Đề án phát triển du lịch sinh thái việt nam - Pdf 13

Đề án Kinh tế Du lịch
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Nếu chúng ta là nhà điều hành Tour du lịch của một công ty lữ hành mà
được một du khách hay một tổ chức yêu cầu phải xây dựng một Tour du lịch
sinh thái thì ta phải làm gì ?
Chúng ta cũng biết bởi khái niệm du lịch sinh thái còn khá mới mẻ đối với
ngành du lịch Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Một hình thái du
lịch, một đoạn thị trường còn mới mẻ như vậy tại sao các nhà kinh tế không đầ
u
tư vào đó? Muốn đầu tư vào du lịch sinh thái có hiệu quả có cơ sở lý luận cơ bản
về du lịch sinh thái, nghiên cứu mô hình cơ cấu tổ chức quản lý du lịch sinh thái,
nghiên cứu các đối tượng tác động và các yêu cầu nguyên tắc để phát triển du
lịch sinh thái bền vững .
Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại mà cả trên lĩnh vực môi
trường, xã hội, văn hoá du lịch sinh thái cũng
đóng vai trò quan trọng. Ngoài
những lợi ích về kinh tế, thẩm mỹ, còn phải chú ý đến vần đề giáo dục môi
trường, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên cho trong sạch. Điều đó có lợi cho chính
chúng ta.
Theo em nghĩ đây là những vấn đề giải đáp cho câu hỏi trên và cũng
chính là lý do tại sao em lại chọn đề tài :“Du lịch sinh thái và thực tế phát triển
ở Việt Nam”, với mong muốn được tìm hiểu thêm nhiều kiến thứ
c cả về kinh tế,
chính trị, xã hội và môi trường sinh thái. Với điều kiện có hạn, em xin được giới
hạn nội dung đề tài:
Chương I: Khái quát về du lịch sinh thái
Chương II:Thực tế phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
2.1 Tiềm năng, thực trạng về du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn
quốc gia
2.2 Tiềm năng, thực trạng của du lịch biển

nhiên. Châu phi là một ví dụ điển hình. Những cuộc đi săn năm 1909 của
Thoedore Rooevelt để cho vào túi săn những chiếc đầu hoặc những cái sừng lớn
nhất mà ông có thể tìm thấy là một điển hình đương đại. Vào những năm 70, du
lịch đại chúng và du lịch không phân biệt, vẫn chủ yếu để tâm đến các con thú
lớn, đã phá hoại các môi trường sống gây phiề
n nhiễu đến các động vật , và phá
huỷ thiên nhiên. Ngày nay , các hành vi này đang thay đổi .Ngày càng nhiều
khách thăm quan nhận thức được tác hại sinh thái họ có thể gây ra cho giá trị
của tự nhiên , và cho những mối quan tâm của nhân dân địa phương. Các tour du
lịch chuyên hoá - săn chim , cưỡi lạc đà ,bộ hành thiên nhiên có hướng dẫn và
nhiều nữa - đang tăng lên. Cái dòng nhỏ nhưng đang lớn lên này chính là du
lịch sinh thái .Và, một cách ngạc nhiên du lịch sinh thái dang làm cho cả nghành
công nghiệp lữ hành trở
nên nhạy cảm hơn với môi trường.
1.2 Khái quát du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới mẻ , đang là
mối quan tâm của nhiều người ở nhiều lĩnh vực khác nhau .Có nhiều cách đặt
vấn đề về du lịch sinh thái và sự tìm kiếm đi dến sự thống nhất bản chất , nhận
thức của loại hình du lịch sinh thái vẫn đang được tiếp tục trên nhiề
u diễn đàn
quốc tế và trong nước .
Đề án Kinh tế Du lịch

Loại hình du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn,
nhưng có tác dụng hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch
và nền văn hoá đó. Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền
vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động
du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại c
ủa du khách cùng người dân ở
vùng có du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng v.v đồng thời chú trọng tới việc

