Nghiên cứu tận dụng vỏ trái ca cao làm nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ sinh học - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TẬN DỤNG VỎ TRÁI
CACAO LÀM NGUYÊN LIỆU ĐỂ SẢN
XUẤT PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 192.RD/ HĐ-KHCN

CHỦ TRÌ THỰC HIỆN: KS. BÙI THANH BÌNH

lý tính và tác động đến sinh tính của đất.
Trong vỏ trái cacao đã có một tổ hợp nhiều nhóm vi sinh vật tự nhiên
nhưng chúng thường không đặc hiệu nên quá trình phân huỷ phải rất lâu (trên
8 tháng). Vỏ trái cacao có thành phần khó phân hủy là xenlulo và pectin với
hàm lượng khá cao. Nếu nhanh chóng phân hủy 2 thành phầ
n này thì sẽ rút
ngắn được thời gian ủ và sớm có phân bón cho cây. Sử dụng nấm đối kháng
Trichoderma để ủ vỏ trái cacao ngoài khả năng phân hủy nhanh 2 thành phần
xenlulo và pectin, rút ngắn thời gian ủ, còn có tác dụng tiêu diệt, khống chế
ngăn ngừa các loại nấm bệnh hại cây trồng như Rhizoctonia solani, Fusarium,
Pythium, Phytophthora sp., Sclerotium rolfsii,… tạo ra sản phẩm phân bón
hữu cơ “sạch” cho cây trồng.
Mục tiêu của
đề tài là: tận dụng vỏ trái cacao làm thành nguyên liệu để
sản xuất phân bón hữu cơ sinh học dùng cho các vườn cây trái.

2

MỤC LỤC
Lời nói đầu i
Mục lục . .ii
Danh mục bảng . iv
Danh mục biểu đồ vi
Danh mục hình ảnh .vii
Danh mục qui trình .vii
Tóm tắt đề tài viii
MỞ ĐẦU . .1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU . .2
1.1. Tình hình nghiên cứu trong n
ước . .2

ủ 26
3.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế
độ đảo trộn đến chất lượng phân bón và
thời gian ủ .29
3.3. Sản xuất thử nghiệm phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao .32
3.4. Phân tích đánh giá chất lượng sản phẩm phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái
cacao …33
3.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao .37
3.5.1. So sánh giá thành sản phẩm đề tài và m
ột số loại phân hữu cơ khác trên
thị trường .37
3.5.2. Thử nghiệm sử dụng phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao để trồng cải
xanh .34
3.5.3. Thử nghiệm sử dụng phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao để bón lót
cho cây cacao xuất vườn .35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .43
Kết lu
ận .43
Kiến nghị .43
TÀI LIỆU THAM KHẢO .44
PHỤ LỤC .45

4

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sản lượng các nước sản xuất cacao chính trên thế giới 7
Bảng 2: Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của vỏ trái cacao . 18
Bảng 3: So sánh kết quả phân tích vỏ cacao với số liệu của Wood và Lass,
2001 18
Bảng 4: Thành phần của nguyên liệu sử dụng trong thí nghiệm . 19
5

Bảng 21: Chi phí sản xuất phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao 34
Bảng 22: So sánh phân bón đề tài với một số loại phân bón hữu cơ trên thị
trường .35
Bảng 23: So sánh năng suất rau cải xanh 35
6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TN1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ vỏ cacao/phân bò đến chất lượng
phân hữu cơ
Biều đồ 1: Ảnh hưởng của tỉ lệ vỏ/phân đến sự thay đổi nhiệt độ . 19
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của tỉ lệ vỏ/phân đến sự thay đổi pH . 20
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của tỉ
lệ vỏ/phân đến sự thay đổi nitơ tổng . 21
TN2: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng super lân đến sự thất thoát
đạm
Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của hàm lượng super lân đến sự thay đổi nitơ tổng . 24
TN3: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng chế phẩm sinh học đến thời
gian ủ
Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của hl chế phẩm sinh họ
c đến sự thay đổi nhiệt độ . 26
Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của hl chế phẩm sinh học đến sự thay đổi pH . 26
Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của hl chế phẩm sinh học đến sự thay đổi nitơ tổng . 28
TN4: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ đảo trộn đến chất lượng phân bón
DANH MỤC QUI TRÌNH
Qui trình 1 : Qui trình sản xuất thử nghiệm phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái
cacao với chế phẩm sinh học Bima, qui mô 1 tấn/khối ủ .32

