Tự do hóa thương mại của singapore và những bài học kinh nghiệm đối với việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
NGUYỄN THỊ NHƢ TRANG TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI CỦA SINGAPORE VÀ
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO

Chuyên ngành: Thƣơng mại
Mã số: 60.34.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ THƢƠNG MẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Quang Minh Hà Nội – 2008

1.3.3. Loại bỏ các hạn chế định lượng, thuế hoá các biện pháp phi thuế… … 18 1.3.4. Minh bạch hoá hệ thống chính sách, luật pháp………………………… 24
1.3.5. Mở cửa thị trường dịch vụ……………………………………………… 25
Chƣơng 2: CHÍNH SÁCH TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI CỦA
SINGAPORE……………………………………………………… 28
2.1. Tổng quan về những thành tựu thƣơng mại của Singapore 28
2.1.1. Thành tựu về thương mại hàng hoá 28
2.1.2. Thành tựu về thương mại dịch vụ……………………………………… 32
2.2. Chính sách tự do hoá thƣơng mại hàng hoá của Singapore………….….33
2.2.1. Cơ chế quản lý hoạt động thương mại…………………………………… 33
2.2.2. Quy định về quyền tham gia hoạt động thương mại…………………… 35
2.2.3. Chính sách về thuế quan………………………………………………… 35
2.2.4. Chính sách về phi thuế quan…………………………………………… 38
2.3. Chính sách tự do hoá thƣơng mại dịch vụ của Singapore……….…… 47
2.3.1. Các thoả thuận về tự do hoá thương mại dịch vụ……………………… 48
2.3.2. Chính sách trong từng lĩnh vực cụ thể………………………………… 52
2.4. Một số bài học kinh nghiệm về tự do hoá thƣơng mại của Singapore ….64
2.4.1. Xây dựng bộ máy quản lý và cơ chế điều hành hoạt động thương mại
gọn nhẹ và thông thoáng……….…………………………… ………… 64
2.4.2. Thực hiện chính sách tự do hoá thương mại kết hợp với bảo hộ hợp lý
sản xuất trong nước.…………………………………… ………….…… 67
2.4.3. Xây dựng hàng rào kỹ thuật đủ mạnh để bảo hộ sản xuất trong nước 68
2.4.4. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu và chủ động mở rộng thị trường quốc tế
thúc đẩy quan hệ thương mại ……………………… …………… 69
2.4.5. Tự do hoá trên lĩnh vực thương mại dịch vụ tiến hành theo từng bước 70

quan đến thương mại dịch vụ……………………………………… 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Danh mục viết tắt Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ACV
Agreement on Customs
Valuation
Hiệp định Định giá Hải quan
ADB
Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
AIA
Framework Agreeemnt on the
ASEAN Investment Area
Hiệp định khung về Khu vực
Đầu tư ASEAN
APEC

GATS
General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ
GATT
General Agreement on Tariffs
and Trade
Hiệp định chung về thuế quan
và mậu dịch
GST
Goods and Services Tax
Thuế hàng hoá và dịch vụ
HS
Harmonized System

Hệ thống Mô tả và Mã số Hàng
hoá Hài hoà
IMF
International Monetary Fund
Quĩ tiền tệ quốc tế MAS
Monetary Authority of
Singapore
Ngân hàng trung ương
Singapore
MERCOSUR
Mercado Comun del Sur

Rights
Hiệp định về các khía cạnh liên
quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới

Danh mục các bảng


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Singapore là một quốc đảo nhỏ bé ở Đông Nam Á và là thành viên của
ASEAN, thường được ví như một mô hình kinh tế thành công. Mặc cho nền kinh
tế nội địa nhỏ bé và thiếu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Singapore đã làm nên
thành tựu như một trong những quốc gia thương mại hàng đầu thế giới, liên tục
được xếp là một trong những điểm kinh doanh tốt nhất và nền kinh tế cạnh tranh
nhất. Trong những nguyên nhân thành công của Singapore, chúng ta không thể
không kể đến việc quốc đảo này đã theo đuổi một chính sách thương mại tự do và
thông thoáng nhất trên thế giới.
Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), do đó việc cải cách chính sách thương mại và chính sách kinh tế vĩ mô
liên quan là yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam nhằm thực hiện những cam kết hội
nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu tự do hoá thương mại đang diễn ra ngày
càng mạnh mẽ. Trong tiến trình ấy, việc nghiên cứu kinh nghiệm tự do hoá thương
mại của các nước, đặc biệt là của Singapore - một mô hình thành công, có ý nghĩa
rất thiết thực đối với Việt Nam, cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, tôi chọn đề tài
“Tự do hoá thương mại của Singapore và những bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO” làm đề tài luận văn thạc sỹ nhằm

cam kết của Việt Nam về tự do hoá thương mại và đề ra những giải pháp tự do hoá
thương mại của Việt Nam qua kinh nghiệm của Singapore.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các qui định trong chính sách thương
mại của Singapore. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài còn là những qui
định về tự do hoá thương mại trong khuôn khổ của WTO; các cam kết về tự do
hoá thương mại của Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu chính sách tự do hoá thương mại của
Singapore trong lĩnh vực thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ kể từ năm
1999 đến nay.

3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: lý luận biện chứng, lý
thuyết kinh tế học hiện đại để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn; sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh kết hợp với bảng số liệu và
biên dịch tài liệu của nước ngoài.
7. Kết cấu của luận văn: gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tự do hoá thương mại và quy định của
WTO về tự do hoá thương mại
- Chương 2: Chính sách tự do hoá thương mại của Singapore
- Chương 3: Giải pháp tự do hoá thương mại của Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập WTO qua kinh nghiệm của Singapore
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Quang
Minh - giảng viên trường Đại học Ngoại thương đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ
tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn, đồng thời xin gửi lời cảm ơn tới các
cán bộ trông coi thư viện trường Đại học Ngoại thương, thư viện Quốc gia đã giúp

xoá bỏ các can thiệp của mình tới thương mại, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng
hoá và dịch vụ trong một nước và giữa các nước với nhau.
Hoạt động thương mại trước đây được hiểu là chỉ bao gồm các hoạt động liên
quan đến trao đổi, mua bán hàng hoá. Tuy nhiên với sự phát triển của thương mại
quốc tế, cách hiểu này đã trở nên quá hẹp. Trong hệ thống các hiệp định của WTO,
thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, lĩnh vực đầu tư
liên quan đến thương mại và các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại. Tuy nhiên, thương mại hàng hoá và dịch vụ vẫn đóng vai trò quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thương mại quốc tế. Chính vì vậy, luận
văn xem xét thương mại với phạm vi bao gồm thương mại hàng hoá và thương
mại dịch vụ.
1.1.2. Những nội dung chủ yếu của tự do hoá thƣơng mại
1.1.2.1. Cắt giảm dần thuế quan
Rào cản thuế quan là loại rào cản phổ biến nhất và mang tính chất truyền
thống trong thương mại quốc tế, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức
thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu như thuế phi tối huệ quốc, 5
thuế tối huệ quốc, thuế quan ưu đãi phổ cập, thuế quan áp dụng đối với khu vực
thương mại tự do, thuế quan ưu đãi chuyên ngành Thuế quan được áp dụng trước
hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ, sau đó là vì những
mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa
một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản xuất quan trọng hay còn non trẻ của
nước mình.
Hiện nay, do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến trình tự
do hoá thương mại, nên loại rào cản này có xu hướng ngày càng bị hạn chế trong
quan hệ thương mại. Thuế quan là biện pháp bảo hộ cụ thể và mang tính định
lượng rõ ràng nhất, do đó việc nhượng bộ trong đàm phán về cắt giảm thuế thường
dễ dàng hơn so với việc thương lượng xoá bỏ các hình thức bảo hộ thương mại

