Chính sách khuyến khích khu vực tư nhân cung ứng hàng hóa dịch vụ công cộng ở việt nam hiện nay - Pdf 13


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
************ BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2008
MÃ SỐ: B. 08-07

NHÀ NƯỚC DỊCH VỤ CÔNG -
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Chủ nhiệm: PGS, TS TRẦN NGỌC LINH
Thư ký khoa học: TRẦN MAI HÙNG
CBCC Cán bộ, công chức
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DVC Dịch vụ công
DVHCC Dịch vụ hành chính công
DVCC Dịch vụ công cộng
GD-ĐT Giáo dục và đào tạo
HHCC Hàng hóa công cộng
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TDTT Thể dục, thể thao
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WB Ngân hàng Thế giới iii
DANH MỤC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Chi y tế công theo nguồn tài chính (%) và tổng chi theo gi
á
so sánh (1994), Việt Nam 1991-2003 100
Bảng 2.2: Đầu tư ngân sách nhà nước cho y tế công theo tuyến trun
g
ương và tuyến tỉnh 101
Bảng 2.3: Tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo 2000-2003 theo vùng
102
Bảng 2.4: Giáo dục mẫu giáo 2000 - 2005 ở Việt Nam
105
Bảng 2.5: Số giáo viên và học sinh phổ thông 2000 - 2005 ở Việt Nam
106
Bảng 2.6: Một số thống kê về giáo dục đại học và cao đẳng
107

tạo, y tế, văn hoá, và thể dục thể thao đến năm 2010
176
Hình 2.1: Thay đổi tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam 1993-2002
129
Hình 3.1: Ưu nhược điểm của mỗi nền kinh tế đối với lĩnh vực y tế
143
Sơ đồ 1.1: Phân loại dịch vụ dựa theo tính chất và tác dụng của dịc
h
vụ được cung ứng 33
Sơ đồ 1.2: Một số hình thức cung ứng dịch vụ công của Nhà nước
43
Sơ đồ 1.3: Nội dung của quản lý nhà nước về dịch vụ công
46
Sơ đồ 1.4: Mối liên hệ giữa Nhà nước, xã hội công dân, khu vực tư vớ
i
người thụ hưởng dịch vụ công ở Anh 54
Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể trong cung ứng dịch vụ công
82

iv
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG

.
Chương 1: DỊCH VỤ CÔNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CUNG
ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
16
1.1. Cơ sở lý luận về dịch vụ công
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
- Nghiên cứu về NNDVC là chủ trương của Đảng và nhà nước, là
yêu cầu quan trọng góp phần đưa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X vào thực tiễn cuộc sống.
Quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi cần phải phát triển mạnh m

hơn nữa các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp Trong bối cảnh mà nhà
nước tỏ ra không đủ sức gánh vác tất cả các lĩnh vực dịch vụ công như trước
đây, đã bộc lộ sự bất cập về năng lực quản lý so với khu vực tập thể và tư
nhân thì nảy sinh yêu cầu cần phải chuyển giao những lĩnh vực dịch vụ công
(DVC) cho các doanh nghiệp, tổ
chức xã hội và tư nhân thực hiện.
Nhận thức được yêu cầu này, vấn đề cung ứng DVC của Nhà nước đã
được đề cập đến trong các văn kiện của Đảng và được Nhà nước thể chế hoá.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) vần đề này được coi là chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Đại hội đã chỉ ra yêu cầ
u: “Xây dựng một nền
hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại
hoá… Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ theo hướng bộ
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ
công”, “tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến
khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợ
i nhuận mà vì nhu cầu và
lợi ích của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số

quá trình đưa nghị quyết của Đại hội Đảng vào thực tiễn cuộc sống.
- Xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ công
đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, trước những thay đổi,
biến độ
ng của hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại
những vấn đề căn bản về Nhà nước: Nhà nước nên đóng vai trò gì, Nhà nước
có thể làm gì và không thể làm gì và làm thế nào là tốt nhất?
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, cùng với những biến đổi trong đời sống
kinh tế - xã hội, nhà nước cũng đang có những thay đổi quan trọng cả về tổ
chức lẫ
n chức năng. Nhà nước đang chuyển từ chức năng chủ yếu là cai trị
(quản lý) sang việc tách bạch giữa quản lý với phục vụ, nhấn mạnh chức
năng phục vụ, dịch vụ xã hội, thậm chí còn dẫn tới xem toàn bộ hoạt động 1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà nội, trang 255.

