HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài: KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN, ĐẢO Ở
CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG - THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS. Hồ Tấn Sáng
Cơ quan chủ trì : Học viện CT - HC khu vực III
THPT Trung học phổ thông
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
XHCN Xã hội chủ nghĩa
UBND Uỷ ban nhân dân TẬP THỂ TÁC GIẢ
1. PGS, TS. Hồ Tấn Sáng (Chủ nhiệm) Học Viện CT - HC khu vực III
2. TS. Nguyễn Thị Tâm Thư ký Học Viện CT - HC khu vực III
3. PGS, TS. Phạm Hảo Học Viện CT - HC khu vực III
4. PGS, TS. Nguyễn Hồng Sơn Học Viện CT - HC khu vực III
5. PGS, TS. Nguyễn Văn Nam Học Viện CT - HC khu vực III
6. PGS, TS. Nguyễn Thế Tràm Học Viện CT - HC khu vực III
7. TS. Đỗ Thanh Phương Học Vi
ện CT - HC khu vực III
8. TS. Trần Thị Bích Hạnh Học Viện CT - HC khu vực III
9. TS. Vũ Anh Tuấn Học Viện CT - HC khu vực III
10. TS. Ngô Văn Minh Học Viện CT - HC khu vực III
11. ThS. Phạm Quốc Tuấn Học Viện CT - HC khu vực III
12. KS. Phạm Ngọc Thể Cảng Đà Nẵng
13. CN. Trần Văn Nhất Sở NN&PTNT Thừa Thiên Huế
Chương 2:
TÌNH HÌNH KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN, ĐẢO Ở
CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THỜI GIAN QUA
53
2.1. Thực trạng nuôi trồng, khai thác - đánh bắt, chế biến 53
2.1.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản 54
2.1.2. Tình hình khai thác, đánh bắt 56
2.1.3. Vế công nghiệp chế biến thủy hải sản 58
2.2. Về ngành dịch vụ cảng biển 66
2.3. Ngành công nghiệp năng lượng và khai thác khoáng sản ven biển các
tỉnh duyên hải miền Trung 71
2.3.1. Tình hình công nghiệp năng lượng của khu vực 71
2.3.2. Tình hình khai thác khoáng sản 73
2.4. Tình hình khai thác tiềm năng du lịch biển, đảo 77
2.5. Thực trạng khai thác tiềm năng lao động các tỉnh duyên hải miền Trung 81
Chương 3:
CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG KINH TẾ BIỂN,
ĐẢO Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TỪ NAY ĐẾN 2020
91
3.1. Hệ giải pháp chung - môi trường, điều kiện 91
3.1.1. Những giải pháp có tính thể chế, cơ chế nhằm quản lý và khai thác có
hiệu quả tài nguyên kinh tế biển, đảo ở các tỉnh duyên hải miền Trung 91
3.1.2. Giải pháp về an ninh, quốc phòng - khu vực, quốc gia, từng địa phương 95
3.1.3. Có những bước đi cụ thể, chương trình cụ thể để bảo vệ môi trường
biển, bảo đảm phát triển bề
n vững hệ sinh thái biển và ven biển 99
3.1.4. Giải quyết lao động, việc làm và đào tạo nghề cho cư dân ven biển 101
3.2. Hệ giái pháp cụ thể - có tính chuyên ngành 114
3.2.1. Xây dựng kinh tế dịch vụ cảng biển hiện đại - logistis để các tỉnh
trong vùng trở thành cửa ngõ cho các quốc gia muốn tiếp cận với biển 114
thế giới cũng chỉ ra rằng, mỗi thời đại phát triển lớn đều gắn kết với các đại
dương, như: thời Phục hưng gắn với Địa Trung Hải, thờ
i Ánh sáng gắn với Đại
Tây Dương, và hiện nay là thời Phục hưng Đông Á gắn với Thái Bình Dương.
