễn kịch

có được những bài học sống động nhất. Bên cạnh đó, việc QLLH của GV ở
vùng khó khăn, vùng DTTS chỉ có thể đạt được hiệu quả toàn diện khi có sự hỗ
trợ tích cực của đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường, cộng đồng và chính quyền
địa phương.
2. Nhiệm vụ
- Đọc phần thông tin cơ bản trên và tóm tắt lại những ý chính ?
- Theo bạn việc quản lý lớp học có HS DTTS ở vùng khó khăn có những
điểm gì cần lưu ý ?
13
Hoạt động 2. Tìm hiểu đặc điểm lớp học có học sinh dân tộc thiểu số
ở trường THCS vùng khó khăn
1. Thông tin cơ bản cho hoạt động
* Lớp học ở trường THCS vùng khó khăn.
Ngoài những đặc điểm thông thường của một lớp học cấp THCS, các lớp
học có học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS vùng khó khăn có một số đặc
điểm khác biệt. Cụ thể là:
- Vị trí địa lí: Lớp học nằm ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa của các
địa phương. Các lớp học này tập trung tại trường THCS nằm ở trung tâm các xã
vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Nhiều xã, do diện tích quá rộng, nên ngoài điểm
trường ở trung tâm xã còn có từ 1 đến 2 điểm trường THCS khác tại các cụm
bản (các điểm trường THSC thường chỉ có các lớp nhô đầu khối, được đặt trong
các trường tiểu học. Các lớp này là cơ sở để thành lập trường THCS sau này khi
tách xã). Khoảng giữa trường trung tâm và điểm trường có thể từ 10 – 30 km.
- Khoảng cách xa giữa lớp học và gia đình: Do tính phân tán và thưa thớt
trong đặc điểm cư trú của dân cư mà khoảng cách từ gia đình học sinh đến lớp
học thường khá xa. Học sinh mất rất nhiều thời gian để đi từ nhà đến trường.
Hầu hết các trường nằm ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại
khó khăn, đường quanh co, nhiều dốc cao, học sinh không thể đi về bằng xe đạp
mà hầu hết là đi bộ. Vì thế, các em phải dậy từ rất sớm, băng rừng vượt suối đến
trường. Trong những ngày thời tiết khô ráo, việc đi lại còn thuận lợi, nhưng vào

cố. Tuy nhiên, nằm trong vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất
của cả nước nên điều kiện cơ sở vật chất các lớp học ở đây so với mặt bằng
chung cả nước còn rất thiếu thốn. Nhiều trường không có nhà hiệu bộ, phòng
học bộ môn, nhà công vụ cho giáo viên và chỗ ở cho học sinh bán trú. Ở một số
15
trường đã có nhưng rất tuềnh toàng, hầu hết nhà cửa được dựng trên nền đất với
các vật liệu tranh tre, nứa lá do người dân đóng góp, cùng với các thầy cô giáo
tạo dựng lên. Nhiều nơi, lớp học và nhà ở của các thầy cô và học sinh đã dột nát
và xuống cấp nghiêm trọng.
Tại các điểm trường, các lớp học hầu như không được kiên cố hóa, chủ
yếu do người dân sử dụng những vật liệu hiện có dựng lên. Số lớp học ít, nhiều
điểm trường chỉ có lớp đầu cấp. Tại đây, một thầy cô giáo phải đảm nhận dạy
nhiều môn học, hoặc các môn học được thực hiện theo kiểu dạy học cuốn chiếu.
Mỗi buổi học thường chỉ bố trí dạy từ một đến hai môn học mà không thể sắp
xếp thời khóa biểu theo qui định chung của ngành. Điều này cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng dạy học các lớp này. Hiện nay, một số xã vùng cao
miến núi, vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới quốc gia, gây không ít khó khăn
cho hoạt động học tập và sinh hoạt của các thầy cô giáo và học sinh tại địa bàn.
