Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của DNN & V Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

********************** BÙI THU THUỶ

NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA DNN&V VIỆT NAM - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
trung ương, Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và nhóm chuyên gia tư vấn
ADB thuộc dự án Hỗ trợ Kỹ thuật chuẩn bị khoản vay chương trình phát triển
DNN&V … đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình sưu tập các tài liệu
phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài Luận văn tốt nghiệp.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ và mọi người trong
gia đình, các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian và cổ vũ động
viên tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn./.
Hà nội, ngày 26 tháng 8 năm 2004
Người viết
Bùi Thu Thuỷ

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU
1
Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DNN&V VÀ
NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA
DNN&V VIỆT NAM 4
1.1.

18
1.3.
Kinh nghiệm về chính sách tạo dựng năng lực HNKTQT
cho DNN&V của các nước trên thế giới

25
1.3.1.
Kinh nghiệm của nhóm nước OECD
25
1.3.2.
Kinh nghiệm của một số nước ASEAN
28
1.3.3.
Một số kết luận rút ra từ thực tiễn kinh nghiệm tạo dựng năng
lực HNKTQT cho DNN&V của các nước

32
Chương II:
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ CỦA DNN&V VIỆT NAM

34
2.1.
Đánh giá thực trạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế

của DNN&V Việt Nam
34

3.1.
Quan điểm và định hướng tạo dựng năng lực hội nhập
kinh tế quốc tế cho DNN&V Việt Nam

66
3.1.1.
Yêu cầu của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đối với
DNN&V Việt Nam

66
3.1.2.
Quan điểm và định hướng tạo dựng năng lực hộ nhập cho
khu vực DNN&V Việt Nam

68
3.2.
Những giải pháp chủ yếu tạo lập năng lực hội nhập kinh
tế quốc tế của DNN&V Việt Nam

73
3.2.1.
Nhóm giải pháp về vốn và công nghệ
73
3.2.2.
Nhóm giải pháp về quản lý và nguồn nhân lực
82
3.2.3.
Nhóm giải pháp về tên tuổi thương hiệu và tiếp cận thị
trường
89

UNDP
Tổ chức phát triển của Liên hiệp quốc
WB
Ngân hàng Thế giới
IFC
Công ty Tài chính quốc tế
JBIC
Ngân hàng quốc tế Nhật Bản
OECD
Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
APEC
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Th¸i B×nh D-¬ng
JICA
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
USPTO
Cục sáng chế thương hiệu Mỹ
SHCN
Sở hữu công nghiệp
EU
Liên minh châu Âu
NNPTNT
Nông nghiệp Phát triển nông thôn
ADB
Ngân hàng Phát triển châu Á
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
SMI
DNN&V công nghiệp
ASEAN
Các nước khu vực Đông Nam Á

năm 2000 tháo gỡ khó khăn và tạo điệu kiện dễ dàng cho thành lập doanh
nghiệp, số lượng doanh nghiệp đã không ngừng tăng lên. Năm 2001, Chính
phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về “Trợ giúp phát triển doanh

- 2 - nghiệp nhỏ và vừa” (Nghị định 90) đồng thời thành lập Hội đồng khuyến
khích phát triển DNN&V và Cục Phát triển DNN&V làm cơ quan đầu mối
thực hiện các chương trình hỗ trợ DNN&V. Nhờ những chính sách chủ
trưởng đúng đắn của Đảng, DNN&V Việt Nam đã bước đầu được hoạt động
trong một môi trường khá thuận lợi và cũng đạt được những kết quả nhất
định. Tuy nhiên, những kết quả đó chưa tương xứng với vị trí và vai trò của
DNN&V. Phần lớn các DNN&V vừa mới ra đời còn non trẻ, hạn chế về nhiều
mặt không chỉ là nguồn nhân lực, năng lực tài chính mà còn năng lực công
nghệ, tên tuổi thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường nhìn chung cũng
rất yếu kém.
Nhận thức được điều đó, người viết chọn đề tài: “Năng lực hội nhập
kinh tế quốc tế của DNN&V Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài
tốt nghiệp thạc sỹ của mình với hy vọng cùng các công trình nghiên cứu
chung góp phần xây dựng lộ trình hội nhập hiệu quả cho các DNN&V Việt
Nam.
1. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
 Làm rõ cơ sở về lý luận và thực tiễn của DNN&V và năng lực
hội nhập kinh tế quốc tế của các DNN&V Việt Nam.
 Đánh giá thực trạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của
DNN&V Việt Nam.
 Kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hội nhập kinh tế
quốc tế của các DNN&V Việt Nam.
2. Đối tƣợng nghiên cứu