Việt Nam có một tài nguyên biển. Đó là một lợi thế địa kinh tế bởi gần
đường hàng hải quốc tế vào loại sôi động nhất thế giới, ở trung tâm vùng kinh
tế Đông Á phát triển năng động nhất. Vị thế này, có tầm quan trọng cả về an
ninh cũng như kinh tế, và càng có ý ngh
ĩa hơn do Việt Nam có các cảng nước
sâu nổi tiếng như Cam Ranh, Vân Phong, Cái Lân v.v Trước đây, mặc dù
Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách về phát triển kinh tế biển, tuy
nhiên đến Hội nghị Trung ương 4, khóa X, chúng ta mới thực sự có được Chiến
lược biển Việt Nam. Chiến lược này cung cấp một khuôn khổ phát triển biển
toàn diện đến năm 2020 với một mục tiêu rất quan trọng là: Việt Nam ph
ải trở
thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Để thực hiện các mục tiêu
của Chiến lược trong bối cảnh hội nhập, ngoài việc xác định tầm nhìn dài hạn
đối với các lĩnh vực kinh tế, bản Chiến lược đã xem phát triển kinh tế biển là
một “trục chính”. Định hướng đó được cụ thể hóa trong quan điểm kết hợp chặ
t
chẽ phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, phát triển vùng biển,
ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa; bảo vệ môi trường, trên cơ sở
tranh thủ hợp tác quốc tế và giữ vững nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.
Các tỉnh DHMT - trong tên gọi của nó đã nói lên đặ
c trưng của một khu
vực gắn liền với biển và có tiềm năng về biển, đảo. Biển và tài nguyên biển
được đánh giá là nguồn tiềm năng quan trọng nhất của các tỉnh DHMT. Bờ
biển miền Trung dài 1.172 km, ngoài khơi có hàng trăm hải đảo lớn nhỏ, trong
đó có hai quần đảo lớn là đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần
nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến thủy sản.
Công nghiệp chế biến thủy sản của miền Trung hiện nay vừa nhỏ bé,
manh mún, vừa lạc hậu; không tận dụng được nguồn tài nguyên để tạo ra nguồn
sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Theo số liệu điều tra, mới chỉ có 20% phần
trăm sản lượng thủy hải sả
n được đưa vào chế biến tại 30 cơ sở chế biến công
nghiệp rải rác khắp miền Trung, các cơ sở này trang bị kỹ thuật khá thô sơ nên
chỉ chế biến được hàng đông lạnh và hàng sấy khô rồi bán cho các công ty
nước ngoài tái chế thành sản phẩm có trị giá gia tăng. Chính quyền các tỉnh
DHMT đang khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các
dự án phát triển ngành chế biến thủy sả
n của địa phương.
Hầu hết các bãi biển đẹp nhất Việt Nam đều tập trung ở miền Trung. Bãi
biển miền Trung có cảnh quan rất sinh động, trên núi dưới biển mà ít nơi nào
có được, lại xa các khu công nghiệp nên hầu như chưa bị ô nhiễm. Các con
sông miền Trung ngắn, lượng phù sa ít nên vùng nước gần bờ của biển miền
Trung gần như còn giữ nguyên vẻ trong xanh, cát mịn và không có bùn, đó là
3
điều kiện lý tưởng để xây dựng các khu nghỉ mát, khu vui chơi với các bộ môn
thể thao và giải trí. Từ bắc vào nam, miền Trung có hàng chục bãi tắm đẹp như
bãi Đá Nhảy, Nữ Hoàng, Nhật Lệ (Quảng Bình ), Thuận An, Lăng Cô, Cảnh
Dương (Thừa Thiên Huế ), Xuân Thiều, Mỹ Khê, Non Nước (Đà Nẵng), Cửa
Đại, Bàn Than (Quảng Nam), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Hoàng Hậu, Gành Ráng
(Bình Định). Sự tiếp cận giữa núi và biển, khiế
n cho thềm lục địa miền Trung
thường dốc và hẹp, nhiều rạn đá và bãi san hô là môi trường phát triển các loài
giáp xác như tôm, mực và các loài cá cảnh nước mặn.
Mặc dù tiềm năng biển, đảo của các tỉnh miền Trung là rất lớn và trên thực
tế, từ ngày đổi mới đến nay, các tỉnh trong vùng cũng đã tập trung khai thác, phát
đàn khoa học và các tạp chí khoa học biển quốc tế, vắng bóng các nhà khoa học
4
và các nhà nghiên cứu biển Việt Nam. Đặc biệt thiếu vắng những nghiên cứu
chuyên sâu theo vùng lãnh thổ một cách có hệ thống.
