dược học - ba kích thiên - Pdf 13

DƯỢC HỌC
BA KÍCH THIÊN
-Xuất xứ:
Bản Kinh.
-Tên khác:
Ba kích (Bản Thảo Đồ Kinh), Bất điêu thảo (Nhật Hoa Tử Bản Thảo),
Ba cức, Diệp liễu thảo, Đan điền lâm vũ, Lão thử thích căn, Nữ bản (Hòa
Hán Dược Khảo), Kê nhãn đằng, Đường đằng, Tam giác đằng, Hắc đằng cổ
(Trung Dược Đại Từ Điển), Kê trường phong (Trung Dược Chí), Tam mạn
thảo (Đường Bản Thảo), Thỏ tử trường (Trung Dược Tài Thủ Sách), Dây
ruột gà (Việt Nam).
-Tên khoa học:
Morinda officinalis How.
-Họ khoa học:
Họ Cà Phê (Rubiaceae).
-Mô tả:
Cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Thân non mầu tím, có
lông, phía sau nhẵn. Cành non, có cạnh. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục,
thuôn nhọn, cứng, dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non mầu xanh lục, khi già
mầu trắng mốc. Lá kèm mỏng ôm sát thân. Hoa nhỏ, lúc non mầu trắng, sau
hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3-1,5cm, đài hoa hình chén
hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều. Tràng hoa dính
liền ở phia dưới thành ống ngắn. Quả hình cầu, khi chín mầu đỏ, mang đài
còn lại ở đỉnh. Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-10.
Rễ dùng làm thuốc thường khô, thường được cắt thành từng đoạn
ngắn, dài trên 5cm, đường kính khỏang 5mm, có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi
nhỏ bên trong.Vỏ ngoài mầu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc. Bên trong
là thịt mầu hồng hoặc tím, vị hơi ngọt.

· Trong Ba Kích có Gentianine, Carpaine, Choline, Trigonelline,
Díogenin, Yamogenin, Gitogenin, Tigogenin, Vitexin, Orientin, Quercetin,
Luteolin, Vitamin B1 (Chinese Hebral Medicine).
· Morindin, Vitamin C (Trung Dược Học).
· Rễ chứa Antraglycozid, đường, nhựa, Acid hữu cơ, Phytosterol và
ít tinh dầu, Morindin. Rễ tươi có sinh tố C (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt
Nam).
· Trong Ba kích có Rubiadin, Rubiadin-1-Methylether (Vương Yến
Phương – Thực Vật Học Báo 1986, 28 (5): 566).
· Palmitic acid, Vitamin C, Nonadecane (Chu Pháp Dữ - Trung Dược
Thông Báo q986, 11 (9): 554).
· 24-Ethylcholesterol (lý Quán – Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí
1991, 16 (11): 675).
-Tác dụng dược lý:
1. Tăng sức dẻo dai: Với phương pháp chuột bơi, Ba Kích với liều 5-
10g/kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật
thí nghiệm (Trung Dược Học).
2. Tăng sức đề kháng: dùng phương pháp gây nhiễm độc cấp bằng
Ammoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15g/kg, Ba Kích có tác dụng
tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại (Trung
Dược Học).
3. Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống
trắng bằng Kaolin với liều lượng 5-10g/kg, Ba Kích có tác dụng chống viêm
rõ rệt (Trung Dược Học).
4. Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt
cho thấy Ba Kích không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả
năng tăng cường hiệu lực của Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết
hormon Androgen (Trung Dược Học).
5. Nước sắc Ba Kích có tác dụng tương tự như ACTH làm cho tuyến
ức chuột con bị teo (Trung Dược Học).