bày các nội dung mang tính chất lý luận và thực tiễn. Các phương pháp so
sánh tổng quan, phương pháp phân tích các số liệu thống kê đã được công bố
cũng được tác giả sử dụng linh hoạt để rút ra kết luận, đánh giá hoặc đề xuất
những giải pháp và quan điểm cơ bản về nâng cao năng lực hội nhập kinh tế
quốc tế của DNN&V Việt Nam.

- 4 - 5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về Doanh nghiệp nhỏ và vừa và năng
lực hội nhập kinh tế quốc tế của Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam
Chƣơng II: Thực trạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của doanh
nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
Chƣơng III: Những giải pháp nhằm tạo dựng năng lực Hội nhập kinh
tế quốc tế cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
CHƢƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DNN&V VÀ NĂNG LỰC HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA DNN&V VIỆT NAM.
1.1. Lý luận chung về DNN&V và vai trò của DNN&V trong nền kinh tế.
1.1.1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V)
1.1.1.1. Tình hình phát triển và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và
vừa (DNN&V) ở một số nước trên thế giới.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) tuy có mặt ở rất nhiều nền kinh tế trên
thế giới, nhưng lại không có một điểm chung thống nhất giữa các quốc gia về khái
niệm cũng như tiêu thức xác định DNN&V. Điều này thể hiện sự khác nhau về
hoàn cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội giữa các quốc gia, đồng thời
thể hiện sự khác nhau trong các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các DNN&V.
Qua thực tiễn nhiều nước, trong đó có một số nước có điều kiện kinh tế và

Tồng kết tài sản/năm tối đa
5 triệu EURO
27 triệu EURO
Nguồn: DNN&V definition, www.modcontractsuk.com
Sự phân định như vậy chưa xác đáng vì không phân biệt các doanh nghiệp
giữa các ngành trong khi có một thực tế là đặc điểm kinh tế giữa các ngành nhiều
khi quyết định qui mô doanh nghiệp.
b. Khu vực ASEAN
Tại các nước ASEAN, khái niệm về DNN&V còn có sự khác nhau. Song
nhìn chung các nước Singapore, Malaixia, Inđônêxia, Thái lan, Philippin đều dựa
vào 2 tiêu chí cơ bản để phân định một doanh nghiệp thuộc quy mô vừa, nhỏ hay
lớn, đó là: số lượng lao động được sử dụng và tổng vốn đầu tư. Singapore quan
niệm DNN&V là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 100 người và vốn
đầu tư dưới 1,2 triệu đô la Singapore. Với Malaixia, DNN&V là những doanh

- 6 - nghiệp có số lao động dưới 200 người và vốn đầu tư dưới 2,5 triệu riggit. Còn với
Inđônêxia, Thái Lan và Philippin thì có sự phân loại chi tiết hơn thành doanh nghiệp
vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ (micro-enterprise) trong đó doanh
nghiệp siêu nhỏ thường là những hộ kinh doanh gia đình.
Như vậy, quan niệm thế nào là một DNN&V ở một số nước ASEAN còn có
sự khác nhau, đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa tương đối và chủ yếu
căn cứ vào quy mô về vốn và lao động. Do đó cách xác định DNN&V cũng mắc
phải một số nhược điểm như cách phân loại một số nước trong khu vực EU, tức là
chưa xét đến yếu tố đặc điểm kinh tế ngành.
c. Mỹ
Tại Mỹ, nơi mà khi nhắc tới, người ta nghĩ ngay đến những tập đoàn kinh tế
hùng mạnh thì vai trò của các DNN&V cũng rất được đề cao. Việc phân loại các

