Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
PHÂN TÍCH NGÀNH ĐƯỜNG SẮT
VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thanh Liêm
Sinh viên : Thái Thị Ngọc Diệp
Lớp : SDMBA 1
Thẻ sinh viên số : 11752325
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2012
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
Nội dung:
1. Giới thiệu ngành
1.1Định nghĩa ngành
1.2Mô tả đặc điểm cơ bản của ngành
1.2.1 Hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của ngành
1.3Lịch sử phát triển của ngành và chu kỳ phát triển
2. Phân tích môi trường vĩ mô và môi trường toàn cầu
2.1Phân tích môi trường vĩ mô
2.1.1 Phân tích nguồn vốn
2.1.2 Phân tích nguồn lao động
2.1.3 Phân tích nguồn tài nguyên thiên nhiên
2.1.4 Phân tích nguồn lực khoa học công nghệ
2.2Phân tích môi trường toàn cầu
3. Phân tích ngành
3.1Phân tích tính hấp dẫn của ngành.
3.2 Phân tích Mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các ngành vận tải
trong xã hội, các thành phần kinh tế
3.3Phân tích quan hệ cung cầu trong vận tải đường sắt trong nền kinh
tế thị trường.
3.4
Phân tích thực trạng hoạt động của ngành Đường sắt Việt Nam
• Hà Nội - Hải Phòng
• Hà Nội - Lào Cai
• Hà Nội - Đồng Đăng
• Hà Nội - Quán Triều
• Kép-UôngBí-HạLong
• Lưu Xá - Kép
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
1.2.1 Hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của ngành Ðường sắt Việt
Nam
a. Hệ thống tổ chức
Từ năm 1954 đến 1989, Tổng cục đường sắt là một cơ quan Nhà nước phụ
trách vận tải đường sắt theo mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp
Từ năm 1989, Tổng Cục Ðường sắt đã được cải tổ thành doanh nghiệp
của Nhà nước có tên là Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam, hoạt động theo các
nguyên tắc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Liên
hiệp Ðường sắt Việt Nam bao gồm 4 khối nghiệp vụ chức năng là Khối vận
tải, Khối công nghiệp, Khối quản lý cơ sở hạ tầng và Khối dịch vụ, đồng
thời vẫn chịu trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước
với giao thông vận tải đường sắt.
Theo địa lý hành chính, Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam chia thành 3 khu
vực. Xí nghiệp Liên hợp Vận tải Ðường sắt Khu vực 1 (Liên hợp 1) quản lý
và khai thác mạng lưới đường sắt ở phía Bắc từ biên giới giáp với Trung
Quốc ở phía Bắc tới Đồng Hới; Xí nghiệp Liên hợp Vận tải Ðường sắt Khu
vực 2 (Liên hợp 2) từ Đồng Hới tới Diêu Trì và Xí nghiệp Liên hợp Vận tải
Ðường sắt Khu vực 3 (Liên hợp 3) từ Diêu Trì vào thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam đặt tại Hà Nội, chịu trách nhiệm
giám sát và phối hợp hoạt động chạy tàu và kinh doanh của 3 Liên hợp.
Ðồng thời cũng chịu trách nhiệm về lập kế hoạch đầu tư, định hướng phát
triển, hiện đại hoá ngành đường sắt.
và thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng
đường sắt do Nhà nước giao được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của
Tổng công ty.
Các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty có quyền tự chủ
kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa
vụ với Tổng công ty theo quy định của Điều lệ. Tổng công ty phê duyệt kế
hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch và quyết toán tài chính, quy định mức
trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi theo quy định chung, trích một
phần quỹ quỹ khấu hao cơ bản và lợi nhuận sau thuế để thành lập các quỹ
tập trung của Tổng công ty dùng vào mục đích tái đầu tư của Tổng công ty.
