MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phạm Mậu Tuyển
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tính cách là tổng hòa các quan hệ xã hội con người đặc trưng cho
trình độ hoàn thiện của chế độ xã hội. Sự phát triển con người là mục đích tối
thượng của xã hội, là chỉ báo quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển của xã hội
loài người. Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xét đến
cùng cũng là nhằm tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển, sự hoàn
thiện con người và ngược lại, chính điều đó là động lực của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Văn kiện Hội nghị Trung ương V Ban chấp hành Trung ương khóa
VIII đã khẳng định: “Nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là
nguồn lực con người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân
tộc Việt Nam”[25, 93]
Khẳng định trên, được Đảng ta nhấn mạnh lại lần nữa tại Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ IX “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo
đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung,
tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình cộng
đồng xã hội”[26, 114].
Trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng, vấn đề con
người luôn được đặc biệt quan tâm. Bởi chúng ta hiểu rằng đổi mới trước hết
phải bắt đầu từ việc đổi mới con người, sẽ không có sự đổi mới xã hội nếu
không có sự đổi mới từ chính bản thân con người. Đổi mới bắt đầu từ con người
không phải được xây dựng một cách chung chung, trừu tượng mà phải hướng
Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang đi
vào chiều sâu. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra và đòi hỏi các nhà
khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau phải nghiên cứu và giải quyết; trong đó
có vấn đề hình thành và xây dựng chiến lược về con người thực sự khoa học,
phù hợp với thời đại và hoàn cảnh nước ta, nhằm phục vụ cho việc phát triển
nhanh và bền vững của đất nước. Hơn thế nữa, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta đang được tiến hành. Chúng ta đang từng bước chuyển từ xã
2
hội truyền thống sang xã hội hiện đại. Sự đụng độ giữa các giá trị truyền thống
và hiện đại, dân tộc và quốc tế, sự bất cập của những năng lực, phẩm chất con
người trong mẫu người truyền thống trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, của
xã hội hiện đại khiến cho việc tích cực chủ động nghiên cứu vấn đề hình thành
con người mới trở thành vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu con người như là mục tiêu và
động lực của sự phát triển đất nước thì vẫn chưa có được những giải pháp toàn
diện và sâu sắc, nên chưa có tính hệ thống và đồng bộ. Yêu cầu ấy đòi hỏi công
tác lý luận phải xúc tiến nhiều hơn nữa, chuyên sâu hơn nữa những nghiên cứu
về con người và con người mới. Luận án này cố gắng góp thêm một số suy nghĩ
về vấn đề hình thành và phát triển con người theo hướng đó.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án: Trên cơ sở những quan điểm của triết học Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con
người và con người mới luận án phân tích đặc điểm của con người Việt Nam và
những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành con người mới Việt Nam. Từ đó
đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm thúc đẩy sự hình thành con
người mới ở nước ta trong quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Để đạt được mục đích này, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu về con người và con người
mới ở Việt Nam trong những năm gần đây.
hợp, lô gích và lịch sử, thống kê, đối chiếu, so sánh
5. Đóng góp mới của luận án
- Trình bày một cách có hệ thống quan điểm của triết học Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và con người mới.
- Làm rõ những nhân tố quy quy định sự hình thành, phát triển con người
mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đề xuất và phân tích một số giải pháp có tính định hướng nhằm thúc
đẩy sự hình thành con người mới Việt Nam trong quá trình định hướng xã hội
chủ nghĩa hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
4
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng
dạy vấn đề con người, con người mới, vấn đề nhân cách.
- Luận án cũng là những gợi ý, những khuyến nghị đối với sự nghiệp xây
dựng con người mới ở nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục
kết cấu của luận án được chia làm 4 chương, 8 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề con người từ xưa đến nay vẫn là vấn đề rất được quan tâm nghiên
cứu trong triết học. Cả triết học phương Đông hay phương Tây, châu Âu hay châu
Á đều coi con người là vấn đề quan trọng nhất trong triết học. Thậm chí có cả
trường phái triết học còn cho rằng con người là đối tượng nghiên cứu của triết học.