- Du lịch thám hiểm, mạo hiểm,lặn biển, thăm hang động
Đề án Kinh tế Du lịch

Từ những năm 1985-1990, đặc biệt là sau năm 1990 khoa học sinh thái
được chấp nhận khá rộng rãi trên thế giới và cũng từ khoa học sinh thái trở
thành một lĩnh vực khoa học có giá trị hơn nhiều nên ngành kinh tế-xã hội có ý
thức vận dụng những lý thuyết cơ bản của sinh thái học. Ngành du lịch thế giới
từ sau cuộc Hội nghị về Trái đất ở Rio đe Janeiro năm 1992 đã thự
c sự vận dụng
sinh thái học dưới nhiều mục tiêu sự phát triển bền vững.
Việc tổ chức và điều hành loại hình du lịch sinh thái như thế nào để có thể:
- Bảo tồn môi trường tự nhiên mà du lịch đang sử dụng.
- Nâng cao ý thức của du khách để họ nhận rõ đặc điểm của môi trường tự
nhiên trong khi du lịch đang hoà mình vào đó.
- Động viên trách nhiệm của dân c
ư địa phương tại khu du lịch, điểm du
lịch có trách nhiệm quản lý bảo vệ và phát triển du lịch nhằm bảo đảm sự phát
triển bền vững của môi trường du lịch và thiết thực tạo được lợi ích lâu dài.
Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức
truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên với văn hoá
bản địa, du khách có thêm những nh
ận thức về đặc điểm của môi trường tự
nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm, từng vùng, khu du
lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối
với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại. Còn về quy mô của loại hình du
lịch sinh thái thì tuỳ thuộc vào khả năng, điều kiện, biệ
n pháp tổ chức của nhà
quản lý hoạt động du lịch, có thể dần dần từ quy mô khiêm tốn để phát triển
rộng rãi.
Ở nước ta trên phương tiện thông tin đại chúng cũng đã đưa ra nhiều khái

Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Du lịch sinh thái phát triển
nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng. Nhu
cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo
về
tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách là một
ngành kinh tế. Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cậu khách
quan, xu thế này còn không nằm ngoài xu thế chung về phát triển xã hội của loài
người khi các giá trị tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt.
Việt Nam là một đất nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm
hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là
phía xích
đạo. Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao,
mưa nhiều. Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3000km, lưng dựa vào dãy
Trường Sơn. Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động
thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Kết hợp vào đó có rất nhiều
nét văn hoá dân tộc đặc sắc, đậm đ
à. Những yếu tố đó đã tạo nên cho Việt Nam
một lợi thế to lón trong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái. Cùng với việc
nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá
phục vụ phát triển kinh tế thông qua du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu. Với
tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có Du lịch sinh thái
Đề án Kinh tế Du lịch

ngày càng khẳng định vị thế của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước.
Đề án Kinh tế Du lịch

1.4 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
1.4.1 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của

sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là ngườ
i am
hiểu cac đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này
rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh
thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình
tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên.
Đề án Kinh tế Du lịch

trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác vói người dân địa phương để có
được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là
một người phiên dịch giỏi.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có
nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống tường chỉ quan tâm đến lợi
nhuận và không có cam k
ết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự
nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá
trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất
đi. Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với
các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng
đồng địa phương nhằm mục
đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dai các giá trị tự nhiên và văn hoá
khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa
phương và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần
được tổ ch
ức với sự tuân thủ chặt chẽ cá quy định về “sức chứa”. Khái niệm “
sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả
những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng
một thời điểm.

ũng như
mọi loại khách.
Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của
khách du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về
những kinh nghiêm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là
rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du
lịch sinh thái. Vì vậy, những dị
ch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan
trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
1.4.2 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái.
Thị trường du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với các thi
trường khác. Song sự phát triển nhanh chóng này đe doạ tính bền vững của du
lịch sinh thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền
vững. Du lịch sinh thái bản thân nó bị gi
ới hạn phạm vi, mức độ phát triển. Nó
không thể tiếp nhận một số lượng lớn du khách mà không phải là nguyên nhân
dần dần làm thay đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại. Vì vậy vấn đề
trọng tâm trong việc phát triển du lịch sinh thái bền vững là sự kiểm soát hạn
chế những nguyên tắc sử lý và thực hiện.
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển b
ền vững.
Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là
điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về
tốc độ tăng trưởng của du lịch .
“Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác
về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn
viên có nghiệ
p vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lậi
lớn giữa con người và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức được giáo dục nhằm
Đề án Kinh tế Du lịch

c cao nên đòi
hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong
và sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự
hiểu biết và sự phối h
ợp với các ban nghành chức năng.
Đề án Kinh tế Du lịch

- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất
quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của nghành phải đưa ra các nguyên tắc
và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
-Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn
khổ quốc tế cho ngành.
Đề án Kinh tế Du lịch

CHƯƠNG 2
THỰC TẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM

2.1 Một số điểm du lịch sinh thái đáng chú ý ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc và Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành
tuyến du lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nôi-Bắc Ninh-Bắc Cạn-
Lạng Sơn-Cao Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất
nước. Chiều dài của tuyến du lị
ch khá thuận tiện về đường bộ, những năm gần
đây nhiều đường xá đã được nâng cấp hoàn chỉnh như đường quốc lộ mới,
đường 32 v.v Về mặt lưu trú của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi
hiện đại. Nhiều tổ chức lữ hành , phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các
Sở Du lịch, các công ty kinh doanh du lịch về các làng bản, nhân dân địa

Cửu Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp người dân Nam Bộ đã mệnh danh
Cần Thơ là Tây Đô. Ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ quyền lực để
củ
ng cố địa vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh tế xã hội
cũng sớm phát triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu tư, nhà khoa học,
nhà văn hoá do các yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn ưu thế về địa
lý, giao thông, về thương mại, cả về du lịch nữa.
Riêng về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng
ngàn km chằng chịt bồi đắp phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh động,
đảm bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các khu vườn cây trái theo mùa vụ
trĩu quả, đậm đà hương vị riêng biệt như bưởi, ổi, chôm chôm, quýt đường, cam
sành, sầu riêng, xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhẵn v.v Cùng các khu vườn
nhà của các hộ dân cư nông trường Sông Hậu trên diẹn tích 7000 ha vừa gieo
trồng các giống lúa mới đạt năng suất cao, có ch
ất lượng, các dòn rạch với hai
bờ xanh cây bạch đàn và các loại cây ăn quả về mô hình kinh tế sinh thái độc
đáo “ Ruộng , vườn, ao, chuồng” tiêu biểu v.v
Sự hấp dẫn về du lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du khách trong
cac tuor du lịch cùng với việc tham quan cac yếu tố kinh tế xã hội đa dạng
phong phú đã tăng liên tục từ năm 2000 góp phần vào số doanh thu của ngành
du lịch của Việt Nam.
Từ nă
m 2002 ở Củ Chi thuộc thành phố HCM đã bắt đầu đón khách đến
nghỉ mát ở khu du lịch thuộc xã Nhân Đức trên diện tích rộ đến 180 ha gồm 3
khu vực : một khu du lịch 25 ha gồm nhà lưu niệm, vườn hoa, khu vui chơi trên
nước, khu các bộ tộc Bana, Chơ Ro, Mường, khu nhà hàng v.v khu thứ 2có
các trại gia cầm, trại cá gồm 19 ao với diện tích khoảng 20.000 m2 nuôi trên
1.000.000 vịt anh đào, có diện tích riêng nuôi cá rô phi, cá chép Khu thứ 3
rộng trên 100ha trồng thuần cây giống nh
ập từ Đài Loan là cây Ma-li-ba-lu có

Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là Giả
Sơn cùng những di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nui
Âu Lạc v.v Phía bên trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các
hang động như Phong Nha, Nam thiên đệ nhất Động v.v Khi du khách leo đến
bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy cảnh quan bát ngát của
thành phố Hồ Chí Minh.
Ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than
Niên thành phố Hồ Chí Minh và công ty lương thực tỉnh Bình Thuận đã đầu tư
trên diện tích ở bãi Mũi Né sát biển dưới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió
biển gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các loại vật liệu dân tộc như gỗ,
mây, tre, dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng gạch men theo phong cách
cổ truyền bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý
làng nghỉ mát Xi-Va lần lượt tổ chức các chuyến đi cho du khách d
ạo chơi bằng
ca-nô, đánh bắt hải sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề. Thăm quan tìm
hiểu các hòn đảo gần kề, thăm làng thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục múa
Chăm có trình diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du khách có dịp thuận tiện tìm
hiểu thưởng thức các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v
Đề án Kinh tế Du lịch

Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án
phát triển loại hình du lịch sinh thái như dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự
án khu du lịch sinh thái thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng
Hà, khu du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn Phong du khách thưồng
bơi thuyền thăm các bãi biển gần như nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng từ nhiều
năm vẫn còn cách biệt với đất liền, thưở
ng ngoạn dốc Lết, tắm suối nước nóng
Tháp Bà
Cùng với các hang động như đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh
thái rừng-núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nước nóng Kim Bôi ở

Đề án Kinh tế Du lịch

điều kiện khai thác, bảo tồn nhằm góp phần tích cực, có hiệu quả vào sự tăng
trưởng của nền kinh tế đất nước.
Tính ra trong cả nước từ miền xuôi đến miền ngưốcc đến hàng ngàn tục lễ
đậm đà tính chất truyền thông xã hội - nhân văn biểu hiện rõ tình cảm quý giá
đối với các nhân vật anh hùng, liệt sỹ có công. Nhưng nói chung đều ghi nhớ
những đóng góp vô giá của các tiền nhân l
ịch sử và là những di sản văn hoá phi
vật thể mà 54 dân tộc anh em VIệt Nam rất tự hào.
Các lễ hội đều thường diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch; có lễ hội kéo
dài qua nhiều ngày. Nếu đúng dịp diễn ra lễ hội mà có các đoàn khách trong các
tuor du lịch thì quả là cơ hội hiếm có đối với họ. Các du khách có thể hoà nhịp
cùng lễ hội, những giọng hát chân thành, êm dịu, cùng tham gia các diệu múa
v.v là chắc chắn khi về
họ mãi nhớ những buổi hội ngộ lắng đọng đối với họ.
2.2 Tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam
Với 107 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.381.791 ha, trong đó có 12
Vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử nên
Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển du lịch
sinh thái.
Hệ sinh thái ở Việt Nam bao g
ồm 12 loại điển hình:Hệ sinh thái rưng nhiệt
đới ;Hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi ; Hệ sinh
thái rừng khô hạn.; Hệ sinh thái núi cao; Hệ sinh thái đất ngập nước; Hệ sinh
thái đầm lầy; Hệ sinh thái đầm phá; Hệ sinh thái san hô; Hệ sinh thái ngập mặn
ven biển;Hệ sinh thái biển - đảo Hệ sinh thái cát ven biển; Hệ sinh thái nông
nghiệp.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và
225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạ

văn hoá lịch sử Pắc Bó, Trùng Khánh( Cao Bằng), Vườn quốc gia Ba Bể ( Bắc
Cạn). Hồ núi Cốc( Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải
Phòng.
Không gian hoạt động của du lị
ch sinh thái vùng núi Tây Bắc và Hoàng
Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh
thái nui cao Sapa-Phanxiphăng và Khu bảo tồn Mường Nhé- nơi đang tồn tại 38
loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò tót, Gấu chó, Hổ, Sói đỏ
Du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Hồng với không gian chủ yếu thuộc các
tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hoá. Các khu
bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc
Phương, Ba Vì, Xuân Thuỷ
( khu bảo vệ vùng đất ngập nước (Ramsa) đầu tiên ở
Việt Nam)
Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ bao gồm phần phía Tây
Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông Nam
Thừa Thiên Huế. So với các nước trong khu vực Đông Nam á, đay là địa bàn
được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên
Phong Nha-Kẻ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giói và nhiều khu rừng
nguyên sinh có giá trị
Đề án Kinh tế Du lịch

Phía Tây của Tây Nguyên, một phần Bắc Lâm Đồng kéo dài đến tỉnh
Khánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây
nguyên. các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khộp ở Yok đôn,
đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup-Núi Bà; hệ sinh thái san
hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây nguyên cực Nam Trung Bộ xuôngd
đồng bằng Nam Bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn
quốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng-Bình Dương, Đồng Nai), Côn Đảo, Bình