phát triển ra cả lĩnh vực dịch vụ, thương mại đầu tư, sở hữu trí tuệ và ở mức độ đa
quốc gia. Trong các biện pháp trên, hạn ngạch nhập khẩu là công cụ hạn chế
thương mại nhiều nhất, bởi vì một sản phẩm dù đã được giảm thuế, thậm chí
xuống mức 0% cũng khó có thể thâm nhập thị trường nếu nó chịu sự quản lý bằng
hạn ngạch. Do đó, việc dỡ bỏ hạn ngạch cũng là một trong những nhiệm vụ đầu
tiên trong quá trình tự do hoá thương mại. Việc nới lỏng các hàng rào phi thuế
quan có thể được thực hiện theo hai cách phổ biến. Một là, chuyển từ việc áp dụng
các biện pháp phi thuế quan sang áp dụng thuế quan ở mức bảo hộ tương đương.
Hai là, xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan mà không sử dụng thuế quan như công
cụ bảo hộ thay thế. Việc xoá bỏ dần các rào cản phi thuế quan tuy rất phức tạp và
khó khăn nhưng lại là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của tiến trình tự do
hoá thương mại.
1.1.2.3. Đảm bảo cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử
Đảm bảo cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử đòi hỏi các nước
dành đãi ngộ cho hàng hóa, doanh nghiệp của các nước khác không được “thấp
hơn” sự đãi ngộ mà hàng hóa và doanh nghiệp trong nước được hưởng. Cần xoá
bỏ các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như: trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá,
cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi,… Mục đích là đảm bảo hàng hóa nhập khẩu và
hàng hoá trong nước, doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước có
cùng vị trí cạnh tranh bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Bên cạnh đó, nguyên 7
tắc này cũng đòi hỏi các nước phải công khai và minh bạch hoá các chính sách,
pháp luật về kinh tế và thương mại, thuận lợi hoá các thủ tục và quy định có liên
quan đến giao dịch thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động
thương mại.
1.1.3. Các phƣơng thức tự do hoá thƣơng mại trên thế giới hiện nay
Quá trình tự do hoá thương mại có thể được thực hiện thông qua các chương
trình với các cấp độ và phạm vi khác nhau. Nó có thể được tiến hành một cách đơn

phương giữa các chính phủ, trong đó thoả thuận các quy định về cắt giảm rào cản
thương mại và các cam kết có tính chất ưu đãi nhằm phát triển quan hệ thương mại
giữa các nước trong khu vực hoặc giữa hai nước ký kết với nhau.
Ngày nay, các nước thường tiến hành đồng thời các chương trình tự do hoá
thương mại với các phương thức khác nhau. Do thế giới chưa sẵn sàng cho một
chế độ thương mại tự do đa phương, nên các chương trình tự do hoá thương mại
khu vực và song phương đang chiếm ưu thế, trong các chương trình đó, các nước
không chỉ quan tâm đến việc dỡ bỏ các rào cản đối với thương mại, mà còn tiến
hành những cải cách nhằm thuận lợi hoá thương mại. Đặc biệt là các chương trình
thường được thiết kế nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình xây dựng hệ
thống thương mại đa phương trong phạm vi WTO.
Bên cạnh những biện pháp về giảm dần các rào cản thuế quan và phi thuế
quan đối với thương mại, các nước tham gia còn đưa ra những cam kết về hài hoà
hoá các thủ tục hải quan, các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như các vấn đề liên quan
đến việc điều tiết chúng, đưa ra các quan điểm thống nhất về các hàng rào phi thuế
quan, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm
Tự do hoá thương mại thông qua ký kết các hiệp định thương mại song
phương diễn ra phổ biến trong những năm gần đây, đây là phương thức có hiệu
quả và có tính khả thi cao, bởi vì đặc trưng của phương thức này là 2 bên ký kết
thoả hiệp định cùng nhau thoả thuận đưa ra các cam kết loại bỏ các rào cản thương
mại trên cơ sở cân bằng lợi ích của cả hai phía, so với việc cân bằng quyền lợi của
rất nhiều bên như trong trường hợp các thoả thuận khu vực và đa biên thì dễ thực
hiện hơn rất nhiều. 9
Về phương thức tự do hoá thương mại khu vực, có nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến sự nở rộ của các Hiệp định thương mại khu vực. Đó là: Một là, sự
gần gũi về địa lý là nguyên nhân mang tính khách quan thúc đẩy các nước tham
gia vào các Hiệp định thương mại khu vực. Họ cho rằng thông qua chúng, thương