+Vị ngọt, không độc (Biệt Lục).
+Vị đắng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+Vị cay, ngọt, tính ấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Vị ngọt, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).
+Vị cay, ngọt, tính hơi ấm (Trung Dược Học).
+Vị ngọt, cay, hơi ấm (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược
Điển).
-Quy kinh:
+Vào kinh Tỳ và Thận (Lôi Công Bào chế Dược Tính Giải).
+Vào kinh Tâm và Thận (Bản Thảo Tân Biên).
+Vào kinh túc quyết âm Can và túc dương minh Vị (Bản Thảo Kinh
Giải).
+Vào kinh Thận (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Vào kinh Can và Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).
+Vào kinh Thận (Trung Dược Học).
+Vào kinh Thận và Can (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược
Điển).
-Tác dụng:
+Chủ đại phong tà khí, cường cân cốt, an ngũ tạng, bổ trung, tăng chí,
ích khí (Bản Kinh).
+Hạ khí, bổ ngũ lao, ích tinh (Biệt Lục).
+Khứ phong, bổ huyết hải (Bản Thảo Cương Mục).
+An ngũ tạng, định tâm khí, trừ các loại phong ( Nhật Hoa Tử Bản
Thảo).
+Bổ thận, ích tinh, tán phong thấp (Bản Thảo Bị Yếu).
+Hóa đờm (Bản Thảo Cầu Nguyên).
+Cường âm, hạ khí (Dược Tính Luận).
+Ôn thận, tráng dương, cường tráng cân cốt, khứ phong thấp (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Bổ thận âm, tráng cân cốt, khứ phong thấp (Trung Dược Đại Từ

(Bản Thảo Kinh Sơ).
+Âm hư, tiết tinh (do hỏa động), tiểu tiện không thông, miệng lưỡi
khô, táo bón, kiêng dùng(Đắc Phối Bản Thảo).
+Âm hư hỏa vượng, cấm dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+Người âm hư và bệnh tim không dùng (Trung Dược Học).
+ Âm hư hỏa vượng, táo bón: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
-Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị liệt dương, ngũ lao, thất thương, ăn nhiều, hạ khí: Ba kích thiên,
Ngưu tất (sống) đều 3 cân ngâm với 5 đấu rượu, uống (Thiên Kim Phương).
+ Trị phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới
hạ: Ba kích 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g,
Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn.
Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt (Ba Kích Hoàn - Cục Phương).
+ Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích 60g, Ngưu
tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ,
sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống
với rượu ấm (Ba Kích Hoàn - Thánh Huệ Phương).
+ Trị tiểu nhiều: Ích trí nhân, Ba kích thiên (bỏ lõi), 2 vị chưng với
rượu và muối, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử (chưng với rượu). Lượng bằng
nhau. Tán bột. Dùng rượu chưng hồ làm hoàn to bằng hạt ngô đồng lớn, mỗi
lần uống 12 viên với rượu pha muối hoặc sắc thành thang uống với muối (
Kỳ Hiệu Lương Phương).
+ Trị bạch trọc: Thỏ ty tử (chưng rượu 1 ngày, sấy khô), Ba kích (bỏ
lõi, chưng rượu), Phá cố chỉ (sao), Lộc nhung, Sơn dược, Xích thạch chi,
Ngũ vị tử đều 40g. Tán bột, Dùng rượu hồ làm hoàn, uống lúc đói với nước
pha rượu (Phổ Tế Phương).
+ Trị bụng đau, tiểu không tự chủ: Ba kích (bỏ lõi), Nhục thung dung,
Sinh địa đều 60g, Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Sơn dược, Tục đoạn đều 40g,
Sơn thù du, Phụ tử (chế), Long cốt, Quan quế, Ngũ vị tử đều 20g, Viễn chí

500g. Tán bột, trộn với rượu nếp làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với rượu
hoà ít muối hoặc nước muối loãng (Ba Kích Hoàn - Thái Bình Huệ Dân Hòa
Tễ Cục Phương).
+ Trị liệt dương: Ba kích 30g, Đỗ trọng 30g, Ích trí nhân 30g, Ngũ vị
tử 30g, Ngưu tất 30g, Nhục thung dung 60g, Phục linh 30g, Sơn dược 30g,
Sơn thù 30g, Thỏ ty tử 30g, Tục đoạn 30g, Viễn chí 30g, Xà sàng tử 30g.
Tán bột. Luyện mật làm hoàn, ngày uống 12 - 16 g với rượu, lúc đói (Ba
Kích Hoàn - Ngự Dược Viện).
+ Trị bụng ứ kết lạnh đau, lưng đau, gối mỏi, 2 chân yếu, khớp xương
đau, chuột rútû, thận hư, liệt dương : Ba kích 18g, Đương quy 20g, Khương
hoạt 27g, Ngưu tất 18g, Sinh khương 27g, Thạch hộc 18g, Tiêu 2g. Giã
nát, cho vào bình, thêm 2 lít rượu vào, đậy kín, bắc lên bếp, nấu 1 giờ, sau
đó ngâm trong nước lạnh cho nguội. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15 - 20ml
(Ba Kích Thiên - Thánh Tế Tổng Lục).
+ Bổ thận, tráng dương, tăng trưởng cơ nhục, dưỡng sắc đẹp: Ba kích
(bỏ lõi ) 60g, Cam cúc hoa 60g, Câu kỷ tử 30g, Phụ tử (chế) 20g, Thục địa
46g, Thục tiêu 30g. Tán bột, cho vào bình, ngâm với 3 lít rượu. Ngày uống 2
lần, mỗi lần 15 - 20ml, lúc đói (Ba Kích Thục Địa Tửu - Nghiệm Phương)
+ Trị sán khí do Thận hư: Ba kích thiên + Hoàng bá + Quất hạch +
Lệ chi hạch + Ngưu tất + Tỳ giải + Mộc qua + Kim linh tử + Hoài sơn +
Địa hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị liệt dương: Ba kích thiên + Bá tử nhân + Bổ cốt chỉ + Câu kỷ tử
+ Lộc nhung + Ngũ vị tử + Nhục thung dung + Sơn thù du (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị mộng tinh: Ba kích thiên + Bá tử nhân + Hoàng bá + Liên tu +
Lộc giác + Phúc bồn tử + Thiên môn + Viễn chí (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).
+ Trị liệt dương, di tinh, tiết tinh do Thận dương hư: Thỏ ty tử, Nhục
thung dung (Trung Dược Học).
+ Trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ do Thận dương hư: Bổ cốt chỉ,