Gần đây, nhất là sau khi Đảng ta có Chiến lược biển, các công trình nghiên
cứu về tiềm năng và giải pháp phát triển kinh tế biển, đảo ở Việt Nam nói chung
và các tỉnh, các khu vực có biển nói riêng đã có được kết quả đáng chú ý.
Trong đó, ở bình diện chung, đáng quan tâm là các công trình, bài viết
được công bố
trong hội thảo: “Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy sản Việt
Nam" do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn đồng tổ chức ngày 11 tháng 12 năm 2007
1
hay những bài
viết được chuyển tải trên mạng internet, đặc biệt là những bài viết đăng tải trên
website .
+ Đề cập từ phương diện lịch sử - văn hóa có: "Biển trong tư duy và
trong văn hóa Việt Nam" của TS. Nguyễn Duy Thiệu, Phó giám đốc Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam ; "Nhân đọc "Eden in the East…" đặt lại nguồn gốc dân
tộc" của Nguyễn Văn Tuấn. Nguồn Internet, www.giaodiem.com: "Địa lý biển
Đông" của Vũ Hữu San; www.vuhuusan.net: "Một số ý kiến về việc nghiên cứu
lịch sử ngành hàng hải và đóng tàu Việt Nam" của Nguyễn Đức Hùng;
www.biendonginfo: "Địa đàng ở phương Đông - Lịch sử huy hoàng của một
lục địa bị chìm ngập" của Oppenheimer, Stephen (2005), bản dịch tiếng Việt
của Lê Sĩ Giảng và Hoàng Thị Hà, Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây,
Hà Nội, Việt Nam; "Tranh chấp biển
Đông và vai trò của Liên hiệp quốc" của
nhóm tác giả Dương Danh Huy - Phạm Thu Xuân - Nguyễn Thái Linh - Lê
Vĩnh Trương - Lê Minh Phiếu
đến việc xem xét, đánh giá tiềm năng kinh tế biển, đảo Việt Nam còn chưa thật
sự thống nhất và do đó, giải pháp để triển khai Chiến lược biển đến năm 2020
vẫn còn dừng lại ở những vấn đề chung hoặc có tính vĩ mô, chưa thể hiện rõ
tính đặc thù khu vực.
Ở tầm tổng kết thực tiễn hay nghiên cứu chuyên sâu, trong khu vực các
tỉnh DHMT cũng đ
ã có các công trình, những đề án và những báo cáo có liên
quan đến chủ đề nói trên.
Ngoài ra, trong từng thời kỳ hoặc hàng năm, các tỉnh, các ngành có liên
quan đã có kế hoạch và báo cáo đánh giá việc thực hiện trên từng lĩnh vực
thuộc kinh tế biển, đảo.
- Những năm gần đây, Đảng, Chính phủ đã có đường lối, chính sách thể
hiện sự quan tâm lớn đối với khu vực các tỉnh miền Trung, đặc biệt là những
Nghị quyết, quyết định có tính chuyên đề như:
+ Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về phát triển thành phố Đà Nẵng trở
thành trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ của miền Trung - Tây Nguyên.
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung trở thành động lực tác động lan tỏa khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
về việc xây dựng 5 khu kinh tế
tổng hợp và các khu công nghiệp ở ven biển với cơ chế, chính sách ưu đãi, thu
hút đầu tư trong và ngoài nước. Đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống cảng biển
để tăng cường sự phân công, hợp tác với trong và ngoài nước, khai thác tiềm
năng, lợi thế to lớn về biển.
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành TW
Đảng khóa X đã
định hướng phát triển kinh tế biển miền Trung là:
+ Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan
đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển lớn của nước ta.
thực hiện chiến lược biển ở các tỉnh DHMT từ năm 2010 đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Đánh giá tiềm năng kinh tế biển, đảo nói chung và biển, đảo khu vực
DHMT nói riêng và phân tích góp phần làm sáng tỏ những quan điểm định hướ
ng
cho việc phát triển kinh tế biển, đảo ở các tỉnh DHMT từ năm 2010 - 2020.