1.1.4.1. Các rào cản thương mại truyền thống được giảm dần và dỡ bỏ nhưng xuất hiện
những biện pháp bảo hộ mới tinh vi hơn
Về nguyên tắc, quá trình tự do hóa thương mại tất yếu sẽ xóa bỏ thuế quan
và các rào cản phi quan thuế truyền thống như hạn ngạch và giấy phép, dẫn đến
một thị trường thế giới thống nhất thực sự. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là
việc buôn bán giữa các quốc gia không còn một trở ngại nào mà trái lại vẫn sẽ tồn
tại những rào cản phi thuế quan tinh vi hơn trong thương mại quốc tế.
Hàng rào thuế quan ngày càng giảm thông qua những quy định của WTO
và các tổ chức liên kết kinh tế quốc tế như ASEAN, AFTA, NAFTA Song khi
những rào cản thương mại truyền đang được giảm mạnh, các rào cản phi thuế quan
đối với sự di chuyển quốc tế hàng hóa được áp dụng ngày càng nhiều. Điều này
bắt nguồn từ nguyên nhân cơ bản là các quốc gia thực hiện nhiều chính sách và
quy định nội địa nhằm bảo vệ thị trường trong nước trước sự xâm nhập ồ ạt của
hàng hóa nước ngoài nhập khẩu.
Những quy định cụ thể về các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của từng
quốc gia vẫn còn hết sức phức tạp, gây tranh cãi và khó đi đến những thỏa thuận rõ
ràng bởi các quốc gia có chủ quyền đều coi đây là những công cụ hữu hiệu để bảo
hộ sản xuất trong nước trong bối cảnh tự do hóa thương mại được đẩy mạnh.
1.1.4.2. Tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO là quan trọng nhất hiện
nay
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995 trên
cơ sở của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) với mục đích thúc
đẩy thương mại quốc tế và giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Hiện nay,
WTO có ba hiệp định quan trọng liên quan đến thương mại thế giới là: Hiệp định
GATT về thương mại hàng hóa, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
và Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của các quyền sở hữu trí 11
tuệ (TRIPS) . WTO là thể chế đa quốc gia thực sự duy nhất dựa trên những quy tắc