Trong triết học Phương Đông, con người chủ yếu được nghiên cứu ở
phương diện con người xã hội. Các nhà tư tưởng chủ yếu đề cao mặt xã hội của
con người. Trong nền triết học Trung Quốc Cổ, Trung đại, vấn đề bản tính con
người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn đề này, các nhà tư
nhà duy vật trước Mác nhìn chung vẫn giải thích duy tâm về sự tồn tại của con
người.
Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm lại chú
trọng góc độ hoạt động lý tính của con người. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là
quan điểm của Platon thời Cổ Hy Lạp, Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thời
Cận đại và Hêghen trong triết học Cổ điển Đức. Vì không đứng trên lập trường
duy vật, các nhà triết học duy tâm đã lý giải bản chất lý tính của con người từ
giác độ siêu tự nhiên.
Có thể nói, tiêu biểu cho hai trường phái triết học duy vật và duy tâm nói
trên là hai nhà triết học Cổ điển Đức Hêghen và Phoiơbắc. Đối với triết học của
Hêghen, C. Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng khiếm khuyết cơ bản của triết
học này là ở chỗ Hêghen quy con người về tự ý thức, coi bản chất của con người
là cái thuộc về thế giới tinh thần. Ở Hêghen, “chỉ có tinh thần là bản chất chân
thật của con người, còn hình thức chân chính của tinh thần là tinh thần đang tư
duy, tinh thần lôgíc tư biện” [68, 193]. Đối với Hêghen toàn bộ sự vận động của
đời sống con người thể hiện ra là sự vận động của tinh thần, của tự ý thức; các
hình thức hiện thực của đời sống con người, các yếu tố vật chất của đời sống con
người, chỉ là các yếu tố mà trong sự vận động của nó, thể hiện ra là các yếu tố
không có tính độc lập, không có lôgíc phát triển nội tại. Với Hêghen, không có
và không thể có sự đối lập thực sự của tinh thần. Ông không biết đến tồn tại thật
sự khách quan, tồn tại không thể quy về và không thể bị hòa tan trong tinh thần.
Với Hêghen, các sự vật và các vật thể vật chất - cảm tính chỉ là sản phẩm của
7
tinh thần, chỉ là “sự tha hóa của tự ý thức thiết định tính vật thể. Vì con người là
tự ý thức cho nên bản chất đối tượng hóa đã tha hóa nó, và tính vật thể là do sự
tha hóa ấy thiết định” [68, 198]. Với tư tưởng đó, Hêghen đã xem tha hóa và lột
bỏ tha hóa, về thực chất, là một quá trình tinh thần, tư duy.
Đối lập với Hêghen, ngược lại, Phoiơbắc lại xem con người là sản phẩm
của tự nhiên, là một bộ phận của giới tự nhiên. Theo ông, con người là một sinh
vật có hoạt động tâm - sinh lý, có cảm giác, có tư duy và giữa người với người
xuất ra điều kiện vật chất của họ đẻ ra. Theo C. Mác, chính điều đó nhất định sẽ
dẫn tới “sự tha hóa con người khỏi con người”. Vì thế theo C. Mác, việc khôi
phục lại những mối liên hệ, quan hệ xã hội bình thường giữa người với người,
phù hợp với bản chất của con người chỉ có thể thực hiện được bằng cách cải tạo
xã hội, cải tạo các quan hệ sở hữu của xã hội tư bản. Trên cơ sở đó C. Mác đã đi
đến kết luận về sự giải phóng xã hội khỏi chế độ tư hữu và xem đó là điều kiện
tất yếu của sự giải phóng con người về kinh tế và chính trị, giải phóng con người
khỏi mọi sự tha hóa.