8

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài “Nghiên cứu tận dụng vỏ trái cacao làm nguyên liệu để sản xuất
phân hữu cơ sinh học” được thực hiện từ 1/2009 – 12/2009 với sự phối hợp
giữa Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu với Hội nông dân xã Châu Bình,
huyện Giồng Trôm, tỉnh bến Tre.
Trên cơ sở phân tích thành phần dinh dưỡng của vỏ trái cacao Bến Tre
và ứng dụng chế phẩm sinh học Trichoderma, đề tài đã xây dựng qui trình kỹ
thuậ
t ủ vỏ trái cacao thành phân hữu cơ sinh học như sau: Sử dụng nguyên liệu
vỏ cacao 70%, phân bò khô 30%, chế phẩm Trichoderma 0,4%, super lân 2%,
với điều kiện độ ẩm 55-60%, phương pháp ủ nóng trước nguội sau. Thời gian
phân hủy 60-70 ngày.
Sản phẩm phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao của đề tài đạt chất
lượng theo Quyết định số 100/2008/QĐ-BNN.

9

MỞ ĐẦU
Cơ sở pháp lý của đề tài

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1. Tình hình phát triển cây cacao
Cây cacao đã du nhập vào Việt Nam từ lâu và được trồng rải rác ở
nhiều vùng địa lý khác nhau từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên
Nam Trung bộ. Vì nhiều lý do khác nhau, trước đây cacao ở Việt Nam chưa
bao giờ được trồng đến quy mô lớn. Vào thập niên 80, với sự khuyến khích
của Nhà Nước, cacao được trồng rộng rãi ở các tỉnh miền Trung và miền Nam.
Tuy nhiên vào thời điểm đ
ó, các doanh nghiệp Nhà Nước hỗ trợ cho chương
trình này không xây dựng được một kênh thu mua và thị trường cho sản phẩm
nên toàn bộ ngành sản xuất cacao đã sụp đổ.
Năm 2005, Ban Điều phối Phát triển Cacao Quốc gia được Bộ NN và
PTNT thành lập nhằm giúp Bộ định hướng phát triển cho ngành cacao Việt
Nam. Cũng trong năm 2005, Bộ KH và CN cũng đã ban hành Tiêu chuẩn hạt
cacao Việt Nam nhằm giúp người sản xuất có cơ sở
để sản xuất hạt cacao chất
lượng cao. Năm 2006, lần đầu tiên 8 dòng cacao thương mại trong bộ giống do
Trường Đại học Nông lâm TP.HCM khảo nghiệm được Bộ NN và PTNT công
nhận và cho phép trồng rộng rãi trên toàn quốc. Đây là 2 sự kiện có ý nghĩa về
mặt pháp lý để cacao trở thành cây trồng chính trong hệ thống canh tác ở Việt
Nam.
Theo kế hoạch phát triển ca cao thì đến năm 2015 diện tích ca cao của
cả nước sẽ là 60.000 ha v
ới sản lượng hạt khô khoảng 52.000 tấn và đến năm
2020 diện tích sẽ đạt 80.000 ha, sản lượng 108.000 tấn. Tuy nhiên, tính đến
tháng 11/2009, cả nước mới chỉ trồng được 12.207,6 ha ca cao tại 17 tỉnh ở
Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với sản lượng hàng năm khoảng 1.000
tấn. Các tỉnh trồng nhiều ca cao hiện nay là Bến Tre 4.900 ha, Đăk Lăk 1.483
ha, Bình Phước 1.360 ha, Tiền Giang 1.335,7 ha…