- Trang thiết bị cho dạy học còn yếu và thiếu đồng bộ: Trong tình trạng
kinh tế khó khăn, giao thông không thuận lợi, việc cung cấp các trang thiết bị
cho học tập, giảng dạy trên lớp cũng còn nhiều hạn chế. Bàn ghế tự tạo không
theo kích thước quy định, quá cao hoặc quá thấp so với chiều cao của học sinh.
Cá biệt có nơi vẫn dùng bảng gỗ thô, trơn rất khó viết và các em học sinh khó
quan sát
Trang thiết bị dạy và học còn rất thiếu thốn, một số thiết bị dạy học tuy
có nhưng khó áp dụng trong nhà trường, hoặc sử dụng không hiệu quả. Rất ít
lớp học có các thiết bị dạy học hiện đại như: máy chiếu, ti vi, đầu quay. Mặc dù
một số thầy cô giáo tâm huyết với nghề ở nhiều trường đã tự trang bị cho mình
máy tính xách tay để phục vụ cho việc thiết kế bài học, nhưng để đưa bài học
điện tử vào dạy học cho học sinh còn là khó khăn rất lớn. Thực tế này sẽ là rào

17
dân tộc. Có như vậy, công tác giáo dục ở những vùng khó khăn mới đạt được
kết quả bền vững.
- Học sinh không cùng độ tuổi: Một nét khu biệt mà chúng ta thường gặp
trong những lớp học ở vùng khó khăn là các học sinh trong lớp thường không
cùng độ tuổi. Thông thường, khi vào lớp 6, các em bắt đầu bước sang tuổi 11,
nhưng qua thực tế cho thấy, ở các vùng khó khăn, xa xôi, hầu hết trẻ em không
được đi học đúng tuổi mà thường muộn hơn so với tuổi qui định. Vì thế, trong
nhiều lớp học, học sinh có thể chênh nhau đến vài tuổi. Điều này tạo nên những
thuận lợi nhất định trong việc quản lí lớp học, như việc tự quản của các em tốt
hơn, tính làm gương của các em ở độ tuổi lớn hơn sẽ có điều kiện phát huy.
Song bên cạnh đó, thực trạng này cũng tạo ra nhiều vấn đề nan giải trong quá
trình quản lí lớp học khi trình độ nhận thức, sự phát triển tâm sinh lí giữa các
học sinh trong lớp có sự chênh lệch và khác biệt quá lớn. Điều này đòi hỏi các
thầy cô trong quá trình quản lí lớp học phải có sự thay đổi, vận dụng phương
pháp giảng dạy, giáo dục linh hoạt, phù hợp với từng độ tuổi, nhằm tạo điều
kiện cho tất cả học sinh ở những độ tuổi khác nhau đều có cơ hội phát triển một
cách tốt nhất.
- Một số học sinh kết hôn sớm: Do phong tục tập quán, nhiều dân tộc có
thói quen kết hôn rất sớm (tảo hôn) (Ví dụ dân tộc Mông ở miền núi phía Bắc,
nơi trẻ em 13, 14 tuổi đã xây dựng gia đình. Vì thế, ở các lớp cuối cấp THCS
một số học sinh đã bắt đầu lập gia đình. Sau khi có gia đình thường chỉ có học
sinh nam tiếp tục đi học, các em nữ bỏ học, sinh con, làm việc nhà và nương
rẫy.
- Số lượng học sinh trong lớp thường xuyên biến động: Ở các vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội phát triển như thành thị, việc duy trì sĩ số trong lớp
học không phải là vấn đề lớn đối với các cấp quản lí và các thầy cô giáo, nhưng
lại là một yêu cầu khá thách thức với các vùng khó khăn. Cũng như các trường
18
tiểu học, ở các trường THCS vùng khó do học sinh thường xuyên bỏ học nên số

lo cho những em bé hơn. Do đã được rèn thói quen tự lập từ nhỏ, nên mặc dù ít
tuổi nhưng học sinh DTTS đã có thể tự tổ chức cuộc sống hàng ngày với nhau,
tự giải quyết các vấn đề phát sinh trong tập thể. Các em là những con người
luôn có nghị lực vươn lên, sẵn sàng vượt qua khó khăn, vất vả do điều kiện sống
xa nhà, thiếu thốn mang lại. Tuy nhiên, do thiếu sự quan tâm, định hướng của
cha mẹ và người lớn nên học sinh DTTS cũng hay có những hành động tự phát,
thiếu suy nghĩ chín chắn. Vì vậy, vai trò của các thầy cô giáo và cán bộ nhà
trường là vô cùng quan trọng. Các thầy cô vừa là người dạy dỗ các em ở trên
lớp, lại là người chỉ bảo, uốn nắn cho các em về tư tưởng, tinh thần và các hoạt
động, sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày. Muốn làm được điều này, mỗi
giáo viên cần phải thực sự tâm huyết với nghề, sống có tâm, và có vốn kiến thức
sâu rộng, bởi tại các cơ sở nội trú, bán trú như vậy của học sinh DTTS thì chính
các thầy cô là những người cha, người mẹ thứ hai của các em.