3
của nhà nước là hoạt động dịch vụ cho xã hội và công dân. Từ khi xuất hiện
tới nay, nhà nước vẫn giữ hai chức năng chủ yếu là chức năng cai trị xã hội
và chức năng phục vụ xã hội (theo quan điểm Marxist); ở mỗi một giai đoạn,
ở các chế độ chính trị khác nhau có thể người ta nhấn mạnh chức năng này
hoặc chức năng khác. Nhưng nhìn chung, quan niệ
m về chức năng của nhà
nước giữa các thời đại, giai cấp vẫn không có những sự khác biệt cơ bản.
Trong bối cảnh hiện nay, việc đánh giá năng lực của Nhà nước không
chỉ còn đo bằng hiệu quả quản lý mà chủ yếu bằng kết quả những phúc lợi

Trước sự yếu kém của Nhà nước, người dân lại chú ý đến vai trò của
các tổ chức xã hội dân sự và thị trường nhiều hơn; nó hình thành mối quan hệ
giữa thị trường, nhà nước và xã hội dân sự trong cung cấp DVC. Tuy nhiên,
DVC là thứ hàng hoá mang tính đặc thù, thị trường thì chứa đựng nhiều hạn
chế (sự độc quyền, chất lượng phục vụ…) và rủi ro còn xã hội dân sự thì
không có những công cụ mang tính th
ể chế đủ mạnh để thoả mãn nhu cầu của
người dân. Điều này dẫn người ta đến chỗ nghi ngờ, vậy thì thị trường và xã
hội dân sự có thể thay thế nhà nước trong cung cấp DVC được không? Thực
tế ở các nước phát triển cho thấy nếu nhà nước giữ vai trò chi phối trong cung
ứng DVC thì hiệu quả sẽ không cao, nhưng nếu không có nhà nước cũng sẽ
thất bại. Mặc dù có nhữ
ng hạn chế nhất định, trên một số lĩnh vực cung ứng
DVC cụ thể, song thực tế cho thấy rằng chỉ có nhà nước mới có đủ khả năng
cung ứng các dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ công cộng mà không thể tư
nhân nào cũng có thể không vì lợi nhuận mà đảm nhận, và việc đảm nhận tốt
vai trò này của Nhà nước là điều kiện cho sự phát triển b
ền vững của xã hội.
Ở Việt Nam, cho đến nay nhà nước vẫn là chủ thể chủ yếu trong cung
cấp DVC. Trong xu thế hội nhập, với mục tiêu xây dựng “nhà nước của dân,
do dân, vì dân” thì việc nhà nước cung cấp các DVC phục vụ nhân dân, thúc
đẩy phát triển kinh tế, tạo ra sự phát triển bền vững là điều tất yếu. Tuy
nhiên, xuất phát từ thực trạng cung ứng DVC hiện nay cho thấy, vai trò của
Nhà nước trong cung c
ấp DVC là hết sức quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh
hiện nay khi mà khu vực tư nhân vẫn chưa đủ mạnh để có thể đảm nhận được
những lĩnh vực thiết yếu. Vì vậy, nghiên cứu các mô hình, các lĩnh vực và
phương thức cung cấp DVC của nhà nước, nghiên cứu những nét đặc thù của
Việt Nam, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng cung
cấp DVC c

trên các lĩnh vực nêu trên chưa tốt là do các cấp, ban ngành chưa làm tốt vai
trò của mình.
Từ thực trạng trên cho thấy rằng, việc nghiên cứu các mô hình, phương
thức cung cấp DVC của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần
thiết, nó góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục những
hạn chế trong cung cấp DVC của Nhà nước hiện nay.
Nhà nước dịch vụ công là v
ấn đề mới và rất phức tạp, nhận thức một
cách đúng đắn, đầy đủ vấn đề này là hết sức khó khăn. Nếu nhận thức không 1
Xem Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước (2003), Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra xã
hội hóa trên lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và thể thao, đề tài khoa học cấp Bộ.