Có 3 phương pháp ủ phân chuồng
- Ủ nóng (ủ xốp): Lấy phân ra khỏi chuồng, chất thành lớp, không được
nén, tưới nước, giữ ẩm 60-70%, có thể trộn thêm 1% vôi bột và 1-2% Super
Lân, sau đó trét bùn che phủ cho kín hàng ngày tưới nước, thời gian ủ ngắn 30-
40 ngày, ủ xong là sử dụng được.
- Ủ nguội (ủ chặt): Lấy phân ra khỏ
i chuồng xếp thành lớp, mỗi lớp rắc
khoảng (2%) lân, nén chặt. Đống phân ủ rộng khoảng 2-3m, cao 1, 5-2m, trét
bùn bên ngoài tránh mưa. Thời gian ủ lâu, 5-6 tháng mới xong.
- Ủ nóng trước nguội sau: Ủ nóng 5-6 ngày, khi nhiệt độ 50-60°c nén
chặt ủ tiếp lớp khác lên trên, trét bùn kín, có thể cho thêm vào đống phân ủ các
loại phân khác như: phân thỏ, gà, vịt làm phân men để tăng chất lượng phân.
* Phân Rác: là phân hữu cơ được chế biến từ: cỏ dại, rác, thân lá cây
xanh, rơ
m rạ…ủ với một số phân men như phân chuồng, lân, vôi…đến khi
mục thành phân (thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng).
Cách ủ: Nguyên liệu chính là rác 70%, cung cấp thêm đạm và kali 2%,
còn lại phân men (phân chuồng, lân, vôi). Nguyên liệu được chặt ra thành đoạn
ngắn 20-30cm xếp thành lớp cứ 30cm rắc một lớp vôi; trét bùn; ủ khoảng 20
ngày đảo lại rắc thêm phân men, xếp đủ cao trét bùn lại, để hở lỗ tưới nước
thường xuyên; ủ
khoảng 60 ngày dùng bón lót, để lâu hơn khi phân hoai có thể
dùng để bón thúc.
* Phân Xanh: là phân hữu cơ sử dụng các loại cây lá tươi bón ngay
vào đất không qua quá trình ủ do đó chỉ dùng để bón lót. Cây phân xanh
thường được dùng là cây họ đậu: điền thanh, muồng, keo dậu, cỏ Stylo, điên
điển…
* Phân Vi Sinh: là chế phẩm phân bón được sản xuất bằng cách dùng
các loại vi sinh vật hữu ích cấy vào môi trường là chất hữu cơ (như bột than
bùn). Khi bón cho

trong rau và các loại
cây thực phẩm sẽ là nguy cơ đe dọa sức khoẻ của con người và vật nuôi.
Một điều cần lưu ý khi sử dụng gia tăng lượng NPK thì lâu dài sẽ xảy ra
hiện tượng hiệu lực của chúng sẽ suy giảm. Điều này dễ hiểu khi chúng ta thấy
hàm lượng chất hữu cơ trong đất nông nghiệp ở nước ta còn ở mức từ trung
bình đế
n quá thấp. Nhất là trong xu thế hiện nay, việc sản xuất nông sản hữu
cơ đang được quan tâm ở các nước phát triển, vì vậy việc sử dụng nguồn hữu
cơ thiên nhiên và phân hữu cơ chế biến sẽ đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong
nước và đảm bảo việc mở rộng, ổn định thị trường xuất khẩu nông sản của
Việt Nam.
Lợi ích củ
a việc bón phân hữu cơ
- Cải thiện độ phì nhiêu và cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Làm giảm bớt lượng phân hóa học cần bón và làm gia tăng hiệu lực
của chính những loại phân hóa học đó
- Tăng thêm thành phần và mật độ, hoạt động của các loại vi sinh vật
hữu ích, giúp gia tăng sức khoẻ của đất, gia tăng sức sản xuất của đất. Chính
điều này làm gia tăng năng suấ
t, sản lượng và chất lượng các loại nông sản.
- Giúp cải thiện tính hấp thu của đất, cải thiện các tính chất lý-hóa-sinh
học của đất và đặc biệt là hạn chế ô nhiễm môi trường đất và nước ngầm do
quá trình rửa trôi
- Sử dụng phân hữu cơ chính là định hướng cho việc áp dụng qui trình
canh tác nông nghiệp hữu cơ, góp phần cho qui trình sản xuất theo tiêu

13

chuẩn GAP (Good Agriculture Practice) và xây dựng chiến lược sản xuất nông
nghiệp bền vững.