Đề án Kinh tế Du lịch

thái sẽ tăng lên đáng kể, không còn giới hạn ở con số 4 – 5 triệu người/năm mà
có thể lên đến hàng chục triệu người mỗi năm trong các năm tới đây.
Xét về tiềm năng du lịch sinh thái của nước ta với vị trí nằm tiếp giáp với
biển Đông với chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những quần
thể núi đá vôi, sông, hồ, thác nước, hang động, su
ối nước nóng, và 3/4 diện tích
núi rừng với độ dốc cao …đã tạo cho Việt nam rất phong phú và đa dạng về khí
hậu và địa hình địa mạo nên rất giàu về tiềm năng sinh thái cũng như sự đa dạng
sinh thái .
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa
dạng sinh học, đại diện cho vùng Đông nam Á về sự độc đáo và giàu có về thành
phầ
n loài. Mặc dù bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập
kỷ qua, nhưng hệ thực vật vẫn còn khá phong phú về chủng loại.
Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt nam hấp dẫn du
lịch ở các đạc trưng sinh thái dưới đây:
- Các vùng núi đá vôi với nhiều dạng hang động như là một kho tàng cảnh
quan thiên nhiên huyền bí mà trong đó Vịnh Hạ long – di sả
n thiên nhiên thế
giới , động Phong Nha – Kẻ Bàng làm ví dụ .
- Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm biển đẹp với các sinh thái dộng vật, thực vật
biển phong phú và đa dạng.
- Hệ thống vườn bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú về hệ động thực
vật rừng xen kẽ với nhiều dân tộc có người sinh sống có những bản sắc văn hoá
hết sức đa dạng.
- Các vùng sinh thái nông nghiệ
p đặc trưng nền văn minh lúa nước nhiều
sông lạch, miệt vườn.

lớn ở Việt nam: Sao la(1992), Mang lớn(1994), Mang Trường Sơn(1997).
Khoảng 58% số
loài thực vật và 73% số loài động vật quý hiếm, đặc hữu của
Việt nam tập trung trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên các loài thú lớn
của Việt nam khó tiếp cận hơn các loài của Châu phi, và đôi khi sự tiếp cận là
không thể chấp nhận được vì các loài vật này bản thân chúng đang có nguy cơ
tuyệt chủng cần được bảo vệ và chúng sống trong các hệ sinh thái tương đối
mong manh. Tình trạng này có thể được khắc phục nế
u có quy hoạch thích hợp.
Chẳng hạn như khoanh vùng bảo vệ, xây dựng chòi quan sát từ xa có thể xem
được một số con tê giác còn sống sót tại vườn quốc gia Cát Tiên mà đầu tháng
5/1999 các nhà nghiên cứu đã chụp được những bức ảnh đầu tiên bằng máy ảnh
tự động. Khi có các nguồn tài chính có thể xây dựng các khu nuôi thú bán hoang
dã. Hiện tại ở Vườn quốc gia Cúc phương đã xây dựng được một khu nuôi các
loài linh trưởng rộng khoảng 2 ha. Du khách có thể tham quan và ngắ
m nhìn
một số loài khỉ vượn vào lúc cho ăn. Vườn quốc gia Ba vì cũng đang xây dựng
khu nuôi thú và chim bán hoang dã ở khu vực có độ cao 400 mét so với mực
nước biển.
Đề án Kinh tế Du lịch

Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với du lịch sinh thái mang
tính chất nghiên cứu khoa học. Những nhà khoa học có thể đến đây để tìm hiểu
những loài động thực vật chỉ có ở Việt nam.
Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạng
về địa hình của đất nước. Sự
đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệ
sinh thái đã cho ra đời những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hấp
dẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới Vườn quốc gia Cúc phương, Cát bà, Ba
bể, Bạch mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong nha – Kẻ bàng, Hoàng liên sơn .