nhiều chuyên gia kinh tế, định nghĩa này sẽ hoàn chỉnh hơn nếu nó bao hàm cả tiêu
chí về doanh thu và tổng tài sản. Bởi lẽ, vẫn tồn tại một thực tế là các doanh nghiệp
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ về bản chất có doanh thu cao hơn nhưng tổng
vốn đăng kí nhỏ hơn so với các doanh nghiệp sản xuất. Một trở ngại khác liên quan
đến định nghĩa hiện tại về DNN&V đó là trong định nghĩa hiện nay không quy định
các tiêu chí để phân chia các DNN&V thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ
và siêu nhỏ. Điều này gây khó khăn cho Chính phủ trong việc xác định trọng tâm hỗ
trợ dựa trên quy mô doanh nghiệp trong nội bộ khu vực DNN&V.
1.1.2. Đặc điểm và tính chất của DNN&V
Qua việc phân tích các quan niệm về DNN&V ở trên chúng ta thấy hết các
nước coi DNN&V là một loại hình doanh nghiệp không được phân biệt theo hình
thức sở hữu mà được phân biệt trên khía cạnh qui mô nhiều hơn. Các DNN&V là
các doanh nghiệp có qui mô về vốn hoạt động là nhỏ do đó doanh thu và lợi nhuận
không lớn và hầu hết hoạt động trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Cũng như
các loại hình doanh nghiệp khác, DNN&V có những đặc tính nhất định trong quá
trình hình thành và phát triển. Hầu hết các học giả nhất trí rằng loại hình DNN&V
có các điểm mạnh và điểm yếu sau đây:

- 8 - * Về các điểm mạnh:
So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác đang tồn tại và hoạt động trong
nền kinh tế như các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các
công ty đa quốc gia thì DNN&V có các điểm mạnh như:
- Dễ khởi nghiệp, hầu hết các DNN&V đều dễ dàng có thể bắt đầu ngay sau
khí có ý tưởng kinh doanh và một số ít vốn cũng như lao động nhất định. Loại hình
doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai
đoạn đầu. Rất nhiều doanh nghiệp lớn, các công ty đa quốc gia trên thế giới đi lên
từ những DNN&V.

* Về các điểm yếu:
Bên cạnh các điểm mạnh được chỉ ra ở trên, các DNN&V còn có các điểm
yếu nhất định như (1) thiếu các nguồn lực để tiến hành các công trình hoặc các dự
án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng; (2) các DNN&V không có các lợi thế
kinh tế theo quy mô và ở một số nước nhất định thì loại hình doanh nghiệp này
thường yếu thế hơn trong các quan hệ với ngân hàng, với Chính phủ và giới báo chí
cũng như thiếu sự ủng hộ của công chúng. Nhiều DNN&V bị phụ thuộc rất nhiều
vào các doanh nghiệp lớn trong qúa trình phát triển; (3) Đứng ở giác độ nhất định
thì các DNN&V vì là rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh
doanh. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy càng nhiều DNN&V ra đời thì cũng có
càng nhiều DNN&V bị phá sản. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều
nhà kinh tế thì các DNN&V có tỉ lệ phá sản và thất bại cao trong năm hoạt động thứ
tư. Và các doanh nghiệp do nam giới quản lý thường có tỷ lệ thất bại cao hơn các
doanh nghiệp được điều hành và quản lý bởi các chủ doanh nghiệp nữ. Bên cạnh
các tác động ngoại lai tích cực thì DNN&V cũng gây ra không ít các ảnh hưởng
ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn, hầu hết các doanh nghiệp này
không quan tâm đầy đủ tới việc bảo vệ môi trường hoặc khi nhiều DNN&V bị phá
sản do hoạt động không hiệu quả thì gây ra sự thiếu tư tưởng của dân chúng đối với
loại hình doanh nghiệp này, gây khó khăn cho người tiêu dùng khi lựa chọn các sản
phẩm tiêu dùng cũng như các nhà cung cấp dịch vụ. Điều này đã làm giảm uy tín
của loại hình DNN&V đối với công chúng và người lao động.