Khi xuất phát từ quan điểm duy vật về con người, xem bản chất con người
là tổng hòa các mối quan hệ xã hội và nhìn nhận con người trong mối quan hệ
con người - tự nhiên - xã hội, chủ nghĩa Mác đã lấy tư tưởng “vì con người và
giải phóng nhân loại” và “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu
không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt”[79, 406] làm nền tảng tư tưởng để
xây dựng học thuyết của mình về xã hội nói chung, về xã hội cộng sản chủ nghĩa
nói riêng. Xã hội cộng sản mà nhân loại cần phải hướng tới, theo C. Mác và Ph.
Ăngghen là “sự giải quyết hiện thực mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, giữa
con người và con người”. Từ cách đặt vấn đề như vậy về việc xây dựng một chế
độ xã hội công bằng, văn minh, không còn hiện tượng người bóc lột người,
không còn hiện tượng con người bị tha hóa, mọi người đều bình đẳng, đều có
quyền được hưởng tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hai Ông đã xem một
trong những đặc trưng cơ bản nhất của chế độ xã hội mới mà giai cấp vô sản có
sứ mệnh phải xây dựng thành công là giải phóng con người, giải phóng nhân
loại khỏi mọi áp bức, bất công. Trong tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen,
mục tiêu cao nhất của chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản là
phát triển con người toàn diện, “tạo nên những con người mới” - những con
người “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện
9
của mình”. Những tư tưởng đó được C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định trong
tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: Thay cho xã hội tư bản cũ, với giai cấp và đối
kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hiệp mới, trong đó sự phát triển tự do
chuyên luận về các tác phẩm kinh điển như “Bản thảo kinh tế - triết học năm
1844” của Phạm Như Cương, “Hệ tư tưởng Đức” của Phạm Huy Châu , vào
cuối những năm năm mươi đầu những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi đều
thể hiện rõ điều ấy. Một số chuyên luận về triết học Mác - Lênin cuối những
năm sáu mươi đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước như “Mác thời trẻ và
chủ nghĩa Mác” của Nguyễn Thế Phong, “Về vấn đề nghiên cứu quá trình xây
dựng con người Việt Nam mới” của Phạm Như Cương thực chất đã đi vào
nghiên cứu những vấn đề con người nói chung và vấn đề con người mới nói
riêng. Vào thời kỳ này, trọng tâm nghiên cứu vấn đề con người là làm rõ vị trí,
vai trò của con người trong xã hội và trong lịch sử. Dựa trên cơ sở những
nguyên lý triết học Mác - Lênin, quan niệm về vai trò, vị trí của con người lúc
đó là khẳng định khả năng nhận thức và cải tạo thế giới của con người; chứng
minh vị trí vai trò của quần chúng nhân dân và của các vĩ nhân trong sự phát
triển của xã hội, trong các cuộc cách mạng xã hội.
Trong những nguyên lý triết học cũng như trong hệ thống các vấn đề triết
học Mác - Lênin ở thời kỳ này, vấn đề bản chất con người trở thành đối tượng
nghiên cứu có tính chất cơ bản. Dựa trên nền tảng tư tưởng của triết học Mác coi
con người là thực thể tối cao tồn tại hiện thực trong thế giới và bản chất con
người là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, giới nghiên cứu triết học tiếp tục mở
rộng, đi sâu nghiên cứu bản chất của con người, con người mới. Trong Thông
báo Triết học (giữa những năm sáu mươi) đã xuất hiện một số những chuyên
luận về bản chất con người như: “Quá trình nghiên cứu phức hợp về con
người” của Đặng Xuân Kỳ, hay “Lênin bàn về con người mới xã hội chủ
nghĩa” của Phạm Hựu. Ở thời điểm này, các nhà nghiên cứu chủ yếu xuất phát
từ quan điểm duy vật biện chứng để phê phán các quan điểm duy tâm về con
người thời kỳ trước Mác. Dựa vào những luận điểm trong “Luận cương về
Phoiơbắc” của Mác, các tác giả đã phê phán tính siêu hình của quan niệm xem
con người như là những thực thể phi lịch sử, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên của con