6
thống nhất và đầy đủ về nội dung, đặc trưng, bản chất, của nhà nước dịch vụ
công sẽ dẫn tới tình trạng lúng túng, khó khăn trong nghiên cứu lý luận và
hoạt động thực tiễn. Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề Nhà nước dịch vụ
công - Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam sẽ góp phần cung cấp luận cứ
khoa học để giải quy
ết những vướng mắc vừa nêu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhà nước cung cấp DVC không phải là chủ đề mới mẻ xét về mặt lịch
sử. Cho dù cấu trúc của các nhà nước rất khác nhau giữa các châu lục và giữa
các thời kỳ nhưng lập luận về vai trò đích thực của những lĩnh vực nhà nước
và tư nhân đảm nhận lại luôn có nét tươ
ng đồng. Cho đến tận cuối thế kỷ
XIX, ở một nước công nghiệp phát triển nhất như nước Anh, công dân cũng

(mặc cho tư nhân tự do kinh doanh). Mill cho rằng chức năng cần thiết của
chính phủ chỉ nên d
ừng lại ở quyền đánh thuế, bảo hộ và chống lại sự gian
lận, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, và cung cấp một số hàng hóa và DVC như
cầu đường, kênh đào, đập nước, cảng hải đăng và hệ thống vệ sinh. Tuy
nhiên, mặc dù tin chắc vào tính ưu việt của tự do kinh doanh nhưng Mill đã
bắt đầu hướng cái nhìn sang các vấn đề xã hội, và do đó ông đ
ã đưa ra một số
lĩnh vực có tính tùy chọn cho chính phủ như bảo vệ lợi ích người tiêu dùng,
giáo dục phổ thông, y tế và bảo vệ môi trường. Đây là bước chuyển tiếp quan
trọng cho các nghiên cứu sau đó.
Mặc dù vậy, không phải mọi nhà kinh tế đều bị lập luận của Smith
thuyết phục. Karl Marx, Leonard Sismondi và Robert Owen quan tâm đến
cảnh nghèo đói, thất nghiệp và bất bình đẳng xung quanh và cố gắng đư
a ra
các học thuyết giải thích không những cho những gì họ thấy mà còn đề ra các
cách thức tổ chức lại xã hội. Trong số đó, Marx là kinh tế có ảnh hưởng lớn
trong việc ủng hộ nhà nước kiểm soát tư liệu sản xuất. Đến đây, rõ ràng rằng
thị trường chỉ luôn có hiệu quả trong một số giả định hạn chế, có nhiều vấn
để thị trường không có khả n
ăng giải quyết một cách thích đáng.
Xuất phát từ những thất bại của thị trường như các ngoại ứng, hàng
hóa công cộng, thông tin bất đối xứng hay độc quyền, đầu thế kỷ XX, Arthur

8
Pigou khởi xướng kinh tế học phúc lợi hiện đại. Đây được xem là hướng
nghiên cứu lý luận mới mẻ, lấy phạm vi can thiệp của nhà nước là đối tượng
nghiên cứu. Với các lĩnh vực thị trường có thể thực hiện được, nó cần được
ưu tiên hơn là mở rộng vai trò tác động của nhà nước; nhưng khi thị trường
bất lực, nhà nước cần lên tiếng. Đ

