Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao năng suất lúa chất lượng hàng hoá tại huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN MẠNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
NĂNG SUẤT LÚA CHẤT LƯỢNG
TẠI HUYỆN TRẤN YÊN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ LAN
HÀ NỘI - 2008
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Mạnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân và tập
thể.
Trước hết, cho phép tôi được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.
Nguyễn Thị Lan - Bộ môn hệ thống nông nghiệp, người đã tận tình chỉ bảo,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn hệ thống
nông nghiệp - Khoa nông học - Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn của mình.

3.3. Phương pháp nghiên cứu 36
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 41
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 42
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 42
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện. 49
4.2. Thực trạng phát triển cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá ở
huyện Trấn Yên 54
4.2.1. Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp của huyện 54
iv
4.2.2. Tình hình sản xuất lúa chất lượng trên địa bàn huyện Trấn Yên 62
4.3. Thị trường tiêu thụ lúa gạo của huyện Trấn Yên 70
4.4. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu phát triển lúa hàng hóa
của huyện 77
4.4.1. Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá huyện Trấn Yên năm 2010 – 2015 và đến năm 2020. 77
4.4.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hoá ở huyện 78
4.5. Thử nghiệm một số giải pháp 82
4.5.1. Thử nghiệm so sánh một số giống lúa chất lượng 82
4.5.2. Thử nghiệm phân bón 87
4.6. Dự kiến sự phát triển lúa hàng hóa tại huyện Trấn Yên trong tương
lai 96
5. Kết luận và đề nghị 98
5.1. Kết luận 98
5.2. Kiến nghị 99
Tài liệu tham khảo 101
Phụ lục ảnh 105
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo của các châu lục trên thế giới năm
2007 26
2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở nước ta từ năm 2000 đến năm 2008 28
4.1. Diễn biến thời tiết khí hậu của huyện 43
4.2. Một số loại đất chính của huyện Trấn Yên 46
4.3. Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua các năm 48
4.4. Một số chỉ tiêu về kinh tế của huyện năm 2008 50
4.5. Thực trạng cơ sở vật chất hạ tầng của huyện năm 2008 52
4.6. Tình hình dân số và lao động của huyện năm 2008 53
4.7. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế ngành nông nghiệp của huyện
năm 2008 55
4.8. Động thái chuyển dịch cơ cấu cây trồng qua các năm 57
4.9. Dự báo sản lượng một số cây trồng chủ yếu của huyện đến năm
2015 58
4.10. Tình hình sử dụng giống lúa năm 2008 của huyện Trấn Yên 63
4.11a. Tình hình sử dụng các loại phân bón của hộ nông dân qua các
năm trên địa bàn huyện Trấn Yên 65
4.11b. Tình hình sử dụng các loại phân bón đối với từng nhóm lúa của
hộ nông dân năm 2008 tại huyện Trấn Yên 66
4.12. Một số chỉ tiêu về chất lượng các loại gạo 69
4.13. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thóc gạo của huyện 70
4.14. Hiệu quả kinh tế cây lúa của hộ nông dân năm 2008 71
4.15. Phân tích SWOT đối với sản xuất lúa hàng hóa của huyện 74
4.16. Giải pháp thị trường tiêu thụ sản phẩm 80
vii
4.17. Động thái tăng trưởng chiều cao cây lúa của các giống ở vụ

và phát triển các lĩnh vực xã hội khác. Về sản xuất nông nghiệp, toàn huyện đã
tập trung đổi mới mạnh mẽ cơ cấu mùa vụ, chất lượng giống. Đưa nhanh và
có hiệu quả những giống lúa mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất,
nền sản xuất nông nghiệp tăng nhanh và ổn định. Bình quân lương thực đầu
người đạt 360kg/người/năm, hàng năm có khoảng 40% lượng lương thực là
hàng hóa trong đó chủ yếu là lúa chất lượng. (Báo cáo tổng kết chương trình
lúa chất lượng cao huyện Trấn Yên, 2008). Kết quả này đã đóng góp phần
quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
tạo việc làm tăng thu nhập và cải thiện điều kiện đời sống vật chất, tinh thần
cho phần lớn người dân. Tuy nhiên, hiện nay giá trị hàng hoá của cây lúa
chưa cao, do huyện có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất lúa hàng hoá
như: điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn và nguồn lực nhưng chưa được
khai thác triệt để.
Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Trấn Yên lần thứ XIV về phát triển
nông nghiệp “Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo bước
chuyển biến mạnh hơn trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn”, Theo báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2009 –
2010; giai đoạn năm 2010 đến năm 2015 và đến năm 2020 như sau: Tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 13,6%, bình quân đầu người năm
2010 đạt khoảng 9,5 triệu đồng (tính theo giá trị hiện hành), tỷ trọng ngành
nông nghiệp đạt 40%, tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt: 28.084 tấn.
2
Để đạt được mục tiêu trên phương hướng phát triển kinh tế của huyện
trong thời gian tới là: Phát triển nông nghiệp toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi
theo hướng sản xuất hàng hoá đa dạng sản phẩm, coi trọng giá trị kinh tế, khai
thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật và thị trường, giữ vững an ninh
lương thực, tăng giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác, bảo vệ môi trường sinh thái,
ứng dụng tốt các thành tựu khoa học – công nghệ mới vào sản xuất. Chuyển đổi
cơ cấu cây trồng ưu tiên các loại cây có giá trị kinh tế cao, mở rộng diện tích trồng
lúa chất lượng cao để hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cung cấp cho thị

- Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, phát
triển kinh tế - xã hội của huyện Trấn Yên – tỉnh Yên Bái.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng đặc biệt là cây lúa theo
hướng sản xuất hàng hoá.
1.4. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí hậu ), kinh tế - xã hội , cơ
chế chính sách, thông tin thị trường, dịch vụ, cơ sở hạ tầng và điều kiện sản
xuất lúa hàng hoá của nông hộ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển dịch
cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại huyện Trấn Yên.
- Thực trạng sản xuất nông nghiệp, sản xuất lúa và xu hướng chuyển
dịch cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá của huyện.
1.4.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ cấu cây trồng hiện có trong hệ thống
nông nghiệp của huyện. Nghiên cứu, định hướng quy hoạch, phát triển cây lúa
theo hướng hàng hoá trên địa bàn toàn huyện.
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số cơ sở lý luận cơ bản sản xuất hàng hóa
2.1.1. Cơ sở lý thuyết về hàng hóa
2.1.1.1. Khái niệm về hàng hóa
Hàng hóa là những thứ có thể thỏa mãn được mong muốn hay nhu cầu,
yêu cầu và được cung cấp cho thị trường nhằm mục đích thỏa mãn người tiêu
dùng.[42]
Philip Kotler nhận định: Hàng hóa là tất cả những cái gì có thể thỏa
mãn được mong muốn hay nhu cầu và được cung ứng cho thị trường nhằm
mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng.[42]
Theo ông mối quan hệ giữa nhu cầu cụ thể và hàng hóa được thể hiện
theo 3 cấp độ khác nhau.
- Nhu cầu cụ thể không được thỏa mãn

Giá trị hàng hoá là nội dung, là cơ sở của sự trao đổi. Người sản xuất làm ra
hàng hoá để bán, nên mục đích của họ là giá trị chứ không phải là giá trị sử
dụng. Trong tay người sản xuất có giá trị sử dụng nhưng cái mà họ quan tâm
là giá trị hàng hoá. Người sản xuất chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để
đạt được mục đích giá trị. Ngược lại, người mua cần giá trị sử dụng, nhưng
muốn có giá trị sử dụng thì trước hết phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó,
tức là phải thực hiện được giá trị hàng hoá thì mới chi phối được giá trị sử
dụng. Như vậy, giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng tồn tại chúng
thống nhất với nhau ở một hàng hoá.
6
2.1.1.2. Sản xuất hàng hoá
Nguyễn Đình Hợi (1995)[6], phát triển nông nghiệp hàng hóa phải gắn
liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, thâm canh
ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với các ngành kinh tế khác.
Sản xuất hàng hoá vận hành theo cơ chế riêng có của nó, chịu sự tác
động của các quy luật chi phối, điều tiết sản xuất và trao đổi. Sản xuất hàng
hoá chỉ ra đời và tồn tại trong một số phương thức sản xuất - xã hội, gắn liền
với những điều kiện lịch sử nhất định. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất
hàng hoá là phải có sự phân công lao động xã hội để hình thành chế độ đa sở
hữu về tư liệu sản xuất.
* Phân công lao động xã hội: là sự chuyên môn hoá lao động, chuyên
môn hoá sản xuất thành những ngành nghề khác nhau, mỗi người chỉ sản xuất
một thứ hoặc vài chi tiết của sản phẩm. Song, nhu cầu của họ lại bao hàm nhiều
thứ khác. Để thoả mãn nhu cầu đó, cần có sự trao đổi sản phẩm giữa họ với
nhau. Vì vậy, chính sự phân công lao động xã hội làm cho những người sản
xuất phải sống dựa vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau, có mối quan hệ kinh tế lẫn
nhau [31]. Sự phân công lao động xã hội luôn vận động theo tính quy luật sau:
- Tỷ lệ và số tuyệt đối lao động nông nghiệp ngày càng giảm, còn tỷ lệ
và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày càng tăng.
- Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng tăng và chiếm phần lớn so với lao

