3
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN DỆT MAY BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ CÔNG THƯƠNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THIẾT BỊ ĐO CƠ THỂ 3D TRONG XÂY DỰNG
BỘ MẪU KỸ THUẬT CHUẨN CHO SẢN PHẨM QUẦN ÂU VÀ
SƠ MI NAM
Mã số đề tài: 19.11RD/HĐ-HĐKHCN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THIẾT BỊ ĐO CƠ THỂ 3D TRONG XÂY DỰNG
BỘ MẪU KỸ THUẬT CHUẨN CHO SẢN PHẨM QUẦN ÂU VÀ
SƠ MI NAM
Thực hiện theo Hợp đồng số
19.11RD/H§-KHCN ký ngày 10 tháng 03 năm 2011 giữa
Bộ Công Thương và Viện Dệt May Những Người thực hiện chính:
KS. Bùi Thúy Nga – chủ nhiệm đề tài
Th.s Đỗ Phương Nga
CN. Ngô Thu Nga
TS. Thẩm Thị Hoàng Điệp
Trần Thanh Sơn
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
1.2.1. Tóm tắ
t quá trình nghiên cứu và hình thành các hệ thống cỡ số
cơ thể người ở các quốc gia trên thế giới
11
1.2.2. Lịch sử phát triển các hệ thống cỡ số tại Việt Nam 15
1.2.3. Thực trạng việc ứng dụng các hệ thống cỡ số tại các doanh
nghiệp may Việt Nam
18
1.3
Tổng quan về thiết kế mẫu trong sản xuất công nghiệp
19
1.3.1. Các phương pháp thiết kế m
ẫu kỹ thuật 20
1.3.2. Quy trình thiết kế mẫu kỹ thuật trong sản xuất may công nghiệp 21
1.3.3. Tám nguyên lý cơ bản trong thiết kế may mặc 22
Chương 2: TIẾN HÀNH KHẢO SÁT NHÂN TRẮC HỌC BẰNG THIẾT BỊ QUÉT
CƠ THỂ NGƯỜI BA CHIỀU VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ CƠ THỂ NAM
GIỚI
26
2.1
Thiết kế cuộc khảo sát nhân trắc
26
2.1.1. Mục tiêu khảo sát số đo nhân trắc 26
2.1.2. Công nghệ và độ chính xác của phương tiện 26
2.1.3. Sự phù hợp các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế 26
2.1.4. Lựa chọn đối tượng đo 27
2.1.5. Triển khai đo 29
2.2
Xử lý thống kê số liệu đo nhân trắc
6
4.2
Thiết kế mẫu cơ sở
68
4.2.1. Thiết kế mẫu cơ sở cho sản phẩm áo 70
4.2.2. Thiết kế mẫu cơ sở cho sản phẩm quần 73
4.2.3. Thử mẫu cơ sở 75
4.3 Thiết kế sản phẩm thời trang 84
4 3.1. Thiết kế sản phẩm sơ mi nam công sở 84
4.3.2. Thiết kế sản phẩm quần âu nam công sở 87
4.3.3. Thử mẫu thời trang 89
K
ết luận và kiến nghị 95
Tài liệu tham khảo 96
Phụ lục 98
là từ các hợp đồng gia công sản phẩm.
Ngành dệt may Việt Nam hiện tại có thể t
ận dụng một số cơ hội để phát
triển sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc , qua đó tạo thêm cơ hội và nguồn lực
mới cho các doanh nghiệp dệt may cả về tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản
xuất. Đặc biệt, việc phát triển thị trường nội địa hiện đang là một trong những
chiến lược phát triển ngành đến nă
m 2015.
Tuy vậy, ngành Dệt may Việt Nam vẫn còn những điểm yếu nhất định.
Xuất phát điểm của Dệt may Việt Nam còn thấp, công đoạn dệt nhuộm và phụ
trợ chưa phát triển, nguyên phụ liệu chủ yếu là nhập khẩu, tỷ lệ gia công cao,
năng lực cạnh tranh còn yếu hơn các nước trong khu vực và trên thế giới; mối
liên kết giữa các khâu phục vụ sả
n xuất và kinh doanh còn chưa được chú trọng
đúng mức, hiệu quả kinh doanh thấp, chưa bền vững. Đặc biệt, khâu phát triển
sản phẩm còn khá yếu kém, mẫu mã kém da dạng, các công ty may Việt Nam
cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng về độ vừa vặn của sản
phẩm, do sản xuất dựa trên thông số kích thước của các đơn hàng gia công cho
nước ngoài rồi điều chỉnh cho phù h
ợp với người Việt Nam. Chính vì vậy, việc
xây dựng các bộ mẫu thiết kế chuẩn cho người Việt Nam, phục vụ thị trường
may mặc nội địa là điều rất cấp thiết.