9
không tránh khỏi, trong những năm 1980, là sự trở lại của quan điểm tự do
dưới cái tên Chủ nghĩa tự do mới (Neo-liberalism). Đối với những người theo
trường phái này thị trường là công cụ tốt nhất để phân bổ nguồn lực, và bàn
tay vô hình chỉ mang lại điều tốt đẹp cho con người. Chủ nghĩa tự do mới
mang các đặc trưng: (1) ủng hộ tự do hóa thương mại và
đầu tư; (2) ủng hộ
cắt giảm chi tiêu công đối với các dịch vụ xã hội; (3) khuyến khích phi điều
tiết; (4) khuyến khích tư nhân hóa; và (5) thay khái niệm về hàng hóa công
cộng bằng khái niệm “trách nhiệm cá nhân”. Trường phái này gồm các nhành
chính: (1) Trọng tiền ; (2) Trọng cung; (3) Kỳ vọng hợp lý. Được sự hậu
thuẫn mạnh mẽ của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), trường phái này đang chiế
m được địa vị chi phối trong nền kinh tế
toàn cầu cũng như nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Ở nhánh nghiên cứu thứ hai. Hành chính công chỉ thực sự hình thành
vào cuối thế kỷ XIX và được đánh dấu bởi tác phẩm của Woodrow Wilson.
Trong đó, ông đã chỉ ra rằng cần phải có sự tách biệt giữa việc thiết lập các
mục tiêu chung (chính trị) với việc thực thi chúng (hành chính), hay sự tách
biệt giữa lập pháp và hành pháp. Ý tưởng này về sau được đơn giản hóa
thành "sự phân đôi giữa chính trị và hành chính". Sự phân đôi này khẳng định
hành chính công là một khoa học độc lập, và suốt từ đó cho đến cuối những
năm 1930, nhiều nhà khoa học đã xây dựng nên hệ thống các quan điểm,
nguyên tắc và mẫu hình hành chính.
Kể từ sau đó đến những năm 1970, khoa học hành chính công thoái
trào và lại trở về v
ới khoa học chính trị. Tuy nhiên, nền hành chính của hầu
hết các nước đã được xây dựng theo mẫu hình hành chính công trước những
năm 1930, còn được gọi là mô hình hành chính công truyền thống hay mô
hình thư lại (của Max Weber). Mô hình này có các đặc trưng sau: (1) Hệ

và sự kiểm soát, định hướng khách hàng và thị trường,… và thay đổi mối
quan hệ gi
ữa các cấp chính quyền".
Sự hội tụ đáng ngạc nhiên của kinh tế học và hành chính công trong
vấn đề nhà nước cung ứng dịch vụ công không phải là không có nguyên do:
Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa ngày càng diễn ra một cách sâu rộng
đòi hỏi các chính phủ phải thu hẹp phạm vi ứng xử tùy tiện. Chính phủ phải
thực hiện sự chuyển biến từ quan điểm quan liêu sang quan điểm trách

11
nhiệm; từ quan điểm quản chế sang quan điểm phục vụ; từ quan điểm chú
trọng đầu vào sang chú trọng đầu ra - kết quả thực sự; từ quan điểm khép kín
sang quan điểm phối hợp thực hiện các nhiệm vụ chung.
Thứ hai, sự thay đổi công nghệ đã mở ra những cơ hội mới cho việc
phân tách các dịch vụ và cho phép thị trường có vai trò lớ
n hơn. Chính quyền
không còn là nhà cung ứng DVC một cách đơn độc và chuyển dần sang là
người tạo điều kiện thuận lợi và điều phối.
Thứ ba, các chính phủ phình ra quá mức với mức chi tiêu lên tới gần
50% ở các nước OECD và gần 30% ở các nước đang phát triển nhưng chất
lượng dịch vụ thì lại rất kém. Trong khi đó những tiến triển trong công nghệ
và viễn thông, giáo dục, sự
tích lũy của cải nhiều hơn làm cho công dân có
thể tiếp cận thông tin nhanh chóng và đòi hỏi dịch vụ tốt hơn, công dân có
trình độ học vấn hơn, có khả năng cảm nhận chính xác hơn chất lượng dịch
vụ mà họ đáng được hưởng. Công dân muốn có tiếng nói đánh giá của mình
và trông mong dịch vụ tốt nhất với giá rẻ nhất. Điều này tạo ra sức ép mạnh
m
ẽ cách thức cung cấp DVC của chính phủ.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu ở nước ngoài như:

Switzeland;
- Keynes, John, M. (1936), Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và
tiền tệ; London: Macmillan;
- Martin, B. (1998), Các dịch vụ công và việc hiện đại hóa chúng trong
bối cảnh hội nhập ở Châu Âu; Luxembourg; Office for Official Publications
of the European Communities;
- Masse, Marcel (1993), Các bên trong quản lý ở Canada: Vai trò thay
đổi của chính phủ và dịch vụ công; Canadian Centre for Management
Development;
- O’Dwyer, Conor (2002), Dân sự hóa nhà nước thư lại: L
ời hứa
không được thực hiện của cải cách hành chính công ở Ba Lan, Slovakia và
Cộng hòa Séc; WP, University of California, Berkely;
- Pollit, C. (1993), Chủ nghĩa quản lý và dịch vụ công; Second edition,
Oxford: Blackwell;

13
- Pollit, C. và Bouchaert, G. (1995), Cải thiện chất lượng dịch vụ công
ở Châu Âu; London, Sage Publications;
- Pigou, A.C. (1920), Kinh tế học phúc lợi; Macmillan;
- Pillinger, Jane (2001), Chất lượng trong dịch vụ xã hội công cộng;
European Foundation for the Improvement of Living and Working
Conditions; Dublin, Ireland.;
- Stigliz, Joseph (1986), Kinh tế học về các dịch vụ công cộng; New
York, N.Y & London: W.W.Norton;
- Tanzi, Vito và Ludger, Schuknecht (1995), Sự lớn lên của chính
quyền và cải cách nhà nước trong những nước công nghiệp; IMF,
WP/95/130; Washington, D.C.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
- Các đề tài nghiên cứu khoa học

cứu đề tài khoa học cấp bộ Lịch sử phát triển khoa học hành chính, do Lê Thị
Vân Hạnh làm chủ nhiệm và đã nghiệm thu năm 2004.
- Về các công trình nghiên cứu chuyên khảo
Liên quan đến vấ
n đề này, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu
của các tác giả sau đây:
- Vũ Huy Từ (chủ biên), Lê Chi Mai, Võ Kim Sơn (1998): Quản lý khu
vực công, Nxb. Khoa học và kỹ thuật.
- Nguyễn Ngọc Hiến (2002): Vai trò của Nhà nước trong cung ứng
dịch vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia.
- Lê Chi Mai (2002): Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài
Nhà nước - Vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị Quố
c gia.
- Chu Văn Thành (2004): Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia.
- Đinh Văn Mậu (2002): Bàn luận về thẩm quyền hành chính và dịch
vụ công, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Võ Kim Sơn (2002): Dịch vụ công và một vài cách tiếp cận, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ c
ơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng

15
nhà nước dịch vụ công; đánh giá thực trạng cung cấp DVC của Nhà nước, đề
tài đề xuất các phương hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cung cấp DVC của
Nhà nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng

nhân dân nói chung, đặc biệt là xã hội; 2. Việc làm gì đó được thực hiện nhằm
giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3. Chính phủ và cơ quan chính phủ"
2
.
Còn cuốn Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ cho rằng dịch vụ
công được hiểu theo các nghĩa: "1. Sự tham gia vào đời sống xã hội; hành
động tự nguyện vì cộng đồng của một người nào đó; 2. Việc làm cho chính
phủ, toàn bộ người làm của một cơ quan quyền lực, toàn bộ công nhân viên
chức trong khu vực công cộng của quốc gia; 3. Việc mà chính quyền làm cho
cộng đồng củ
a mình; sự bảo vệ của cảnh sát, thu dọn rác ; 4. Một cơ sở
công ích của địa phương; 5. Nghĩa vụ của một người đối với nhà nước"
3
. 1
Xem: Từ điển Petit Larousse, Librairie Larousse, 1995, tr. 934.
2
Xem: Từ điển Oxford (2000), tr. 1024.
3
Xem: Jay M. Shafrizt (2002), Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ. 2002. Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr. 772.