- Đánh giá thực trạng tình hình khai thác và phát triển kinh tế biển, đảo
các tỉnh DHMT trong thời gian qua (đến năm 2010).
- Đề xuất những giải pháp (từ quy hoạch đến việc triển khai thực hiện các
dự án) nhằm khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng kinh tế biến đảo ở khu
vực trong thời gian từ 2010 đến 2020.
7
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ áp dụng các
phương pháp phỏng vấn, tọa đàm chuyên gia, thống kê, điều tra khảo sát thực
tế, phân tích - tổng hợp các tài liệu, dữ liệu.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Các số liệu đánh giá tiềm năng và khai thác tiềm năng
kinh tế biển, đảo chủ yếu từ tỉnh Quảng Bình đến tỉnh Khánh Hòa - Khu vự
c
Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III đảm nhận giảng dạy, nghiên cứu
phục vụ giảng dạy).
- Về thời gian: Thực trạng tình hình có liên quan, tập trung là thời kỳ đổi
mới (đến năm 2009 - 2010).
6. Kết quả nghiên cứu
Bản báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài và bản kỷ yếu các bài
viết của các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài.
Sản phẩm có thể được sử d
ụng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch
6. Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ
, cứu nạn; và 7. Kinh tế đảo. Đây có thể xem là
quan niệm kinh tế biển theo nghĩa hẹp.
2) Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, đảo tuy
không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu
tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven
biển, bao gồm: 1. Đóng và sử
a chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp
chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); 2. Công nghiệp khai thác khoáng sản biển
và chế biến dầu khí; 3. Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; 4. Cung cấp dịch vụ
biển; 5. Thông tin liên lạc (biển); 6. Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào
tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi
trường biể
n.
Như vậy, có thể xem cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động
kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai
thác biển ở dải đất liền ven biển là quan niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng .
Cách quan niệm về kinh tế biển như trên, về cơ bản cũng thống nhất với
thông lệ quốc tế. Ví dụ, trong thố
ng kê hàng năm về kinh tế biển của Trung
Quốc, tập hợp trong khái niệm về kinh tế biển bao gồm: hải sản, khai thác dầu
và khí tự nhiên ngoài khơi, các bãi biển, công nghiệp muối, đóng tàu biển, viễn
thông và vận tải biển, du lịch biển, giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi
trường biển, dịch vụ biển…
9
Khác với kinh tế biển, kinh tế vùng ven biển là toàn bộ các hoạt động
kinh tế ở dải ven biển (có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven
biển hoặc cũng có thể là các tỉnh ven biển - có biên giới đất liền tiếp giáp với
biển), bao gồm cả các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp và dịch vụ
địa thành công. Trong những
yếu tố tạo ra sự phát triển liên tục, tốc độ cao của Trung Quốc có bài học về
biển và chiến lược biển, đặt đúng vị trí của biển.
Một nước gần chúng ta hơn là Singapore cũng là một điển hình.
Singapore phát triển bắt đầu từ biển, tập trung xây dựng thương cảng trung
chuyển quốc tế rất lớn. Có giai đoạn dài, thương c
ảng trung chuyển Singapore
hứng hầu hết các nguồn hàng trung chuyển ở khu vực…
10
Khi nhận thức đúng, có chiến lược đúng và đi đúng hướng về khai thác
tài nguyên biển thì sức mạnh kinh tế sẽ tăng lên rất nhanh.
Ở tầm nhìn bao quát nhất, sự quan tâm nhiều hơn đến biển và khai thác
hợp lý tài nguyên biển, đảo trên toàn thế giới, trong giai đoạn hiện nay có thể
được lý giải bởi những vấn đề có tính quy luật sau:
Thứ nhất, trong quá trình phát triển kinh tế nóng, nguy cơ cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên, nguyên, nhiên liệu đang trở thành căn bệnh có tính toàn
cầu, nhất là ngày nay có những nguồn nguyên, nhiên liệu không thể tái sinh
được thì nguy cơ cạn kiệt đã rõ. Do đó, các nước ngày càng quan tâm tới biển.