ngừng tăng lên, đời sống của người dân ngày càng ổn định và bước đầu đã có
tích luỹ. Kinh tế học vi mô đã khẳng định: khi tồn tại nền kinh tế thị trường
thì cũng tồn tại nền sản xuất hàng hoá. Vậy sản xuất hàng hoá là gì: Đó là
8
việc sản xuất ra những sản phẩm với mục đích đem bán để thu về giá trị của
nó và có giá trị thặng dư để tái sản xuất mở rộng.
Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh quy luật “cung- cầu” trên thị
trường và toàn xã hội, đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung là các
nông sản phẩm như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu chế biến còn cầu của
nông dân là sản phẩm công nghiệp như hàng hoá tiêu dùng, vật tư nông
nghiệp. Chính vì thế, nông hộ muốn thoả mãn nhu cầu về hàng tiêu dùng như
tái sản xuất thì buộc họ phải có sản phẩm đem bán, hiệu quả của sản xuất
hàng hoá được đặt lên hàng đầu và sản xuất hàng hoá là một tất yếu.
Sản xuất hàng hoá nông nghiệp càng phát triển thì thu nhập của người
nông dân càng được nâng cao, thị trường nông sản lưu thông sẽ làm tăng giá
trị của các nông sản phẩm, từng bước đưa đời sống của người nông dân tiến
tới đời sống tốt hơn. Nếu nông nghiệp vẫn giữ lối sản xuất cũ thì khả năng
tích luỹ của nông dân hầu như không có, thu nhập của họ sẽ không vượt qua
nghèo khổ. Đối với quy mô sản xuất của hộ gia đình nếu không chuyên môn
hoá sản xuất mỗi loại một ít, nuôi nhiều loại vật nuôi thì kết quả cao nhất
cũng chỉ thoả mãn được nhu cầu của gia đình mà không có sản phẩm đem
trao đổi để thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần cũng như đề phòng tai nạn
rủi ro. Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá là hướng đi đúng đắn giúp
người nông dân có thu nhập cao nhất.
2.1.2. Cơ sở lý thuyết về thị trường
Thị trường là một tập hợp những người mua hàng, bán hàng hiện có và
sẽ có.
Theo Philip Kotler (1997)[43], một nền kinh tế đơn giản gồm 4 thành
phần: một ngư dân, một thợ săn, một thợ gốm và một nông dân. Bốn thành
phần này tìm cách thỏa mãn nhu cầu của mình theo ba phương thức khác

Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo
hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều
kiện, là yêu cầu để mở rộng thị trường. Khu vực nông thôn là thị trường cung
cấp nông sản hàng hoá cho toàn xã hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của
ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó cũng là nơi
cung cấp lao động cho các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, thị
trường và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị
trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế
là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai
đoạn, một thời điểm nào đó. Chính vì vậy cần có những chính sách của nhà
nước điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực
của thị trường.
Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm
sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm
hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận. (Tính theo
Hồ Gấm, 2003)[3].
Có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận MBCR (Marginal Benefit Cost Ratio)
để đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng.
MBCR
=
Tổng thu nhập CCCT mới - Tổng thu nhập CCCT cũ
Tổng chi phí CCCT mới - Tổng chi phí CCCT cũ
Khi MBCR > 2 thì cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế (Phạm Chí Thành,
1996)[21].
11
Thông tin thị trường không chỉ giúp nông dân ra quyết định có lợi trong
thời hạn ngắn và khi nào, ở đâu để sản xuất phục vụ thị trường cũng như giá
cả mà họ mong đợi có được. Thông tin thị trường cũng có những chức năng
quan trọng khác, giúp nông dân quyết định sản xuất cái gì. Từ đó giúp người
nông dân biết được những xu hướng, cơ hội thị trường và họ có cơ hội thành