- 10 - 1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình phát triển
kinh tế và hội nhập.
Vai trò của các DNN&V ở nhiều nước được biết đến như là các cơ sở sản
xuất, kinh doanh có khả năng (1) Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp; (2) cung
cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hoá và dịch vụ và làm tăng GDP cho nền

2002
DNNN
144.406
154.927
170.141
186.958
200.045
Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh
180.396
196.057
212.879
234.011
250.392
Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
36.214
48.958
58.626
63.524
67.971
Tổng số DNN&V
361.016
399.942
441.646
484.493
518.408
DNNN
40%
39%

việc làm trong xã hội.
Trong gần bốn năm qua, báo cáo của Viện Nghiên cứu QLKTTW cho
thấy mỗi năm đã có khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới đã được tạo ra
nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập và mở rộng quy
mô kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; đưa tổng số lao động trực tiếp làm
việc trong các doanh nghiệp dân doanh xấp xỉ bằng tổng số lao động trong
các DNNN; và tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp của tư nhân và

- 12 - hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng hơn 6 triệu người. Có không ít doanh
nghiệp đã tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng nghìn lao
động.
Trong lĩnh vực cơ bản của ngành công nghiệp chế biến, các DNN&V tuyển
dụng 355.000 lao động, chiếm 36% tổng số lao động trong ngành. Trong ngành xây
dựng tương ứng là 155.000 lao động, chiếm 51%, trong ngành thương nghiệp và
dịch vụ sửa chữa là 110.000 lao động, chiếm 56%, lĩnh vực khách sạn nhà hàng là
51.000 lao động, chiếm 89%, hoạt động kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn là
27.000 lao động, chiếm 72% tổng số lao động ngành. Hơn nữa các số liệu thống kê
cũng cho thấy rằng DNN&V đã thu hút một tỷ lệ lao động chủ yếu trên phạm vi
toàn quốc; ở duyên hải miền trung số lao động làm việc tại các DNN&V so với tổng
số lao động làm việc ở tất cả các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất là 67%; Đông
Nam Bộ có tỷ lệ thấp nhất là 44%; và tỷ lệ này trên toàn quốc là 49%.
1.1.3.3. Tận dụng các nguồn vốn, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn xã
hội
Theo đánh giá của các chuyên gia, một nguồn vốn nhàn rỗi lớn tiềm ẩn trong
nền kinh tế Việt Nam chưa được huy động và khai thác một cách hiệu quả. Việc
khởi sự doanh nghiệp với lợi thế vốn nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, tính chất
phân tán rải rác đi sâu vào nhiều vùng, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế như

nghiệp lớn, giúp sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, cung cấp nguyên liệu, thâm nhập
vào các ngõ ngách của thị trường mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được.
Mặt khác, với số lượng đông đảo DNN&V tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền
kinh tế, giảm bớt khả năng độc quyền của các doanh nghiệp lớn. DNN&V với mạng
lưới rộng khắp đảm bảo phân bố doanh nghiệp hợp lý hơn, giảm bớt sức ép về dân
số ở các thành phố lớn.
1.1.3.5. Các DNN&V là nơi gieo mầm cho các tài năng kinh doanh
DNN&V chính là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp và bản thân
người lao động. Kinh doanh với quy mô nhỏ là môi trường đào tạo tốt nhất cho các
nhà doanh nghiệp để từng bước tiếp cận đến kinh doanh với quy mô tầm cỡ hơn.
Khởi sự từ hoạt động kinh doanh với quy mô nhỏ và thông qua quá trình điều hành