Cũng chính sự quan tâm đến biển dẫn tới một hệ quả là sự tranh chấp chủ
quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán liên quan đến biển ngày càng diễn ra
gay gắt. Giữa các nước có biển cũng tranh chấp, nước có biển và n
ước không
có biển cũng tranh chấp. Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ
của đại dương", cả loài người đang hướng ra biển.
Thứ hai, cư dân trên trái đất đang tăng rất nhanh. Đầu năm 2006, theo
thống kê toàn thế giới có 6,5 tỷ người. Dự báo đến năm 2015 dân số thế giới
khoảng 7,5 tỷ người. Sự phát triển của dân số thế giới làm cho không gian kinh
t
ế truyền thống đã trở nên chật chội. Nhiều nước đã bắt đầu quay mặt ra biển và
cũng không bờ”. Biển là nơi của nước sâu, sóng to, bão lớn, d
ễ dàng làm chết
con người. Không ít người cho rằng, đặc tính văn hóa của người Việt từ bao đời
nay là có tâm lý sợ biển. Tuy, Việt Nam có hàng ngàn đảo lớn nhỏ, nhưng
người Việt xưa nay vẫn muốn tìm vùng đất ven bờ, nơi không có sóng to, nước
mạnh để lập làng mưu sinh. Họ đã đứng trước biển, ngó ra biển mà chưa nhìn
về biển, chưa có tham vọng làm chủ
được tài nguyên và nguồn lực kinh tế nơi
biển cả. Xưa nay, nếu có tham gia đánh bắt ở ven hay xa bờ, người Việt cũng
đều phải kiêng kỵ, cúng kiến rất cẩn thận v.v. Trải qua nhiều năm, đến nay tín
ngưỡng của ngư dân vùng biển được biểu hiện rất đa dạng và phong phú, mà
chưa thấy giấy mực nào kể hết… Phải chăng, tư duy đất liền và tâm lý sợ
biển
này cũng là đặc tính văn hóa nảy sinh và biểu hiện rất thực từ điều kiện kinh tế,
kỹ thuật (kim khí) của nền nông nghiệp trồng trọt từ hơn ngàn năm của người
dân Việt?
1
Ngược lại, với quan điểm trên, tồn tại quan điểm cho rằng, nước Việt
Nam nằm trải dài bên bờ Thái Bình Dương, trong lục địa lại nhiều sông ngòi,
cho nên lịch sử dân tộc cũng gắn liền với lịch sử khai thác những gì có thể có từ
tiềm năng biển, đảo; là phát triển hoạt động hàng hải và đánh bắt tôm, cá, thủy
hải sản nói chung phục vụ đờ
i sống… và, trong lịch sử của dân tộc ta cũng có
nhiều cuộc chiến thắng chống quân xâm lược bằng thủy quân. Do đó, việc nhận
thức và có giải pháp cụ thể để khai thác tiềm năng kinh tế biển, đảo là nhu cầu
khách quan cũng là những cách thức mà các thế hệ người Việt Nam đã làm
trong các giai đoạn phát triển của đất nước.
Nhóm tác giả đề tài này nghiêng về quan điểm thứ
hai và luận chứng vấn
ết trên có cơ sở đúng, thì Vịnh Bắc Bộ và biển Đông
không những chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mà còn
có thể chứa đựng cả những chứng cứ lịch sử về nguồn gốc dân tộc Việt nói
riêng và nguồn gốc các dân tộc sống ở vùng Đông Nam Á nói chung. Nói cách
khác, tiếp cận từ góc độ khảo cổ học và sử học sẽ là một trong những hướng
góp phầ
n trả lời những câu hỏi đặt ra.