Các doanh nghiệp loại này gồm có:
Các doanh nghiệp Nhà nước giữ tư cách pháp nhân và giữ 100% vốn điều lệ
(gồm 20 công ty công ích quản lý đường sắt và thông tin tín hiệu thuộc hạ
tầng đường sắt). Tổng công ty quản lý vốn và tài sản thuộc kết cấu hạ
tầng đường sắt, xây dựng kế hoạch đầu tư, quản lý sửa chữa kết cấu hạ
tầng đường sắt, đồng thời giao kế hoạch, ký kết hợp đồng với các công ty
công ích theo kế hoạch sửa chữa, bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường
sắt được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời thực hiện việc kiểm tra,
giám sát, nghiệm thu khối lượng, chất lượng sản phẩm và làm các thủ tục
để kho bạc tạm ứng, cấp phát, thanh toán cho các công ty công ích theo
khối lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành. Giá trị sản lượng công ích
hàng năm của 20 công ty công ích ước chừng 600 tỷ đồng.
Các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (gồm 3 công ty chế tạo
đầu máy toa xe và 1 công ty tư vấn) hoạt động theo Luật doanh nghiệp và
theo Điều lệ tổ chức và hoạt động được Hội đồng quản trị Tổng công ty
phê chuẩn.
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
Các công ty cổ phần hoá (gồm 23 công ty) hoạt động theo Luật doanh
nghiệp và theo Điều lệ tổ chức và hoạt động riêng.
Các doanh nghiệp
hạch toán phụ thuộc có 6 đơn vị, đặc biệt trong đó có 3 công ty tạo toàn
cơ bản của Đường sắt Việt Nam được sử dụng cho đến ngày nay.
Trong thời kỳ kháng chiến và cho tới khi thống nhất đất nước, Đường sắt
Việt Nam đã bị thiệt hại nặng nề. Sau khi đất nước thống nhất, kể từ năm
1976 hầu hết các tuyến đường sắt đã được khôi phục lại, đặc biệt là tuyến
Đường sắt Thống nhất Bắc Nam. Tuy nhiên do tình trạng thiếu vốn nên
việc phục hồi hoàn toàn vẫn chưa thực hiện được.
Sau khi chuyển đổi cơ cấu và chuyển sang cơ chế thị trường năm 1989,
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
Đường sắt Việt Nam bắt tay vào chương trình khôi phục và hiện đại hoá
đường sắt để Đường sắt Việt Nam trở thành một ngành vận tải tương đối
quan trọng của Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự tăng truởng kinh tế
của đất nước và hoà nhập với các Đường sắt trong khu vực Đông Nam Á.
Hình 1. Mạng lưới đường sắt Việt Nam trước năm 1975
Tổng công ty đường sắt Việt Nam1, với tên giao dịch thương mại là
Đường sắt Việt Nam, hoặc Vietnam Railways, viết tắt là VNR (theo
tiếng Anh) là đơn vị kinh doanh nhiều ngành nghề liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến vận tải đường sắt như công nghiệp chế tạo, xây dựng
công trình, du lịch, khách sạn nhưng vận tải hàng hoá và hành khách vẫn
chiếm vị trí then chốt.
Trụ sở của Tổng công ty đường sắt Việt Nam được đặt tại 118 đường Lê
Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, địa chỉ Website:
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
Hình 2. Mạng lưới đường sắt Việt Nam và đường sắt ASEAN
2. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ VÀ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU:
2.1Phân tích môi trường vĩ mô:
Mặc dù vận tải đường sắt là ngành kinh tế dịch vụ trong xã hội, nó cũng
chịu nhiều ảnh hưởng của đặc điểm dân tộc sinh sống trên đất nước Việt
Nam. Dù các dân tộc này nhu cầu về kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau,
nhưng có lẽ sử dụng dịch vụ vận tải đường sắt đã ăn sâu vào tâm trí người
dân Việt Nam khi xuất phát nhu cầu vận chuyển hay đi lại ở cự ly trung
tải có 2.395 người (chiếm 11,8%), trong đó nữ có 396 người (chiếm 2%).