Điều đáng nói, dưới tác dụng của tập đoàn VSV có mặt trong chế phẩm
BIOVAC, toàn bộ P
2
O
5
, K
2
O và N tổng số đã chuyển hoá thành dạng dễ tiêu.
Số lượng VSV hữu ích trong 3 mẫu phân vượt chỉ tiêu qui định của Việt Nam
(>10
6
CFU/g).
- Đề tài “Xử lý mạt dừa sau trồng nấm bào ngư bằng xạ khuẩn” của tác
giả Lương Bảo Uyên, Tạ Thị Ánh Hồng, Trường ĐH KH Tự nhiên đã phân lập
được 3 chủng xạ khuẩn có khả năng phân hủy cellulose và lignin V4, V5, V7
từ đống mạt dừa đổ đống lâu ngày. Mạt dừa sau trồng nấm được ủ với xạ
khuẩn sau 60 ngày đã giảm hàm lượng cellulose từ 29,34% xu
ống còn 7,26%
và lignin giảm từ 58,69% xuống còn 34,63%, hàm lượng nitơ tăng từ 0,46%
lên 1,16%, tỉ lệ C/N là 19, thích hợp làm phân hữu cơ sinh học.
- Đề tài “Nghiên cứu xử lý vỏ cà phê thành phân hữu cơ” của thạc sĩ Lê
Hồng Phú trường ĐH Bách Khoa Tp.HCM đã chọn là chủng nấm mốc
Aspergillusniger (chủng vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose rất mạnh),
nhằm tạo ra chế phẩm enzym có hoạt tính phân giải mạnh pectin và cellulose.
Thử nghi
ệm enzym trên vỏ cà phê phế thải cho thấy, chỉ trong vòng 14 ngày,
hàm lượng pectin và cellulose giảm đáng kể. Quá trình lên men đã giảm 53%
tổng lượng pectin và 33,4% tổng lượng cellulose có trong vỏ ban đầu. Đánh
giá các chỉ tiêu hóa học như nitơ, kali, phốt pho và vi sinh cho thấy phân


2008/09. Barclays
cho rằng, thiếu hụt nguồn cung ca cao thế giới niên vụ 2009/10 sẽ được thu
hẹp xuống gần 100.000 tấn, từ mức ước tính 160.000 tấn trong niên vụ
2008/09.
Sản lượng cacao của Bờ Biển Ngà, quốc gia sản xuất cacao lớn nhất thế
giới, có thể không tăng trong niên vụ 2009/2010 do bị tác động của dịch bệnh
và sản lượng có thể đạt 1,1 triệu tấn so với mức sản l
ượng 1,29 triệu tấn năm
2008/2009.
Sản lượng ca cao của Ghana niên vụ tới dự đoán có thể đạt 750.000 tấn,
tăng từ ước tính 700.000 tấn niên vụ 2008/09. Hoạt động đầu tư tích cực của
Chính phủ trong lĩnh vực ca cao đã giúp sản lượng tăng khi các hệ thống kho
chứa hàng được nâng cấp cùng với những cải tiến khác. Ghana hiện là nước
sản xuất ca cao lớn thứ hai thế
giới.
Còn tại Indonesia, hiện tượng El Nino đã khiến sản lượng cacao của
nước này trong niên vụ 2009/10 giảm xuống còn 450.000 tấn, từ ước tính
470.000 tấn niên vụ 2008/2009. Indonesia là nước sản xuất ca cao lớn thứ 3

15

thế giới.
Bảng 1: Sản lượng các nước sản xuất cacao chính trên thế giới (1.000tấn)

Niên vụ 2006/07 Niên vụ 2007/08
Châu Phi 2.334 69,1% 2.578 69,4%
Cameroon 166 185
Bờ Biển Ngà 1.229 1.370
Ghana 615 675
Nigeria 190 210

nhập cho người trồng trọt bằng cách tận dụng phụ phẩm trong sản xuất nông
nghiệp. Đối với cây cacao, ngoài sản phẩm chính là hạt cacao khô làm nguyên
liệu để sản xuất sôcôla, các phụ phẩm như lá, vỏ trái, lớp áo hạt đều được
nghiên cứu tận dụng. Lớp áo hạ
t dạng cơm mềm, ướt, mùi rất thơm, chứa
nhiều đường (10 – 13%), pentosan (2-3%), acid citric (1-2%) và muối (7-19%)
có thể được sử dụng làm nước sinh tố, kem hoặc cô đặc làm nước cốt trái cây.
Dịch thu từ quá trình lên men được dùng chế biến rượu với hương vị rất đặc
trưng của cacao. Ngoài ra dịch này cũng có thể sử dụng như nguyên liệu để
sản xuất thạch thay thế nước dừa trong k
ỹ thuật sản xuất thạch dừa. Lá cacao
trong kỹ thuật canh tác thường xuyên được tỉa bỏ là nguồn thức ăn ổn định tốt
cho dê, bò và thỏ.
Tro đốt từ vỏ đã từng được sử dụng để làm xà phòng. Vỏ trái cacao khô,
xay nhỏ có thể độn vào thức ăn cho bò, cừu, dê với tỉ lệ lên tới 50%, cho heo
30%, cho gà 20%. Bò có thể ăn trực tiếp vỏ tươi thay thế cho khẩu phần c
ỏ voi
(trích theo Wood và Lass.2001). Theo Bo Gohl (1981) bột vỏ cacao có thể
thay thế bắp và trộn với tỉ lệ 35% vẫn không thay đổi mức tăng trọng của heo.
Nếu dùng vỏ trái làm thức ăn gia súc thì phải phơi khô ngay sau khi thu hoạch,
sau đó xay thành bột trộn vào thức ăn hoặc vo viên.
Thành phần vỏ trái cacao (nguồn: Wood và Lass – 2001)
Thành phần Trung bình (% của trọng lượng chất khô)
Protein 6.25
Chất xơ 27.30
Tro 8.10
Natri 0.01
Kali 3.20
Canxi 0.44
Photpho 0.09