Theo đó, từ những kết quả khảo cổ học cho thấy, hàng ngàn năm TCN,
tiền nhân chúng ta đã quen thuộc với môi trường đại dương. Giáo sư Wuylliam
Meacham từng viết một bài báo cáo khoa học đăng trong tập san Asian
Perspectives vào năm 1984, kết luận rằng tiền nhân vịnh Bắc Bộ đã từng sống
ngoài biển thời Băng hà, cách đây khoảng 14.000 năm. Wilheim G.Solheim còn
đ
i xa hơn khi cho rằng 6.000 năm trước, cư dân Đông Nam Á đã mạo hiểm ra
khơi vì nhu cầu di chuyển. Gió bão và hải lưu của biển Đông và Thái Bình
Dương đã cuốn trôi một số người tới Nhật Bản, trong khi các nhóm khác bị
quét sang Philipin, Nam Dương. Tiếp theo, những nhóm dân chúng di chuyển
tới các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương và sang Madagascar
1
.
1
Sumérien et Océanien, Collection Linguistique, Paris, 1929. Dẫn theo: Xưa & Nay, số 131 (179), tháng 1/2003.
13
Chúng ta còn thấy rất rõ cuộc sống biển khơi của tiền nhân qua những
hình trang trí trên mặt và tang các trống đồng Đông Sơn và tâm thức biển qua
câu chuyện Lạc Long Quân có nguồn gốc Rồng ở biển, Thục An Dương Vương
được Thần Kim Quy rẽ nước trở về với Mẹ Biển, hoặc chuyện người xưa xăm
hình thuồng luồng trên cơ thể, cũng như những ngôi nhà hình thuyền và hình
. Píetri còn đưa
một số liệu chỉ riêng Trung Kỳ, tức là trên 1.200km bờ biển, đã có 300.000
người chuyên sống về nghề đánh cá và những kiểu đi biển “táo tợn nhất đồng
thời nguyên sơ nhất” như hình ảnh một ngư dân Hà Tĩnh mặc độc một chiếc
khố cưỡi trên thân cây bương lao ra biển từ 6 đến 10 hải lý để câu cá từ sáng
1
Malcolm F.Farmer: Origin and Development of Water Craft. Bài in trong báo Anthropological Journal of
Canada 7 (2), 1969, tr 22-26. Dẫn theo Vũ Hữu San: Vịnh Bắc bộ, nơi mở đầu hàng hải. Bài in trong Xưa &
Nay, số 131 (179), tháng 1/2003
2
Píetri: Ba loại thuyền buồm ven biển Đông Dương ít được biết đến. Bài đăng trong Tạp chí Xưa & Nay, số
134 (182), tháng 2/2008.
14
tinh mơ cho tới tối mịt mới về để chứng minh rằng những nhận định về “người
An Nam sợ biển”, “họ chỉ ra biển khi biển đẹp hoặc khi thời tiết trong ngày có
vẻ không thay đổi”, họ chỉ là “những thuỷ thủ ít bạo gan” đều là sai lầm.
Nếu để ý sẽ dễ nhận thấy, các loại thuyền đánh cá dọc ven biển nước ta
thật là phong phú, đa d
ạng: từ thuyền thúng chài tròn trịa đến ghe câu to lớn của
Quảng Bình, ghe bầu của xứ Quảng, thuyền lưới ở vịnh Hạ Long. Kỹ thuật đóng
thuyền của dân tộc ta cũng đã một thời khiến cho các nước phải thán phục. Cho
đến cuối thế kỷ XIX, trong con mắt của người Hoa, nhiều loại thuyền của Việt
Nam thuộc loại “mạnh, nhanh, linh hoạt và hoàn hảo”
1
. Nhưng phải nói rằng,
nền công nghiệp đóng thuyền Việt Nam cũng chỉ được hình thành từ thế kỷ
XVII, XVIII và lúc đó ông cha ta đã bắt đầu học tập kỹ thuật đóng thuyền của
các nước phương Tây. Nhiều cơ sở đóng thuyền hình thành ở bờ nam sông Đồng
tháng 1/2003
2
Li Tana: Sđd.
15
Với lợi thế nằm ven biển Đông nên giao thương giữa nước ta với các
nước khác trên thế giới sớm được hình thành. Từ giữa thế kỷ II TCN, cư dân
sinh sống ven biển các quốc gia Phù Nam, Lâm Ấp, Văn Lang đã có giao lưu
buôn bán với tàu thuyền các nước Trung Quốc, Ấn Độ. Đặc biệt, các nhà khảo
cổ học còn phát hiện được chiếc huy hiệu in hình Antonio ở An Giang, chứng
tỏ rằng, ngay từ
những thế kỷ đầu công nguyên, tiền nhân chúng ta đã xác lập
được quan hệ buôn bán với cả thương nhân La Mã.