- Học sinh DTTS ở vùng khó thường rụt rè, ngại tiếp xúc với đám đông,
với người lạ. Khi bị trách mắng, các em có thể rơi vào trạng thái tâm lí bất lợi
như ức chế, trầm cảm và dễ dẫn đến những hậu quả tiêu cực khôn lường. Một
trong những nỗi lo của các gia đình và thầy cô giáo công tác tại vùng cao nơi có
nhiều học sinh người Mông là khi không được đáp ứng một yêu cầu nào đó, có
những học sinh đã ăn lá ngón tự tử. Trong mấy năm gần đây, hiện tượng học
sinh người Mông tự tử bằng lá ngón ngày càng nhiều. Nguyên nhân nhiều khi
chỉ đơn giản là gia đình không đồng ý cho các em lấy vợ, lấy chồng khi còn
đang đi học; hay do cha mẹ, vợ chồng và con cái to tiếng với nhau,… Điều này
gây ra những hệ lụy nghiêm trọng và khó khăn trong công tác quản lí học sinh
20
DTTS. Do vậy, trong quá trình làm việc cùng các em, thầy cô giáo cần hết sức
khéo léo, tế nhị và thận trọng trong mọi lời nói, hành động.
- Do điều kiện ở các vùng khó khăn, trình độ nhận thức các vấn đề xã hội
và hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên học sinh rất dễ tiếp nhận những thói hư
tật xấu, dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội. Trong những năm gần đây, do thiếu
hiểu biết lại thật thà, dễ tin người nên nhiều học sinh dân tộc thiểu số bị kẻ xấu

sinh ở vùng đồng bằng và thành thị đều đã đọc thông, viết thạo; làm được các
phép tính đơn giản; hiểu cơ bản về luật giao thông của người đi bộ; có được
những kiến thức ban đầu về môi trường, con người và nhận biết được các hoạt
động diễn ra thường ngày ở xung quanh. Nhưng ở nhiều trường THCS vùng
khó, hầu hết học sinh vào lớp 6 trình độ chỉ tương đương với học sinh lớp 1, lớp
2 ở thành phố vì còn chưa đọc thông, viết thạo, nhiều nơi học sinh không hiểu
được tiếng phổ thông (tiếng Việt). Đứng trước tình trạng này, ở nhiều trường
THCS vùng khó khi tuyển sinh lớp 6 thường tổ chức kiểm tra chất lượng đầu
vào của học sinh. Những học sinh đã hoàn thành xong chương trình tiểu học, đủ
điều kiện được tiếp tục học lên lớp 6 là những em đã biết đọc, biết viết, tuy khả
năng làm toán có thể còn hạn chế. Hiện nay, việc chiêu sinh lớp 6 ở các trường
THCS vùng khó thường được tổ chức làm hai đợt: đợt một vào đầu tháng 6, đợt
hai vào cuối tháng 8. Mục đích của việc chiếu sinh lớp 6 thành hai đợt như trên
là: ở đợt một sau khi nhận hồ sơ tất cả những học sinh đã hoàn thành xong
chương trình tiểu học ở xã, tổ chức kiểm tra chất lượng hai môn Toán và Tiếng
Việt nếu học sinh đảm bảo đủ điều kiện tối thiểu (biết đọc, biết viết) thì được
tuyển vào học lớp 6 trong năm học mới. Những học sinh không đạt được các
điều kiện trên được gửi trả lại các trường tiểu học (nơi các em đã học tiểu học).