Lực lượng lao động của Đường sắt Việt Nam nói chung đã được thử thách
qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc cũng như trong cơ chế thị
trường, nhưng số lượng quá nhiều, tuổi đời cao, việc tiếp thu và làm chủ
kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, tin học, ngoại ngữ còn nhiều hạn
chế. Hiện nay Tổng giám đốc và Công đoàn Đường sắt Việt Nam tổ chức
cuộc vận động “Người công nhân đường sắt thời kỹ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá” với khẩu hiệu “ĐOÀN KẾT, KỶ LUẬT, SÁNG TẠO, HIỆU QUẢ” [3]
nhằm giáo dục ý thức phấn đấu cho mỗi cá nhân; xây dựng đội ngũ quản
lý và chuyên gia giỏi; xây dựng đội ngũ thợ lành nghề; công nhân có trình
độ học vấn cao đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh
2.1.3 Nguồn tài nguyên thiên nhiên
Là ngành kinh doanh dịch vụ vận tải, nguồn tài nguyên thiên nhiên của
Đường sắt Việt Nam không có gì đáng kể, ngoại trừ dải đất rộng trung
bình 20 mét trên đó đặt các tuyến đường sắt chạy giữa các vùng kinh tế
quan trọng của đất nước. Dải đất này được các công ty viễn thông bên
ngoài đánh giá là trục xương sống chiến lược cho viễn thông của Việt Nam,
trên đó họ có thể đặt đường cáp quang viễn thông. Thực tế Đường sắt Việt
Nam đã khai thác thế mạnh này qua việc cho một số công ty viễn thông
thuê đất để đổi lấy một phần dung lượng cáp quang do các công ty này đặt
trên đó.
2.1.4 Nguồn lực khoa học-công nghệ
Nguồn lực khoa học công nghệ của Đường sắt Việt Nam hiện đang ở mức
trung bình thấp so với ngành đường sắt của các nước trong khu vực. Như
đã nói ở trên, số lượng cán bộ đại học và trên đại học thấp, chất lượng
không mạnh. Đường sắt Việt Nam cũng không có cơ sở nghiên cứu khoa
học công nghệ được đầu tư theo chiều sâu.
2.2 Phân tích môi trường toàn cầu
Với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện giao thông vận tải đường
bộ (ô tô) và đường không (máy bay) trong giai đoạn cuối thế kỷ 20, đã
thông tin, để nâng cao trình độ quản lý điều hành vận tải và chất lượng
phục vụ khách hàng.
3. PHÂN TÍCH NGÀNH
3.1 Phân tích tính hấp dẫn của ngành:
Là một ngành vận tải đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân, phương hướng phát triển của Đường sắt Việt Nam cần được
đặt trong chiến lược phát triển hệ thống giao thông vận tải thống nhất
của Việt Nam, bao gồm đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển và
đường không phục vụ chiến lược “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của đất
nước theo các Nghị quyết của Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam và phải
được thông qua ở cấp Chính phủ. Phương hướng phát triển của Đường sắt
Việt Nam được nêu trong Nghị quyết của Đại hội Đảng IX và Quy hoạch
phát triển ngành đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyêt.
Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
2001 – 2010”, phần Định hướng phát triển các ngành,mục Kết cấu hạ
tầng có nêu: “Về đường bộ, hoàn thành nâng cấp quốc lộ 1 và xây dựng
đường Hồ Chí Minh. Nâng cấp, xây dựng các tuyến quốc lộ khác, chú trọng
các tuyến đường biên giới, các tuyến đường vành đai và tuyến đường nối
các vùng tới các trung tâm phát triển lớn, các cầu vượt sông lớn, các tuyến
nối với các nước thuộc tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng. Phát triển, nâng
cấp hệ thống giao thông trên từng vùng, kể cả giao thông nông thôn, bảo
đảm thông suốt quanh năm. Nâng cấp hệ thống đường sắt hiện có, mở
thêm tuyến mới đến các trung tâm kinh tế. Hoàn thiện hệ thống cảng
biển quốc gia và mạng lưới các cảng địa phương theo quy hoạch. Phát triển
vận tải thuỷ, tăng năng lực vận tải biển gắn với phát triển công nghiệp
đóng và sửa chữa tàu. Hiện đại hoá các sân bay quốc tế, nâng cấp các sân
bay nội địa” [8].
Ngày 07 tháng 01 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Quy
tổng cung, tổng cầu và giá cả cân bằng quyết định. Sự tăng trưởng kinh
tế chỉ được thực hiện khi chủ thể quản lý biết sử dụng tối đa mối quan hệ
giữa cung và cầu.