- 14 - quản lí kinh doanh với quy mô nhỏ, các nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành lên thành
những nhà doanh nghiệp tài ba, biết cách làm thế nào để doanh nghiệp của mình đi
lên và phát triển. Đây là vấn đề có tính thực tiễn khá cao không chỉ đối với nhiều
nước trên thế giới mà ngay cả đối với Việt nam, trong nhiều năm chìm trong cơ chế
quan liêu bao cấp với hàng loạt các nhà doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm với cơ
chế thị trường. Sự phát triển của các DNN&V có tác dụng đào tạo, chọn lọc, thử
thách qua thực tế những người có năng lực thực sự để trở thành những nhà lãnh đạo
tài năng cho sự nghiệp phát triển kinh tế cho cả quốc gia cũng như cho mục tiêu
riêng của từng doanh nghiệp.
1.2. Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của DNN&V Việt Nam
1.2.1. Vài nét về Hội nhập kinh tế quốc tế: lợi ích và rủi ro
Thế giới đang đứng trước một xu thế có tính quy luật là các nền kinh tế ngày
càng phụ thuộc vào nhau, hiệp tác chặt chẽ hơn với nhau ở phạm vi khu vực cũng
như toàn cầu. Từ cuối những năm 80, xu thế này được khẳng định bằng cụm từ Hội
nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT). Đây cũng chính là vấn đề thời sự mà các khu vực,

phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Từ hơn một thập kỷ qua, hội nhập và toàn cầu hoá đã diễn ra nhanh chóng,
trở thành xu thế khó có thể đảo ngược, tạo ra áp lực cạnh tranh đối với kinh tế của
các nước, kể cả các nước công nghiệp phát triển đồng thời đưa các nước xích lại
gần nhau hơn thông qua trao đổi mậu dịch và điều chỉnh các luật lệ, quy tắc của
quốc gia phù hợp với quy tắc và thông lệ quốc tế. Nhiều nước chấp nhận thách thức,
chủ động tham gia trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá. Tiêu biểu là việc Trung Quốc
đã hoàn tất quá trình đàm phán và đã sớm được công nhận là thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đã được thừa nhận, mặt trái của quá trình
hội nhập và toàn cầu hoá là phân hoá xã hội, suy thoái môi trường và chính trị hoá
vấn đề thương mại, sinh thái, nhân quyền. Lợi ích của toàn cầu hoá phân chia không
đồng đều dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn giữa các khu vực, các quốc gia, thậm
chí giữa các vùng lãnh thổ, giữa các doanh nghiệp trong một nước. Thất bại của
hàng loạt các hội nghị thương mại toàn cầu thể hiện khá rõ mâu thuẫn lợi ích trong

- 16 - lòng các nước phát triển, giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển và
giữa các nước đang phát triển với nhau. Trong bối cảnh đó, xu hướng tập hợp lực
lượng Nam - Nam, liên kết khu vực và tiểu khu vực, đa dạng, đa phương hoá quan
hệ kinh tế được đẩy mạnh nhằm đối phó với thách thức của quá trình toàn cầu hoá.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra đối với DNN&V Việt Nam trong quá trình hội
nhập
Cùng với việc được hưởng những lợi ích mà hội nhập có thể mang lại, các
DNN&V trong nước đồng thời cũng phải tuân thủ các quy định quốc tế chung đặc
biệt là các quy định của WTO. Điều đó có nghĩa là các hàng rào thuế quan đối với
hàng hoá nhập khẩu sẽ dần bị hạ thấp, các hàng rào phi quan thuế sẽ dần phải dỡ bỏ,
các trợ cấp thiếu bình đẳng cho các doanh nghiệp sẽ không còn nữa, độc quyền về