Từ giữa thế kỷ VII trở đi, thuyền buôn các nước vùng Tây Á như Ả
Rập, Ba Tư thường xuyên qua lại buôn bán với Trung Quốc. Trên con
đường này họ đã ghé vào các cảng Thị Nại và Đại Chiêm của Champa để trao
đổi mua bán. Một số mảnh gốm Ixlam có nguồn gốc từ vùng Trung Đông, một
số loạ
i đồ đựng bằng thuỷ tinh màu có nguồn gốc Tây Á, cùng với rất nhiều
mảnh gốm thời Đường của Trung Quốc đã được phát hiện tại Cù lao Chàm và
lòng đất Hội An. Đến thế kỷ IX con đường tơ lụa hoặc con đường gồm sứ trên
biển Đông hình thành với điểm cực tây là Roma, qua các hải cảng vùng Trung
Cận Đông, men theo bờ biển phía nam Ấn Độ đến vịnh Thái Lan rồi vào các
thương cảng Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Vân Đồn, đến vùng biển Nam Trung
Hoa và Nhật Bản.
Từ thế kỷ XVI trở đi, các thương cảng ở nước ta càng trở nên nhộn
nhịp, nổi tiếng nhất là thương cảng Hội An ở Đàng Trong và Phố Hiến (Hưng
Yên) ở Đàng Ngoài. Riêng với Đàng Trong, kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn
giữ, các chúa Nguyễn đã rất tích cực trong việc mở cảng chiêu thươ
ng tại Hội
chính sách ngoại kiều, ngoại thương thoáng mở, nhưng tiếc rằ
ng chỉ được
một thời gian lại bị suy thoái mà nguyên nhân của nó có cả chủ quan lẫn
khách quan…
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt từ khi Cách mạng
tháng Tám thành công, để phục vụ công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia, các tổ
chức dân quân ở các làng xóm, thôn xã ven biển được khẩn trương xây dựng.
Quân và dân ta vừa bám sông, bám biển, đánh chìm nhiều tàu thuyền của địch,
vừa lợi dụng sông bi
ển để tổ chức vận tải phục vụ kháng chiến. Dọc tuyến vận
tải ven biển, những đơn vị chuyên làm nhiệm vụ vận tải đường biển được tổ
chức, nhất là đội vận tải đường biển của Liên khu 5 trong những năm cuối của
cuộc kháng chiến đã phát triển đến 200 người với 130 chiếc thuyền, trong đó có
khoảng mộ
t nửa là thuyền lớn - chở được 15 đến 20 tấn. Từ năm 1948 đến
1954, đội vận chuyển được gần 3.000 tấn hàng hóa các loại cho các tỉnh cực
Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Lợi dụng các dòng sông, suối, ta tổ
chức gần 12 nghìn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè, mảng, vận chuyển lương
thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm thiết yếu tiếp tế, góp phần làm nên th
ắng
lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực
dân Pháp.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (thế kỷ XX), dưới sự lãnh đạo sáng
suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã liên tiếp
giành được những thắng lợi to lớn cả trên đất liền và trên sông biển, tiến tới giải
phóng miền Nam, thống nhấ
t đất nước. Hải quân nhân dân Việt Nam thực sự là
lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường biển, phối hợp
chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao - vừa sản xuất vừa chiến đấu. Đường Hồ Chí Minh trên
kinh tế cao và hàng trăm loài được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới, 1.600
loài giáp xác, 2.500 loài thân mềm. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 3
triệu tấn/năm. Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có
dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú, có thể khai thác 45.000 -
50.000 tấn.
Bên cạnh ý nghĩa địa lý và sinh thái, biển Đông còn có ý nghĩa kinh tế
cực kỳ quan trọ
ng đối với Việt Nam. Vùng biển của Việt Nam là một vùng giàu
tiềm năng.