Vận dụng quan điểm cung cầu trong nền kinh tế thị trường trên đây,
Đường sắt Việt Nam sử dụng tối đa mối quan hệ giũa cung và cầu, tăng giá
vé vận chuyển hành khách đến 15% trong các dịp Tết, Hè là khi cầu vượt
cung, giảm giá vé hành khách đến 15% trong các dịp cung vượt cầu nhằm
điều chỉnh thị trường vận tải hành khách bằng đường sắt.
3.4 Phân tích thực trạng hoạt động của ngành Đường sắt Việt Nam
3.4.1 Phân tích doanh thu vận tải
Trong những năm gần đây, doanh thu vận tải của Đường sắt Việt Nam
tăng trưởng liên tục. Sau đây là đồ thị thể hiện doanh thu vận tải của
Đường sắt Việt Nam trong những năm gần đây [5]. Qua các bảng số liệu và
đồ thị này, có thể thấy được các xu hưóng tăng trưởng về doanh thu vận
tải như sau:
- Trước năm 2000 doanh thu của Đường sắt Việt Nam biến động không 24
thực sự ổn định (bền vững), thậm chí năm 1998 tỷ lệ tăng trưởng đạt giá
trị âm 1,75%.
- Từ năm 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng ổn định, cao nhất là năm
2000 đạt 24,51%, thấp nhất là năm 2001 cũng đạt 7,19%. Trong các
tháng đầu năm 2004 tỷ lệ tăng trưởng cùng kỳ theo tháng thấp nhất đạt
5,27% (tháng Bảy), cao nhất đạt 19,04% (tháng Năm),không có tỷ lệ tăng
trưởngâm hứa hẹn đạt tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cả năm trên 10%.
3.4.2 Phân tích cơ sở hạ tầng
Như đã nói ở trên, cơ sở hạ tầng đường sắt nhìn chung còn yếu kém và
chưa vào cấp. Lãnh đạo Đường sắt Việt Nam đã chọn những trọng điểm
cần sửa chữa nâng cấp về cơ sở hạ tầng, đề đạt với Chính phủ cho sử
dụng vốn ODA của Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc để thực hiện các dự án
đem lại hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao an toàn, tốc độ chạy tàu và
chất lượng phục vụ hành khách trong điều kiện chưa thể nâng cấp đồng
quyết xong).
Chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các phương thức vận tải khác với đủ
mọi thành phần kinh tế.
Môn Quản trị chiến lược – Sinh viên: Thái Thị Ngọc Diệp
Tăng trưởng của Đường sắt Việt Nam chưa khẳng định được tính
bền vững (mức tăng sản lượng vận chuyển có lúc thấp hơn mức tăng
doanh thu)
3.4.3.2 Nguyênnhân
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra nguyên nhân của những hạn
chế nêu trên:
• Công nghệ đầu máy toa xe lạc hậu: dù gần đây có nhập được một
số đầu máy và đóng thêm toa xe mới, nhưng phần lớn số đấu máy
toa xe của Đường sắt Việt Nam đã hoạt động trên 20 năm.
• Kết cấu hạ tầng lạc hậu: chất lượng hạ tầng chưa vào cấp, khổ
đường hẹp (1.000 mm) hạn chế tốc độ và sự ổn định của các đoàn
tàu, các tuyến đường sắt đều sử dụng đường đơn nên hạn chế năng
lực thông qua, thông tin tín hiệu lạc hậu cản trở việc áp dụng công
nghệ thông tin trong quản lý và điều hành chạy tàu.
• Thiếu vốn đầu tư: trong thời gian qua, giao thông đường sắt chưa
được Chính phủ và Bộ Giao thông - Vận tải coi là được ưu tiên đầu
tư
• Lao động nhiều quá mức cần thiết và có trình độ tương đối thấp,
tuổi đời cao.
• Bị tác động xấu của trình độ dân trí thấp tạI một số vùng miền
có đường sắt đi qua (nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn chạy tàu,
mất cắp và phá hoại thiết bị đường sắt).
Dù đã có quy hoạch phát triển của từng phương thức vận tải riêng rẽ,
nhưng chưa có một chính sách và quy hoạch tối ưu và dài hạn cho phát
triển hệ thống giao thông vận tải thống nhất của quốc gia (hiện có quá
nhiều cảng biển, sân bay, nhiều tuyến đường bộ cao tốc được xây dựng