người, hoặc xem con người như những chủ thể chung chung, trừu tượng. Đến
thời kỳ này các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều tới vấn đề bản chất xã hội của
Nhưng ở thời kỳ này trọng tâm của việc nghiên cứu về con người chính là nghiên
cứu con người Việt nam, nhằm đưa ra những cơ sở lý luận cho việc xây dựng con
12
người mới xã hội chủ nghĩa. Với tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc
lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới” của đồng chí
Lê Duẩn ra đời vào đầu những năm bảy mươi đánh dấu một bước nghiên cứu
tương đối tập trung về vấn đề con người. Tác phẩm đã vạch ra tính tất yếu, những
nội dung và những biện pháp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Cùng
thời gian này Viện triết học và các cơ quan lý luận khác tổ chức các hội thảo khoa
học tìm hiểu quan điểm của chủ nghiã Mác - Lênin và Đảng ta về con người và
xây dựng con người mới trên cơ sở thực tiễn của đất nước cũng như của các nước
xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Cũng trong thời gian này, Tạp chí Triết học vừa mới ra đời đã công bố rất
nhiều bài thể hiện quan niệm về con người mới từ nhiều phương diện như đạo
đức học, tâm lý học, văn học, nghệ thuật như: “Đạo đức học Mác -Lênin và vấn
đề xây dựng con người mới” của Trần Thanh; “Tâm lý học Mác - Lênin và vấn
đề xây dựng con người mới” của Đỗ Long; “Con người mới trong văn nghệ
hiện nay” của Vũ Khiêu; “Văn học xã hội chủ nghĩa và con người mới xã hội
chủ nghĩa” của Thành Duy Đóng góp của các công trình này trước hết là xác
định nội dung con người mới. Bằng nhiều cách thể hiện khác nhau, các tác giả
đã cụ thể hóa, phát triển, bổ sung những nội dung con người mới mà Đại hội IV
của Đảng đã nêu: Con người mới là những con người có tư tưởng, tác phong xã
hội chủ nghĩa, có năng lực làm chủ; lao động có nhiệt tình cách mạng, có tổ
chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất cao; thật thà trong lao động sản xuất
và trong quản lý; gắn liền lợi ích riêng với lợi ích tập thể, lợi ích nhà nước,
không xâm phạm của công; cống hiến tất cả cho sự nghiệp xây dựng cuộc sống
mới độc lập tự do và phồn vinh của đất nước.
Một đóng góp nữa của các công trình trên là việc nêu ra các biện pháp xây
dựng con người mới. Các tác giả cho rằng, con người mới là sản phẩm của ba
cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật và
đến vấn đề con người từ những cách tiếp cận khác nhau do đó đã góp phần làm
cho quan điểm về con người phong phú hơn, sâu sắc hơn và làm rõ hơn những
luận điểm chung về con người của triết học Mác- Lênin. Hội nghị khoa học về
vấn đề xây dựng con người mới do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức vào năm 1981lúc đó đã khẳng
định: Mục tiêu con người mới cần đạt tới là con người có trình độ và năng lực
14
làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân. Trong điều kiện ở nước
ta lúc đó, mục tiêu này chỉ thực hiện được khi gắn liền với các cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng tư tưởng - văn
hóa; khi từng bước xác lập vai trò của con người trong cải tạo tự nhiên, quản lý
xã hội và tự nâng cao năng lực bản thân. Nội dung của việc xây dựng con người
mới là xây dựng thế giới quan mới, đạo đức mới và nếp sống mới. Bộ mặt tinh
thần của con người mới phải tiêu biểu cho sự phát triển của xã hội mới cao đẹp.
Con người mới phải có những phẩm chất cơ bản như: thế giới quan khoa học,
luôn quan tâm tới lợi ích tập thể, có tinh thần và thái độ đúng đắn, tư tưởng và
tình cảm lành mạnh, yêu nước xã hội chủ nghĩa nồng nàn. Qua toàn bộ sự khái
quát các quan điểm về con người trong thời kỳ trước đổi mới nêu trên có thể
thấy quan điểm nổi bật chủ đạo ở giai đoạn này chính là quan điểm về con người
làm chủ tập thể, con người cộng đồng và con người mới là con người hòa tan cái
cá nhân vào trong cộng đồng.