Việc tổ chức kiểm tra chất lượng đầu vào ở các trường THCS vùng khó không
22
chỉ giúp các trường THCS đánh giá, phân loại được chất lượng đầu vào của học
sinh, giúp cho công tác dạy học của nhà trường đạt được mục tiêu đề ra mà một
lần nữa là yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng trong dạy học ở các trường Tiểu học
(bậc học tạo nguồn học sinh cho các trường THCS).
Môi trường sống đặc thù và những bất đồng về ngôn ngữ giữa thầy và trò
cũng có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh
dân tộc thiểu số bị hạn chế. Sớm nhận ra điều này, nhiều trường CĐSP miền núi
và đồng bằng sông Cửu Long đã đưa chương trình dạy tiếng dân tộc cho sinh
viên (những người sau này sẽ công tác ở vùng đồng bào dân tộc) vào trong
chương trình đào tạo. Tuy nhiên, không phải tất cả các thầy cô giáo khi đến

học sinh vùng khó. Trước khi có những điều kiện hỗ trợ khác giúp cho các em
học sinh vùng khó có cơ hội tốt hơn, bước đầu cần giúp các em có đủ điều kiện
ở bán trú tại trường để các em có thể trao đổi bài với bạn bè, với thầy cô vào
những khoảng thời gian ngoài giờ học chính khóa.
Việc thiếu một môi trường học tập mang tính ganh đua tích cực giữa các
học sinh trong lớp cũng là một yếu tố cản trở sự tiến bộ trong học tập của học
sinh vùng khó. Sự ganh đua lành mạnh, tích cực trong học tập sẽ là động lực để
học sinh không ngừng cố gắng vươn lên và rèn luyện để đạt kết quả tốt nhất.
Điều này dễ nhận thấy ở học sinh tại các trường học ở thành thị và các vùng
đồng bằng nước ta. Ngay trong một lớp học, các học sinh thường có tư tưởng
“thua thầy một vạn không bằng kém bạn một li”. Các em luôn dõi theo sự tiến
bộ của bạn để biết mình cần phải cố gắng. Tuy nhiên, điều này dường như ít
thấy hơn ở học sinh vùng khó. Có thể ngay trong môi trường sống gia đình từ
khi các em sinh ra và lớn lên đã tạo cho các em như vậy. Để có kết quả giáo dục
24
tốt, việc tạo ra môi trường học tập có tính canh tranh lành mạnh là rất cần thiết,
bởi nó buộc tất cả mọi học sinh trong lớp phải không ngừng phấn đấu vươn lên,
thi đua với nhau để tất cả đều phải nỗ lực. Các thầy cô có thể thực hiện điều này
bằng nhiều cách khác nhau như: thường xuyên nêu gương, khen thưởng những
bạn cố gắng học tập tiến bộ, có thành tích học tập và rèn luyện trội hơn trong
lớp vào các giờ học; sưu tầm một số gương học sinh nghèo vượt khó, đặc biệt là
những tấm gương học sinh dân tộc thiểu số ở mọi miền tổ quốc,…
- HS DTTS có năng khiếu hoạt động các môn văn hóa văn nghệ thể thao.
Một phần do các em thường xuyên được rèn luyện thể lực vì tham gia lao động
từ rất sớm. Bên cạnh đó, bản thân các em là những cá nhân ưa hoạt động, có bản
lĩnh, có khả năng chịu đựng vất vả và có ý chí, nghị lực để đạt được mục tiêu đề
ra. Tuy nhiên với các môn thể thao cần có sự hướng dẫn cơ bản thì các em làm
chưa được tốt vì chưa được tiếp xúc nhiều với các môn thể thao này, hoặc do
khả năng hiểu ngôn ngữ phổ thông còn hạn chế.
- Khả năng ngôn ngữ: Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng phổ thông (tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status