hướng về xuất khẩu. Do vậy, những điều kiện khắt khe như giấy phép xuất khẩu,
giới hạn được tiếp xúc với thị trường ngoại hối, phân bổ hạn ngạch vốn thường
được ưu tiên cho các doanh nghiệp lớn sẽ dần phải dỡ bỏ. Vì vậy, các DNN&V sẽ
được đối xử một cách bình đẳng hơn và sẽ có những điều kiện thuận lợi hơn cho
việc sản xuất phục vụ xuất khẩu.
- Mở cửa thương mại gắn liền với tiến trình toàn cầu hoá bởi nó tạo ra sự gắn
kết giữa nền kinh tế trong nước với thị trường toàn cầu cả ở phần đầu vào lẫn đầu ra.
Cùng với sự phát triển của cách mạng thông tin và công nghệ cao, giảm bớt các rào
cản thương mại và sự gia tăng lưu chuyển vốn trên toàn cầu, các DNN&V sẽ có
những cơ hội mà trước đây họ không thể có, đặc biệt là trong việc tiếp xúc với các
xu hướng tiêu thụ mới và phân công lao động trên diện rộng với chi phí sản xuất
thấp và kỹ thuật tiên tiến.
1.2.2.2. Những thách thức đối với DNN&V
Kinh nghiệm các nước cho thấy bên cạnh một số lợi ích nêu trên, DNN&V
thường gặp phải một số khó khăn nhất định trong quá trình tham gia hội nhập.
Những khó khăn đó bao gồm hai loại: bên ngoài/khách quan và nội tại/chủ quan.
Trong các khó khăn bên ngoài, khó khăn lớn nhất thường liên quan đến các chính
sách kinh tế trong nước bao gồm: môi trường kinh tế vĩ mô, các chính sách khuyến
khích và các định chế liên quan. Các khó khăn bên trong liên quan đến năng lực của

- 18 - chính các doanh nghiệp (định hướng phát triển, tiếp cận thị trường, khả năng quản
lý, vấn đề tiếp cận và xử lý thông tin, kỹ thuật, tay nghề người lao động ). Tất cả
những khó khăn trên sẽ có tác động rất lớn đến năng lực hội nhập của các DNN&V.
- Chính sách vĩ mô như chính sách tiền tệ, tài khoá bảo đảm một môi trường
kinh tế vĩ mô ổn định (bao gồm giá cả hàng hoá dịch vụ, lãi suất và tỷ giá hối đoái
linh hoạt, phản ánh đúng cung cầu thị trường ) là những điều kiện quan trọng giúp
các doanh nghiệp phát triển ổn định. Những ràng buộc bên ngoài (môi trường cạnh

với 97% trong số đó là DNN&V. Đất nước có hội nhập được hay không, có thực
hiện được đầy đủ cam kết với cộng đồng quốc tế hay không phụ thuộc chủ yếu vào
khả năng hội nhập của bản thân các doanh nghiệp này.
DNN&V nước ta đang đứng trước những bước phát triển mới về hội nhập
đòi hỏi các doanh nghiệp, chủ thể của quá trình này, phải chủ động nắm bắt, nhận
biết về yêu cầu của qúa trình này và chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh và hội
nhập. Các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, nền kinh tế có khả năng
cạnh tranh quốc gia cao sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tạo thêm việc làm và
thu nhập, trình độ khoa học công nghệ được nâng cao, đời sống nhân dân được cải
thiện. Ngược lại, chậm hoặc mơ hồ với áp lực của hội nhập khiến cho các doanh
nghiệp phải chuyển hướng sản xuất, thậm chí giải thể, phá sản dẫn đến rối ren
chung toàn xã hội.
1.2.3. Năng lực Hội nhập kinh tế quốc tế của DNN&V Việt Nam
1.2.3.1. Khái niệm năng lực Hội nhập kinh tế quốc tế
Như đã khẳng định ở trên, hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu là nỗ lực chủ
động gắn kết nền kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới và khu vực. Từ sau khi đất
nước tiến hành mở cửa nền kinh tế, đặc biệt trong một vài năm gần đây, khái niệm
HNKTQT đã không còn quá mới mẻ và trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam.
Không ít công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học, các học giả đã ra đời với
phân tích đầy đủ sâu rộng về toàn cầu hoá, về HNKTQT và những cơ hội, thách
thức của Việt Nam khi tham gia qúa trình này. Tuy nhiên, khái niệm về năng lực
HNKTQT của quốc gia nói chung và doanh nghiệp nói riêng còn ít được đề cập.
Năng lực HNKTQT của doanh nghiệp là khái niệm dùng để chỉ:

- 20 - - khả năng thích ứng với những điều kiện mới của doanh nghiệp: quy định và
thông lệ pháp luật, quy định về tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm, các quy định về
thuế quan, về tự do hoá thương mại, quota, hàng rào thuế quan và phi quan thuế ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status