Vào năm 1986 chúng ta bắt đầu thực hiện sự nghiệp đổi mới với việc
chuyển sang cơ chế thị trường, đồng thời với sự thừa nhận tồn tại nhiều thành
phần kinh tế. Sự hình thành và phát triển con người, do vậy mang tính chất khác
với giai đoạn trước đổi mới. Sự mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế cùng quá
trình hiện đại hóa xã hội mang tính toàn cầu khiến cho vấn đề con người cần
phải được nghiên cứu đầy đủ và gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội mới. Việc
nghiên cứu con người trong giai đoạn này có những đặc điểm riêng và nội dung
của nó có bước chuyển về chất. Sự đổi mới tư duy kinh tế, tư duy chính trị, văn
hóa, khoa học đã mở rộng tầm nhìn cho giới nghiên cứu; cách quan niệm mới về
triển con người toàn diện” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010).
Nhìn chung những bài viết này đều nhấn mạnh đến yếu tố con người trong thời
kỳ đổi mới, đến vai trò nguồn lực con người cho công cuộc đổi mới và các thang
giá trị biến đổi khi đánh giá con người mới cũng như những tiêu chí đánh giá vai
trò nguồn lực của con người. Các ý kiến khi phân tích vấn đề này đều xuất phát
từ quan điểm cho rằng, toàn bộ sự biến đổi của con người Việt Nam trên các
cung bậc khác nhau là do sự tác động của điều kiện mới cả trong nước và quốc
tế tạo nên. Ngoài ra có tác phẩm tuy không đề cập đến vấn đề con người từ cấp
độ lý luận nhưng đáng để cho những nhà nghiên cứu lý luận tham khảo để hiểu
16
về con người Việt Nam hơn như tác phẩm “Người Việt - phẩm chất và thói hư -
tật xấu” của nhiều tác giả (Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội 2009).
Ngoài ra còn phải kể đến nhưng công trình liên quan đến vấn đề chung về
con người trên cơ sở trở lại và phân tích sâu hơn quan điểm về con người của
triết học Mác - Lênin. Nhà nghiên cứu Trần Đức Thảo, trong tác phẩm “Vấn đề
con người và chủ nghĩa Lý luận không có con người” do Nhà xuất bản Thành
Phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1989, khi đưa ra những luận cứ để bác bỏ quan
điểm sai lầm của triết học phương Tây về con người đã khẳng định tính đúng
đắn, khoa học và cách mạng trong quan niệm của Mác về bản chất con người.
Tiếp sau đó, trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu lý luận,
Thông tin lý luận đã đăng tải nhiều bài viết của các tác giả về quan niệm của C.
Mác, Ph. Ăngghen về con người, về bản chất con người, mối quan hệ giữa con
người - tự nhiên - xã hội. Liên quan đến vấn đề này có bài viết“Một vấn đề cần
được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong
con người” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí triết học, số 3, năm 1992);
tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm có bài “Những tư tưởng cơ bản của C. Mác, Ph.
Ăngghen, V.I. Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên” (Tạp
chí triết học, số 1, năm 1992) và bài “Vấn đề con người, cá nhân và xã hội
trong học thuyết Mác”của tác giả Trần Hữu Tiến (Tạp chí Cộng sản, số 1, năm
1994). Nói chung các bài viết này đều khai thác quan điểm của triết học Mác -
Nội, năm 2005); “Vấn đề phát triển con người Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến
sỹ triết học của Bùi Thị Phương Thùy, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2008); “Phát
triển quan điểm triết học của C. Mác - Ph. Ăngghen về con người trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Luận văn thạc sỹ triết học của Lưu Thị Hà, bảo vệ
tại Hà Nội, năm 2008) Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã
khái quát các quan điểm của Đảng về con người và con người mới trong quá
trình đổi mới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X. Những quan điểm này đã tập trung luận chứng cho quan điểm của
Đảng xem con người, con người mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
nghiệp đổi mới, của sự phát triển xã hội. Trên cơ sở đó các tác giả đều khẳng
định: Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải hướng đến
việc phát triển con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện
đại làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững và phải gắn tăng
18
trưởng kinh tế với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đồng thời các tác giả cũng chỉ ra tác động của
sự nghiệp đổi mới, của kinh tế thị trường đối với sự hình thành những phẩm
chất, năng lực của con người Việt Nam hiện nay.