12
Sự thất bại của vòng đàm phán thương mại đa phương Doha tổ chức tại
Hồng Kông vào tháng 12/2005 đã mở đường đẩy nhanh việc ký kết và thực hiện
các hiệp định thương mại song phương và khu vực trên khắp các châu lục.
Tại châu Á, khu vực thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN đã có những
bước khởi động tích cực. Hàn Quốc cũng đã ký kết FTA với ASEAN và Hiệp định
này đã có hiệu lực từ tháng 6/2007. Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand
cũng đang khẩn trương tiến hành đàm phán với ASEAN để thành lập AFTA.
Các nước trong khu vực Châu Á cũng đã thảo luận để thành lập “Khối cộng
đồng Đông Á” và dự kiến cho ra đời đồng tiền chung châu Á - đồng Acu. Ngoài ra
các nước châu Á thực hiện ký kết các FTA với các nước và khu vực khác như
Hiệp định tăng cường hợp tác buôn bán song phương Mỹ-ASEAN, Hiệp định tự
do thương mại song phương Thái Lan-Australia, Hiệp định thương mại tự do
Trung Quốc-Chi lê, Hiệp định thương mại song phương Nhật Bản-Chi lê.
Tại châu Mỹ, các cuộc tranh luận để hình thành một FTA toàn châu Mỹ vẫn
đang diễn ra. 27 nước Mỹ La tinh và Caribe cùng với Mỹ và Canada đã thúc đẩy
việc ấn định thời điểm để tiến hành các cuộc thương lượng cấp cao nhằm thành lập
khu vực mậu dịch tự do Châu Mĩ (FTAA) gồm 34 thành viên.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI
Tự do hoá thương mại hiện đang là xu thế tất yếu khách quan, tác động
mạnh mẽ tới tất cả các quốc gia, dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộng đồng
nhân loại, cũng như cuộc sống của mỗi con người. Tự do hoá thương mại không
chỉ tạo ra cho các nước những cơ hội cho sự phát triển nhất là về kinh tế - kỹ thuật
và tạo ra khả năng giao lưu văn hóa, trí tuệ, chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên,
bên cạnh những tác động tích cực, tự do hoá thương mại cũng có những ảnh
hưởng tiêu cực tới mỗi quốc gia.
1.2.1. Tác động tích cực
Tự do hoá thương mại giúp cho các nước tận dụng được nhiều cơ hội nhằm
thúc đẩy nhanh hơn nữa sự phát triển kinh tế của nước mình.


của các yếu tố sản xuất. Tất cả các điều này sẽ giúp các quốc gia bổ sung được sự 14
thiếu hụt về vốn, kỹ thuật và các yếu tố sản xuất khác, tận dụng miễn phí mọi ưu
thế của nước đi sau và thực hiện phát triển ngành nghề, tiến bộ kỹ thuật, đổi mới
phương pháp quản lý và phát triển kinh tế.
Đối với người tiêu dùng, nhờ có tự do hoá thương mại, trên thị trường mới
có nhiều sản phẩm mới, đa dạng về chủng loại, giá cả và chất lượng đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng. Vì vậy, người tiêu dùng có nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn sản
phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mình.
1.2.2. Tác động tiêu cực
- Thứ nhất, tự do hoá thương mại làm tăng khả năng biến động của nền kinh
tế trong nước. Xuất phát từ sự gia tăng ràng buộc giữa các nền kinh tế, sự ổn định
kinh tế của các quốc gia không những được quyết định bởi các nhân tố trong nước
mà còn chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố quốc tế. Cùng với sự gia tăng
mạnh mẽ của các trao đổi quốc tế, ảnh hưởng của tình hình mậu dịch xuất nhập
khẩu và tình hình thu chi quốc tế ngày càng gia tăng đến tình hình vận hành của
kinh tế quốc dân. Những biến động kinh tế trên thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng
đến các quốc gia.
- Thứ hai, tự do hoá thương mại gây ra những tác động nhất định đối với
các ngành nghề và thị trường ở các quốc gia. Song song với một lượng lớn sản
phẩm nhập khẩu, các ngành nghề trong nước sẽ phải chịu những sức ép của cạnh
tranh nước ngoài. Cùng với sự tham gia vào tổ chức WTO, các quốc gia sẽ phải
mở cửa hơn nữa thị trường của nước mình, sức ép cạnh tranh đối với các sản phẩm
nội địa sẽ gia tăng mạnh mẽ hơn.
- Thứ ba, tự do hoá thương mại có thể gây ra những nguy cơ về tài chính
trong nước. Tự do hoá thương mại bao giờ cũng đi đôi với tự do hoá tài chính, tốc
độ lưu thông vốn quốc tế được gia tăng nhanh chóng. Nguồn vốn quốc tế ngắn hạn
sẽ gia tăng và chiếm tỷ trọng quan trọng và có sự bất ổn cao, tạo ra các nguy cơ

nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO.
Đây là một nguyên tắc quan trọng được quy định ngay tại điều đầu tiên của
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, hiệp định đóng vai trò điều tiết
thương mại hàng hoá. Đây cũng là điều khoản ưu tiên của các hiệp định quan
trọng của WTO cho dù mỗi hiệp định sử dụng những thuật ngữ khác nhau: Điều 2 16
của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), Điều 4 của Hiệp định về các
khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Ba hiệp
định đồng thời chi phối ba lĩnh vực thương mại chính mà WTO can thiệp.
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia yêu cầu các thành viên phải đối xử bình đẳng
giữa sản phẩm nhập khẩu từ các thành viên khác với sản phẩm nội địa. Hàng nhập
khẩu và hàng nội địa phải được đối xử bình đẳng ngay khi đã thâm nhập vào thị
trường. Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với lĩnh vực dịch vụ, quyền sở hữu
trí tuệ có liên quan đến thương mại. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cũng được thể
hiện trong cả ba hiệp định chính của WTO.
1.3.2. Cắt giảm và ràng buộc thuế quan
Theo quy định của WTO thì các quốc gia thành viên chỉ được phép bảo hộ
nền sản xuất và thị trường trong nước thông qua hình thức thuế và phải chấm dứt
các biện pháp bảo hộ khác. Chính phủ các nước tham gia WTO cũng phải cam kết
thuế hoá các biện pháp không mang tính hình thức và không đưa thêm các hình
thức mới ngoài khuôn khổ GATT.
1.3.2.1. Cắt giảm thuế quan
Theo quy định của WTO, việc thu thuế xuất nhập khẩu phải được tiến hành
trên cơ sở tối huệ quốc (MFN). Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại
của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các
thành viên còn lại của WTO [14, tr.27]. Nhờ đó mà kết quả giảm thuế quan ở các
vòng đàm phán đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên của WTO. Mọi kết quả
giảm thuế đều được ghi vào biểu thuế và các nước không được phép bỏ mức giảm

Điều này thể hiện rõ ý chí giảm thuế của họ. Đối với các cam kết ràng buộc thấp
hơn mức thuế suất đang áp dụng, các nước sẽ phải đưa ra những cam kết cụ thể về
thời gian đạt được mức giảm đó.
- Thực hiện ràng buộc ở mức thuế bằng mức thuế đang áp dụng.
- Thực hiện ràng buộc ở mức độ cao hơn mức độ thuế đang áp dụng, như
vậy sau này vẫn có thể tăng thuế trong phạm vi mức độ ràng buộc này (Trong
trường hợp mức thuế cam kết ràng buộc cao hơn mức thuế đang áp dụng thì được
gọi là ràng buộc trần). Nhìn chung các nước đang phát triển chủ yếu nhằm tạo ra 18
sự an toàn về mặt pháp lý khi xuất khẩu vào thị trường của họ hơn là tăng cường
mở cửa thị trường.
1.3.3. Loại bỏ các hạn chế định lƣợng, thuế hoá các biện pháp phi thuế
1.3.3.1. Hạn ngạch
Điều 11 - GATT/1994 quy định các nước thành viên không được phép áp
dụng các biện pháp hạn ngạch. Đây là một biện pháp dùng để hạn chế số lượng
hoặc giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu. Việc quy định hạn ngạch làm cản trở tự do
lưu thông hàng hoá trên thị trường thế giới và hoàn toàn không có lợi cho xã hội.
Vì vậy, WTO quy định ngoài thuế và các phụ phí khác ra, các nước thành viên
không được đặt hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu sản phẩm từ lãnh thổ của các
nước thành viên khác, hoặc xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu sang các nước
thành viên khác.
Tuy vậy, WTO cũng vẫn cho phép sử dụng hạn ngạch trong một số trường
hợp ngoại lệ:
- Đảm bảo an ninh lương thực.
- Áp dụng biện pháp hạn ngạch (cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu) để thực
thi các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại (classification), phân cấp (grading) hay
tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế.
- Triển khai các biện pháp của Chính phủ được áp dụng đối với nông sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status