- Phân bò khô: thu mua tại 2 địa điểm: Quận Gò Vấp, Tp HCM và huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Chế phẩm sinh học Trichoderma: là chế phẩm Bima thương mại của Trung
tâm Công nghệ sinh học Tp.HCM.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Phương pháp kế thừa: Áp dụng các qui trình ủ phân hữu cơ đã được
nghiên cứu, tham khảo tài li
ệu, lý thuyết, kinh nghiệm của các nhà Khoa học
đi trước.
2.2.2. Phương pháp phân tích: Phân tích đánh giá thành phần dinh dưỡng của
vỏ trái cacao và chất lượng của phân bón hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao (sản
phẩm đề tài) bằng các phương pháp phân tích theo TCVN, FAO, AOAC….
a. Phân tích thành phần dinh dưỡng vỏ trái cacao:

- Độ ẩm : phân tích theo phương pháp TCVN 5613 - 91
- Hàm lượng Nitơ : phân tích theo phương pháp TCVN 4593 – 88
- Hàm lượng Gluxit : phân tích theo phương pháp TCVN 4594 – 88
- Hàm lượng Xenlulo : phân tích theo phương pháp TCVN 5714 – 07
- Hàm lượng tro : phân tích theo phương pháp FAO 1986, 14/7, p.228
- Hàm lượng photpho : phân tích theo phương pháp AOAC 2000 (986.24)
- Hàm lượng Kali : phân tích theo phương pháp AOAC 2002 (963.13)
b. Phân tích đánh giá chất lượng phân hữu cơ sinh học:

- Độ ẩm : phân tích theo phương pháp GAFTA 2:1 - 1995
- Hàm lượng Nitơ tổng : phân tích theo phương pháp AOAC 955.04D
- Hàm lượng chất hữu cơ : phân tích theo phương pháp AOAC 967.05
- Hàm lượng tro : phân tích theo phương pháp TCVN 4327 -1993
- Hàm lượng P
2
O

cơ, nitơ tổng của khối ủ. Định kỳ đảo trộn, thêm nước giữ
độ ẩm.
* Các nghiệm thức
- NT 1: Tỉ lệ vỏ/phân bò : 8/2
- NT 2: Tỉ lệ vỏ/phân bò : 7/3
- NT 3: Tỉ lệ vỏ/phân bò : 6/4
- NT 4: Tỉ lệ vỏ/phân bò : 5/5
* Yếu tố cố định:
- Hàm lượng super lân: 3%
- Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma: 0,4%
- Phương pháp ủ nóng, đảo trộn vào các ngày thứ 10, 20 và 40 sau ủ
* Chỉ tiêu theo dõi:
- Độ ẩm - Nhiệt độ
- pH - Hàm lượng chất hữu cơ
- Hàm lượng Nitơ tổng
* Ch
ỉ tiêu đánh giá: Tỉ lệ C/N
TN2. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng super lân đến sự thất thoát
đạm
- Mục đích thí nghiệm: xác định được hàm lượng super lân thích hợp để sự

20

thất thoát đạm trong quá trình ủ là tối thiểu.
- Địa điểm tiến hành: Quận Gò Vấp – TP.HCM
- Thời gian thực hiện: 2/2009 – 7/2009
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, khối lượng mỗi
lần lặp lại: 50kg/khối ủ.
* Cách thức tiến hành thí nghiệm:

để đạt được thời gian ủ tối ưu

21

- Địa điểm tiến hành: Quận Gò Vấp – TP.HCM
- Thời gian thực hiện: 2/2009 – 7/2009
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, khối lượng mỗi
lần lặp lại: 50kg/khối ủ.
* Cách thức tiến hành thí nghiệm:
Vỏ trái cacao sau khi băm, chặt, đập nhỏ được trộn với phân bò khô, tỉ

lệ 7/3. Chế phẩm sinh học Trichoderma với các hàm lượng khác nhau được
trộn đều với 3% phân super lân. Trộn đều hỗn hợp super lân và chế phẩm sinh
học với hỗn hợp vỏ trái cacao và phân bò nói trên. Tưới dung dịch nước urê
1% vào, để độ ẩm khối ủ đạt 55-60%, trộn đều.
Trải bạt nilông bên dưới, cho hỗn hợp đã trộn đều lên, phủ bạt nilong
lên che kín, đậy bao bố lên khối ủ để gi
ữ nhiệt.
Theo dõi nhiệt độ, pH, lấy mẫu phân tích độ ẩm, hàm lượng chất hữu
cơ, nitơ tổng của khối ủ. Định kỳ đảo trộn, thêm nước giữ độ ẩm.
* Các nghiệm thức
- NT 1: Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma : 0%
- NT 2: Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma : 0,2%
- NT 3: Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma : 0,4%
- NT 4: Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma : 0,6%
* Yếu tố cố đị
nh:
- Tỉ lệ vỏ cacao/ phân bò : 7/3
- Hàm lượng super lân: 3%

Theo dõi nhiệt độ, pH, lấy mẫu phân tích độ ẩm, hàm lượng chất hữu
cơ, nitơ tổng của khối ủ. Định kỳ đảo trộn, thêm nước giữ độ ẩm.
* Các nghiệm thức:
- NT 1: Ủ nóng, đảo trộn vào các ngày thứ 10, 20 và 40 sau ủ
- NT 2: Ủ nguội, đảo trộn vào các ngày thứ 10, 20 và 40 sau ủ
- NT 3: Ủ nóng trước, nguội sau, đảo trộn vào các ngày thứ 10, 20
và 40 sau ủ
* Y
ếu tố cố định:
- Tỉ lệ vỏ cacao/ phân bò : 7/3
- Hàm lượng super lân: 3%
- Hàm lượng chế phẩm sinh học Trichoderma: 0,4%
* Chỉ tiêu theo dõi:
- Độ ẩm - Nhiệt độ
- pH - Hàm lượng chất hữu cơ
- Hàm lượng Nitơ tổng
* Chỉ tiêu đánh giá: Tỉ lệ C/N, Thời gian ủ,
TN5. Sản xuất thử nghiệm phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao, qui mô 1
tấn/khối ủ.
- Mục đích thí nghiệm
: áp dụng qui trình kỹ thuật ủ phân hữu cơ sinh học từ vỏ
trái cacao với qui mô 1 tấn/khối ủ.
- Địa điểm tiến hành: ấp 1, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Thời gian thực hiện: 8/2009 – 11/2009

23

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành ủ 5 khối ủ, qui mô mỗi
khối: 1 tấn nguyên liệu.
* Cách thức tiến hành thí nghiệm:

* Mô tả thí nghiệm: Hạt giống cải xanh được gieo trồng và chăm sóc
theo qui trình của nông dân địa phương như sau (với diện tích 10m
2
):
- Bón lót: + Phân gà: 10 kg (10 tấn/ha)
+ Phân lân Lâm Thao: 1.2 kg (1.2 tấn/ha)
- Bón thúc: + Phân gà: 20 kg (20 tấn/ha)
+ Phân NPK: 0.28 kg (280kg/ha)
+ Phân vi sinh 3:1:1 : 1.2 kg (1.2 tấn/ha)

24

* Các nghiệm thức:
- NT1: Đối chứng, bón bằng phân gà như hiện nay vẫn làm
- NT2: Thay lượng phân gà bằng phân hữu cơ vỏ cacao đề tài
- NT3: Thay lượng phân gà bằng phân hữu cơ có trên thị trường.
* Chỉ tiêu đánh giá: Năng suất.
TN7. Thử nghiệm sử dụng phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao để bón lót
cho cây cacao xuất vườn
- Mục đích thí nghiệm: đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của phân h
ữu cơ sinh
học từ vỏ trái cacao.
- Địa điểm tiến hành: ấp 1, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2009
- Vật liệu thí nghiệm:
* Phân hữu cơ sinh học từ vỏ trái cacao
* Phân bò khô, super lân, phân N P K 16-16-8
* Cây cacao xuất vườn
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn
ngẫu nhiên, gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 50 cây cacao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status