đa dạng về văn hoá. Chính vì vậy mà mà người Việt nam không thuần nhất mà
Đề án Kinh tế Du lịch

gồm 54 dân tộc khác nhau. đáng chú ý hơn là các dân tộc thiểu số thường sống
kề gần hoặc trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Họ hiện vẫn đang lưu giữ được
phong cách sống, bản sắc văn hoá riêng và tập tục độc đáo. Điều này khiến Việt
nam càng trở nên hấp dẫn trên phương diện du lịch sinh thái. Hiện tại đời sống
của những người dân ở đây có nhi
ều khó khăn thiếu thốn. Đây cũng là cơ hội để
du lịch sinh thái thể hiện mình, đóng góp vào phát triển cộng đồng tại các điểm
du lịch .
2.2.2 Tiềm năng du lịch sinh thái biển.
Việt Nam là quốc gia ven biển, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng trong
giao lưu quốc tế. Biển và thềm lục địa có vai trò quan trọng phát triển kinh tế xã
hội, bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia. Vì vậ
y, phát huy lợi thế một quốc gia
có biển, kết hợp vói phát triển kinh tế với an ninh - quốc phòng đã trở thành
chiến lược lâu dài của đất nước ta.
Phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế khác: Du lịch biển là ngành kinh tế có tính liên ngành, vì vậy, sự phát
triển của du lịch biển sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành trong mối quan
hệ tương hỗ. Đồng th
ời, tạo cơ hội phát triển mới, làm tăng nguồn thu cho quốc
gia và cải thiện cán cân thanh toán, góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế
biển, đa dạng hóa nền kinh tế cho suốt dọcvùng duyên hải và hải đảo của 29
tỉnh, thành phố, là cửa mở có sức lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển.
Thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước.
Phát triển du lịch biển tăng cơ hội tạo việc làm, hiện nay trên th
ế giới có
157 quốc gia có biển và ở các mức đọ khác nhau, vấn đề việc làm cho người dân

chất. Đã có sự phát triển đáng kể về sản phẩm du lịch. Cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật phụ
c vụ cho du lịch được cải thiện một bước. Hoạt động du
lịch biển chiếm tỷ trọng lớn ( năm 2000 chiếm 63% GDP du lịch của cả nước),
đóng góp không nhỏ cho sự phát triển chung của toàn ngành Du lịch VIệt Nam
và kinh tế - xã hội vùng biển.
2.3 Thực trạng du lịch sinh thái của Việt Nam.
2.3.1 Thực trạng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên Việt
Nam
Tuy có tiềm năng to lớn, như
ng du lịch sinh thái trong phạm vi cả nước nói
chung và trong các khu bảo tồn nói riêng còn đang trong giai đoạn đầu của sự
phát triển. Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối
tượng phục vụ rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và
công nghệ phuc vụ cho du lịch sinh thái, chưa có sự quan tâm, quản lý chặt chẽ
của các cấp các nghành do vậy mà thực tế là sự đ
a dạng sinh học đang bị de doạ.
Theo ước tính ở Việt nam có hơn 12000 loài cây, 275 loài động vật có vú,
800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài động vật lưỡng cư, 2470 loài cá và
hơn5500 loài côn trùng, với ước tính hơn 10% đang mắc các bệnh đặc trưng ở
các loài động vật có vú, chim và cá. Điều đáng buồn là hơn 28% thuộc động vật
có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê
là đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm. M
ột nguyên nhân to lớn là môi trường
sống bị mất đi do nạn phá rừng.
Đề án Kinh tế Du lịch

Các dấu hiệu của việc khai thác các sản phẩm của rừng ngày một nhiều và
không phải là không khó nhận ra ở Việt nam. Một ví dụ cho thấy việc buôn bán
thịt thú rừng phát triển mạnh. Con chim, bán được 550.000 đ/kg, lợn rừng

Cụ thể như:
- Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu nổi bật
thì sự bùng nổ số lượng khách thăm quan đã và đang trở thành mối nguy cơ đe
doạ việc bảo vệ các di sản này. Sự có mặt quá đông du khách trong một thời
điểm ở một di sản đã tạ
o nên những tác động cơ học, hoá học đã cùng với các

Trích đoạn Giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Các chiến lược du lịch sinh thái quốc gia
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status