đau lan đến âm hộ, hạ khí, bổ ngũ lao, ích tinh, lợi nam tử, ngũ tạng bị lao
(hư yếu), thận hư, hạ khí, giáng hỏa, hỏa giáng thì thủy thăng, âm dương hỗ
trợ, tinh thần yên ổn, cho nên chủ Thận khí bị thấp trướng, làm mạnh
nguyên dương, trị các chứng hư, không cần làm cho nó hết mà nó hết vậy”
(Bản Thảo Kinh Sơ).
+”Ba kích thiên là thuốc chữa phần huyết của Thận kinh, bổ cho
nguyên dương mà dưỡng Vị khí, các chứng hư đều tự hết; công dụng giống
vị Tỳ giải và Thạch hộc. Trường hợp nhiệt nhiều, Ba kích hợp với Hoàng bá,
Tri mẫu có tác dụng cường âm; Hợp với Nhục thung dung, Tỏa dương có tác
dụng tráng dương, đó là cách dùng nhiệt để tránh nhiệt, dùng hàn để tránh
hàn vậy”(Bản Thảo Hối).
+”Nếu mệnh môn hỏa suy thì Tỵ Vị bị hư hàn, không thể kích thích
tiêu hóa, dùng Phụ tử, Nhục quế để làm ấm mệnh môn, nhưng lại quá nhiệt,
còn nếu dùng Ba kích thiên, vị ngọt ấm, bổ hỏa mà không nung đốt thủy
sao? Hoặc hỏi rằng Ba kích thiên người đời sau dùng trong thuốc hoàn, tán,
không dùng trong thuốc thang là sao ? Đáp: Ba kích thiên chính là vị thuốc
hay trong thang dược, vì nó ấm mà không nhiệt, kiện Tỳ, khai Vị, ích
nguyên dương, uống vào có thể trừ được âm thủy, là dụng cụ bồi tiếp trực
tiếp, có công hiệu trực tiếp và gián tiếp”(Bản Thảo Tân Biên).
+”Ba kích thiên là thuốc chủ yếu bổ Thận, năng trị ngũ lao, thất
thương, cường âm, ích tinh, khí vị cay, ấm, có tác dụng khứ phong, trừ thấp,
vì vậy, phàm các chứng lưng đau, gối mỏi, phong thấp, cước khí, thủy
thủng, dùng Ba kích rất có ích. Xem trong bài ‘Địa Hoàng Ẩm Tử, dùng
để trị phong tà, lấy Ba kích làm đầu, vì nó bổ âm vậy”(Bản Thảo Cầu
Chân).
+”Ba kích với Phá cố chỉ và Hồ lô ba đều có tác dụng ôn Thận nhưng
Phá cố chỉ có sở trường đặc biệt là thu nạp được Thận khí, bình được suyễn
nghịch do hư hàn; Hồ lô ba có tác dụng ôn tán hàn khí bên trong, trị bụng
dưới đau do nội hàn; Ba kích thiên có tác dụng phát tán, thích hợp với chứng
đau nội hàn do hàn tà bên ngoài gây ra. Tuy giống nhau về ôn Thận nhưng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status