Ở khía cạnh vai trò của con người, con người mới đối với sự nghiệp xây
dựng, phát triển đất nước và ảnh hưởng của sự nghiệp đổi mới đối với thang giá
trị trong con người, con người mới được đề cập đến trong Chương trình khoa
học - công nghệ KX - 07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội” do GS, TS. Phạm Minh Hạc làm chủ biên với sự
tham gia của các nhà khoa học có uy tín thuộc các chuyên ngành khác nhau theo
các đề tài như: “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH” (Phạm Minh
Hạc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1996); “Bồi dưỡng
và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” (Nguyễn Minh Đường chủ
biên); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (Phan Huy Lê
chủ biên); “Về động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” (Lê Hữu Tầng chủ
biên) Các công trình nghiên cứu này đã có sự phân tích rất sâu sắc nhiều khía
Bàn về dân chủ hóa xã hội và tác động của dân chủ hóa xã hội đối với con
người Việt Nam hiện nay có các công trình: “Vai trò của Nhà nước đối với việc
tiếp tục thực hiện quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam” (Luận án tiến sỹ của
Trần Thị Băng Thanh, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2002 ); “Đảm bảo quyền con
người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam ” (Luận án tiến sỹ của Tường
Duy Kiên, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2004); “Dân chủ và tập trung dân chủ - Lý
luận và thực tiễn” (Nguyễn Tiến Phồn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
-2001).
Ở các công trình này các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự
nghiệp đổi mới với dân chủ hóa đời sống xã hội; khẳng định vai trò của dân chủ
hóa xã hội đối với sự biến đổi của con người nói chung và con người mới nói
riêng; khẳng định dân chủ có nội dung toàn diện trong đó có “ Hai lĩnh vực quan
trọng hàng đầu và nổi bật nhất là Dân chủ kinh tế và Dân chủ chính trị. Nó quy
định dân chủ trong lĩnh vực xã hội, tư tưởng và văn hóa. Nó cũng biểu hiện trực
tiếp quyền con người (nhân quyền) và quyền công dân (dân quyền). Điểm cốt lõi
của dân chủ kinh tế là lợi ích. Điểm cốt lõi của dân chủ chính trị là quyền lực và
chế độ ủy quyền thông qua bầu cử qua phương thức dân chủ đại diện. Dân chủ
20
trong xã hội đòi hỏi sự đảm bảo công bằng trong phân phối lợi ích và công bằng
trong cơ hội phát triển, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Dân chủ
trong lĩnh vực tư tưởng, tinh thần đòi hỏi sự giải phóng tiềm năng sáng tạo, tự
do tư tưởng” [96, 17].
Vai trò của nhân tố chính trị còn được thể hiện thông qua việc xác lập các
tiêu thức, định ra các mô hình, vạch ra các đặc trưng của con người mới ở từng
giai đoạn cụ thể trong quá trình phát triển của nó. Trên cơ sở đó, định hướng cho
việc đào tạo, phát triển con người mới, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và
yêu cầu của thực tiễn đất nước. Bàn về vấn đề này tác giả Nguyễn Hữu Công
trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” đã khẳng
định: “Nghiên cứu sự phát triển của con người qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta
thấy bất kỳ một chế độ chính trị nào muốn tồn tại, phát triển phát triển cũng phải
sống cá nhân cũng như đời sống tập thể trong văn hóa tổ chức cộng đồng, văn
hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đồng thời phân tích
và lý giải một số đặc điểm của lối sống con người Việt Nam trong lịch sử như:
trọng tình nghĩa, đề cao tính cộng đồng và một vài sự biến đổi của lối sống
con người trong giai đoạn hiện nay dưới sự tác động của các nhân tố như nền
kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa Vấn đề giao lưu
văn hóa, hội nhập quốc tế ảnh hưởng tới các giá trị truyền thống của con người
Việt Nam còn được phân tích trong công trình “Giá trị truyền thống trước
những thách thức của toàn cầu hóa” (Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn
Huyên đồng chủ biên, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2002). Trong
công trình này các tác giả khẳng định rằng, con người Việt Nam vốn có truyền
thống yêu nước mãnh liệt, có ý thức liên kết cộng đồng và đoàn kết dân tộc vô
cùng bền chặt, đức tiết kiệm và tự lập tự cường, ý chí vượt qua mọi gian khổ,
khó khăn và tinh thần cần cù, sáng tạo trong chiến đấu và lao động, có cách ứng
xử linh hoạt và thích nghi nhanh với cái mới và cả những biến động bất thường.