Dọc bờ biển có khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng các hải cảng, trong
đó có những vị trí có thể xây dựng hải cảng cỡ quốc tế, trở thành một cảng
trung chuyển quốc tế có tầm cỡ.
Việt Nam có 125 bãi biển lớn và nhỏ, có cảnh quan đẹp, trong đó có trên
20 bãi biển đạt tiêu chuẩ
n quốc tế, có sức thu hút du lịch quốc tế lớn.
Tiềm năng các mỏ quặng ở thềm lục địa nước ta còn khá lớn nhưng do
kinh phí và trình độ của chúng ta còn hạn chế chưa có điều kiện tìm kiếm thăm
dò vùng ngập nước nên chưa khẳng định được.
18
Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ
lượng dầu dưới đáy biển Đông. Có thể khai thác từ 30 - 40 ngàn thùng/ngày
(mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn
thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có
khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m
3
/năm
Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, điricon, thạch
anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm. Muối ăn chứa trong
nước biển bình quân 3.500gr/m
trước mắt. Nghị quyết xác định phát triển kinh tế biển là mục tiêu chiến lược
nằm trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày 18/3/1995, Thủ tướng Chính ph
ủ đã ban hành Chỉ thị số 171-CT/TTg về
phát triển kinh tế biển.
19
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (7/1996), lần đầu tiên Đảng ta
đã tập trung thời gian bàn về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là
các biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm an ninh quốc
phòng. Đại hội VIII đã khẳng định một cách đúng đắn vị trí quan trọng, vị thế
chiến lược của biể
n và vùng ven biển: "Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến
lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở
lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài". Trên
cơ sở đó, Đại hội đã đề ra chủ trương: "Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế
của vùng biển và ven biển, kết hợp v
ới an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát
triển mạnh KT - XH, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc"
1
.
Đến Đại hội IX, Đảng ta đã xác định rõ, cụ thể hơn về hướng phát triển
mạnh kinh tế biển kết hợp chặt chẽ với bảo vệ an ninh trên biển: “Xây dựng
chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của
hơn 1 triệu km
2
thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển. Đẩy mạnh nuôi, trồng, khai thác,
chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu
thuyền vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X, Nxb CTQG, H, 2006, Tr. 225.
20
khai thác phát triển kinh tế biển, đồng thời bảo đảm toàn vẹn chủ quyền, an
ninh của đất nước.
Cụ thể hóa các quyết sách đã đề ra, từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã
ban hành và thực hiện hàng loạt các chương trình đầu tư phát triển kinh tế biển
và các đạo luật để quản lý có hiệu quả tài nguyên biển.
- Thực hiện Nghị quyết 03-NQ/TW (ngày 06/05/1993) của Bộ chính trị
“v
ề một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt” và Chỉ
thị 20-CT/TW (ngày 22/09/1997) của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh phát triển
kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, kinh tế biển nước ta
trong thời kỳ này đã có bước phát triển mạnh. Những ngành kinh tế có liên
quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng tàu và sửa chữa tàu biển, chế biế
n
dầu khí, chế biến thủy, hải sản,v v bước đầu được phát triển. Nhiều ngành kinh
tế biển phát triển tốt… Năm 2004, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng
47% GDP của cả nước, năm 2005 tỷ lệ đó là hơn 48%.
Trong các ngành kinh tế biển và ven biển, kinh tế diễn ra trên biển chiếm
tới 98%. Trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%, hải sản 14%, vận tải biển và
dịch vụ c
ảng biển 11% v v. Tại các vùng ven biển, đã có gần 30 khu chế xuất,
khu công nghiệp tập trung và hơn 80 cảng biển lớn nhỏ có tổng lượng hàng hóa
thông qua gần 100 triệu tấn/năm. Trong tổng số 125 bãi biển có thể khai thác
cho du lịch, nghỉ mát, đã khai thác được khoảng 30 bãi biển vào mục đích du
lịch. Hàng năm các khu vực này thu hút khoảng gần 15 triệu lượt khách, trong
đó có hơn 3 triệu khách nước ngoài. Trên một số đảo, đến nay đ
ã có bước phát