17
Từ quan niệm và cách tiếp cận của nước ngoài chúng ta thấy DVC có
các đặc trưng cơ bản như: (1). Là những hoạt động gắn với chính phủ, hoặc là
những hoạt động của tư nhân nhưng được chính phủ ủy quyền, quản lý; (2).
Các hoạt đồng này hướng tới lợi ích của cộng đồng; (3). Là các hoạt động
không lấy lợi nhuận làm mục tiêu chủ yếu (hoặc phi lợi nhu

nước vẫn phải có trách nhiệm đứng ra cung ứng, nhằm bảo đảm sự điều tiết,
kiểm soát; và đáp ứng các nhu cầu về DVC của xã hội và công dân.
Ở loại hình dịch vụ thứ hai. Trong quá trình thực hiện chức năng quản
lý nhà nước, sẽ xuất hiện các quan hệ mang tính chất hành chính giữa công
dân, tổ chức với Nhà nước. Đây là những DVC mà cơ quan quản lý nhà nước
có trách nhiệm phải cung
ứng cho công dân. Theo đó, Nhà nước sử dụng
quyền lực công thông qua các hoạt động như: cấp phép, chứng thực, hộ
tịch, theo yêu cầu của người dân, và các hoạt động này được xem như một
dịch vụ mà Nhà nước cung ứng cho công dân. Đây là hoạt động mang tính
chất đặc thù, nó gắn với quyền lực nhà nước, với chức năng quản lý hành
chính của nhà nước, nó thường được gọi là DVHCC.
DVHCC là dịch vụ
đặc thù gắn với chủ thể cung ứng đặc thù là nhà
nước, thông qua hoạt động cung ứng DVHCC Nhà nước thực hiện chức năng
quản lý của mình và phục vụ tổ chức, công dân. Tổ chức và công dân có thể
phải trả một mức phí nhất định để được thụ hưởng dịch vụ này, song khác với
các loại phí dịch vụ khác, đây là loại phí không hướng tới mục tiêu vì lợi
nhuậ
n
1
.
- Tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho
rằng DVC là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức
năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng
phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội (như cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục,
điện, nước, giao thông công cộng ). Cách hi
ểu này nhấn mạnh vai trò và trách
nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng

mua (ví dụ: giáo dục tiểu học bắt buộc, tiêm chủng )
1
.
- Tiếp cận dưới góc độ chủ thể cung ứng
Tiếp cận dưới góc độ này, các nhà nghiên cứu cho rằng có ba nhóm
dịch vụ được phân chia nhằm làm rõ vai trò của nhà nước, cũng như việc sử
dụng các nguồn lực của nhà nước, cụ thể:
• Nhóm 1: Nhóm các dịch vụ quan trọng, cốt lõi, phục vụ chung
cho xã hội và thiếu nó, mọi hoạt động của xã hội sẽ bị ả
nh hưởng. Đây 1
Xem: Phạm Quang Lê (2002), Quan niệm về dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong cung
ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, trong Nguyễn Ngọc Hiến. 2002. Nhà nước trong cung ứng
dịch vụ công- Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 30-31.

20
là những dịch vụ do nhà nước đảm nhận từ việc tổ chức cung cấp và
chi trả. Chi phí cung cấp các dịch vụ này được trả qua thuế.
• Nhóm 2: Nhóm dịch vụ do nhà nước, thị trường và tư nhân cùng
đảm nhận. Những dịch vụ này về cơ bản nhà nước vẫn phải đảm bảo
việc cung cấp cho xã hội, song Nhà nước cũng có thể ủy quyền cho các
thành phần ngoài nhà nước cung
ứng dưới nhiều hình thức. Trong
nhóm này có sự đan xen giữa công và tư; chi phí cho việc cung cấp
này được trả theo nhiều cách (một phần hoặc toàn phần), trong đó có
cả việc chi trả theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường.
• Nhóm 3: Những dịch vụ mang tính chất cá nhân, cho một nhóm
người hoặc từng thành viên riêng lẻ trong xã hội. Dịch vụ này do thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status