chuyển, nhà nước cũng đã tổ chức lưu thông với khối lượng lớn trong những năm 1989 –
1991 so với các năm 1976–1980. Cũng chính các chính sách của Nhà nước từkhi đổi mới
đến nay cũng đã có tác dụng tích cực, to lớn thúc đẩy sản xuất lương thực phát triển nhanh,
liên tục, đạt mức tăng đáng kể, hàng nông sản được tựdo lưu thông theo cơ chế thịtrường,
mởrộng và tăng cường xuất khẩu kích thích sản xuất lương thực phát triển ngày càng hiệu
quả.
Theo Dương Ngọc Trí (2007)[29], Việt Nam tham gia hội nhập là đã tác động rất
lớn đến mở rộng thương mại hàng hóa nói chung và thương mại nôngsản nói riêng với xu
hướng “ càng chủđộng hội nhập, Việt Nam càng mởrộng thương mại và đưa lợi ích kinh tế
ngày càng cao”
Trong hơn thập kỷ qua, nông nghiệp nước ta đã phát triển với tốc độ
cao, đã hình thành nhiều vùng chuyên canh, sản xuất dư thừa nhiều loại nông
sản phẩm, không những đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước về lương thực,
thực phẩm mà còn tham gia xuất khẩu, đứng vị trí cao trên thế giới. Năm
2005 kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản đạt 5.977 triệu USD chiếm 18,44%
kim ngạch xuất khẩu cả nước, (Trần Văn Đạt, 2007 )[2]. Đây là tỷ lệ rất cao
so với các nước khác, và càng có ý nghĩa khi nông nghiệp nước ta ở trình độ
còn thấp, xuất khẩu sản phẩm thô là chính. Trong tương lai khi ngành chế
13
biến nông sản phát triển thì tỷ lệ này chắc chắn còn cao hơn nữa.
Tuy nhiên, hiện nay nông sản hàng hoá chất lượng cao của ta chưa nhiều, sản phẩm
xuất khẩu chủyếuởdạng thô, giá trịthấp, tính cạnh tranh nông sản hàng hoá trong khu vực
và trên thịtrường thế giới còn yếu, thị trường nông sản tổ chức chưa chặt chẽ, tính ổn định
không cao. Cơ sở thương mại phục vụ tiêu thụ còn hạn chế, các hệ thống kênh thị trường
hoạt động còn chưa thông suốt, hiệu quả thương mại còn khiêm tốn, cũng như còn có sự
mất cân đối trong phân phối hiệu quả, lợi nhuận giữa các thành phần tham gia thị trường
trong từng loại nông-lâm sản trong từng thịtrường khu vực, đó là những thách thức lớn đối
với quản lý nhà nước trong tiêu thụnông sản hàng hóa trong thời gian tới.
Giá các mặt hàng nông sản xuất khẩu của ta đang tiếp cận dần với giá bình quân thế
giới, song đểbán sản phẩm với giá bằng hoặc cao hơn giá thếgiới cần nghĩ tới cải tiến chất

trong sản xuất nông nghiệp. Sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, kinh tế xã hội, gắn lợi ích trước mắt với hiệu quả lâu dài, bền
vững, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường và cải tạo môi trường sinh
thái (Nguyễn Duy Tính, 1995)[23], (Đào Thế Tuấn, 1997)[25]. Việc xây dựng
cơ cấu cây trồng mới phải góp phần hình thành nền nông nghiệp bền vững.
Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đòi hỏi sự quản lý thành
công các nguồn tài nguyên nông nghiệp, để thỏa mãn nhu cầu đang thay đổi
của con người trong khi vẫn duy trì hay tăng cường cơ sở tài nguyên thiên
nhiên và tránh được sự suy thoái môi trường.(Lưu Đức Hải,2001)[5].
Theo FAO (1980)[38], thì Phát triển bền vững là sự quản lý bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi về nông nghiệp và tổ chức sao
cho đạt tới và thỏa mãn nhu cầu của con người ở hiện tại cũng như tương lai.
15
Sự phát triển bền vững đó có thể là bảo vệ đất nước, bảo tồn các tài nguyên
thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường.
Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng nhiều khi có
tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội. Khái niệm về phát triển
nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉ hình
thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và xuất bản [22]. Điều cơ
bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc
sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường để giữ gìn những tài nguyên
cơ bản nhất cho thế hệ sau.
Theo FAO (1989)[39], thì nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có
hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con
người; đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường và
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Còn theo Bộ Nông nghiệp Canada thì hệ thống nông nghiệp bền vững
là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu của xã hội về an ninh lương
thực; đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi
trường sống cho đời sau[38]. Các định nghĩa có thể có nhiều cách biểu thị

hữu cơ với nhau được gọi là tính hệ thống. Vì vậy, muốn nghiên cứu một sự
vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ
sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng, bản chất của chúng
(Đào Châu Thu, 2003)[24].
Lý thuyết hệ thống đã được nhiều người nghiên cứu và được áp dụng
ngày càng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học giúp cho sự hiểu biết và giải
thích các mối quan hệ tương hỗ. Cơ sở lý thuyết hệ thống đã được
L.Vonbertanlanty đề xướng vào đầu thế kỷ XX, đã được sử dụng như một cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status