Các tác giả còn khẳng định cùng với các các truyền thống quý giá kể trên “dân
tộc Việt Nam còn có hàng loạt các truyền thống khác mà chúng ta không thể
không nhắc tới như tinh thần hiếu học, lòng tôn sư trọng đạo, đức tính kính
trọng người già giàu kinh nghiệm, lòng nhân ái, tính khoan dung ”. Đồng thời
các tác giả cũng khẳng định: Trong “xu thế mở rộng giao lưu quốc tế và quá
trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế theo hướng kinh tế
22
thị trường tự do, đang kéo theo tình trạng đổ bộ ồ ạt từ các nước phát triển vào
các nước đang phát triển và kém phát triển những sản phẩm văn hóa vật thể xa
lạ đe dọa phá vỡ truyền thống và cũng làm mất bản sắc văn hóa cùng các giá trị
truyền thống lâu đời khác” [ 5, 12-13 ]
Ở khía cạnh nghiên cứu con người, con người mới về mặt nhân cách có
công trình “Hồ Chí Minh - Những vấn đề Tâm lý học nhân cách” (PGS, PTS.
Đỗ Long, Chương trình khoa học - công nghệ KX – 07, Hà Nội 1995). Trong
công trình này các tác giả đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách và
nhân cách trong cơ chế thị trường” (Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí triết học, số 5,
năm 1996); “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt
Nam” (Lê Thi, Nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội, năm 1997); “Về khắc phục những
tác động tiêu cực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với sự phát triển nhân
cách” (Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí triết học, số 1, năm 1998). Ở các công trình
này, các tác giả đã phân tích tính hai mặt của tác động của kinh tế thị trường, của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con
người Việt Nam nói chung cũng như con người mới nói riêng. Đồng thời nêu lên
một số giải pháp để khắc phục những tác động tiêu cực, phát huy những yếu tố
tích đối với sự phát triển nhân cách con người việt Nam hiện nay.
Tóm lại, có thể khẳng định các công trình nghiên cứu về con người, con
người mới, về nhân cách con người và vai trò của con người đối với sự nghiệp
đổi mới và tác động của sự nghiệp đổi mới đối với sự biến đổi con người ở nước
ta trong thời gian qua đã đạt một số kết quả nhất định. Các công trình đã đưa ra
được cách nhìn tương đối tổng thể và có hệ thống sự tác động của con người đối
với sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như sự biến đổi về những phẩm chất, năng
lực của con người do ảnh hưởng của sự nghiệp đổi mới. Sự tác động của dân
chủ hóa xã hội, của giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế tạo ra sự biến đổi những
phẩm chất, năng lực, tài năng, giá trị tinh thần, đạo đức, lối sống của con
người Việt Nam hiện nay. Mặc dù vậy, theo các nhà khoa học thì đây là vấn đề
lớn cho nên cần được tiếp tục nghiên cứu lâu dài, trên nhiều phương diện khác
nhau và bổ sung để được hoàn thiện về mặt lý luận, phản ánh được đầy đủ hơn,
ngày càng phù hợp hơn mọi mặt của thực tiễn đất nước luôn vận động, biến đổi
và phát triển không ngừng.
24