Kế thừa đề tài nghiên cứu Xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người phục vụ
cho sản xuất hàng may mặc của Viện Dệt May năm 2008, các đề tài nghiên cứ
u
ứng dụng để đưa kết quả nghiên cứu này vào thực tế sản xuất là rất cần thiết.
8
Năm 2010, Viện Dệt May cũng đã hoàn thành đề tài nghiên cứu Xây dựng phân
cấp các bảng cỡ số dành cho một số sản phẩm may nữ giới. Vì vậy, đề tài này
9
CHƯƠNG I:
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ QUÉT CƠ THỂ NGƯỜI 3D VÀ CÁC
ỨNG DỤNG:
1.1.1. Giới thiệu về thiết bị quét cơ thể 3D:
Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các ứng
dụng tiên tiến trong ngành dệt may cũng cũng liên tục được cập nhật. Thiết bị
quét cơ thể 3D là một trong những ứng dụng như vậy.
Có thể
nói, thiết bị quét cơ thể 3D ra đời tạo nên một cuộc cách mạng
trong nghiên cứu nhân trắc học cơ thể người. Nguyên lý chung của thiết bị là sử
dụng ánh sáng trắng hoặc laser thế hệ 1 để quét toàn bộ cơ thể người đo, sau đó
máy sẽ tự tạo ra một hình mẫu cơ thể 3D với tỷ lệ thực chỉ trong vài phút. Với
hình mẫu này. người ta có thể sử d
ụng cho rất nhiều mục đích khác nhau như:
• Thử quần áo cho khách hàng.
• Phát triển hệ thống cỡ số cho sản phẩm dệt may.
• Phát triển các sản phẩm 3D, bao gồm cả sản phẩm dệt may, ghế ô
tô và các dụng cụ khác.
• Phân tích hình dạng cơ thể.
• Sản xuất phim hoạt hình và đồ họa.
• Ứng dụng y tế…
Thiết bị quét cơ th
ể 3D đã được nhiều hãng phát triển. Những máy quét
khác nhau (như [TC]
2
body scanner là thiết bị có phạm vi đo tương đối rộng, đối tượng
được đo có thể cao tới 2.1m và rộng tới 1.2m.
- TC
2
body scanner tạo ra mật độ dữ liệu 3D dày đặc. Nó sẽ tự động loại
tạp âm, lọc dữ liệu, làm trơn dữ liệu, điền đầy các khoảng trống, nén dữ
liệu và tự động tạo ra một hình mẫu 3D của đối tượng đo.
- TC
2
body scanner tự động trích ra hàng trăm số đo kích thước cơ thể.
Đồng thời nó cũng cho phép người sử dụng có thể xác định bất cứ số đo
nào cần cho các ứng dụng của họ bằng cách sử dụng các giao diện đơn
giản.
- Hình dạng và các phần cơ thể được lấy hoàn toàn tự động.
- Tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng mà các dữ liệu đầu ra có th
ể được
chuyển trực tiếp đến các ứng dụng CAD dùng trong may đo, phần hoạt
hình 3D hoặc các gói công nghệ khác.
- TC
2
có thể hjỗ trợ bất kỳ dạng thức dữ liệu nào kèm theo máy quét, tuỳ
thuộc yêu cầu khách hàng như VRML, IGES, ASCII…Dữ liệu có thể
xuất trực tiếp sang Excel hoặc các phần mềm khác.
- Với đặc tính dễ sử dụng, thiết bị này chỉ cần khoá đào tạo ngắn khoảng 4
ngày để giúp khách hàng có thể tháo lắp, vận chuyển và vận hành thiết bị.
1.1.2. Ứng dụng thiết bị
quét cơ thể 3D trong việc khảo sát nhân trắc học:
11
Nhóm làm việc cho dự án CAESAR (Nguồn nhân trắc học cộng đồng
người Mĩ
và châu Âu) do Viện nhân trắc học và Phòng thí nghiệm phát triển tại
12
Căn cứ không quân Wright Pattern, Hội nghiên cứu Ottawa, Canada, Đại học
Iowa, Khoa nhân học tại Đại học Loughborough và TNO. Dự án sử dụng công
nghệ quét cơ thể người của Cyberware và được tài trợ 40.000 USD từ mỗi công
ty. Nhóm làm việc thu thập hơn 10000 mẫu quét tại Bắc Mĩ và Ý. Mục tiêu
nghiên cứu gồm nhiều nhóm cân nặng, dân tộc, giới tính, vùng địa lí và địa vị
kinh tế xã hội. Trong cuộc điều tra gồm mỗi người đượ
c quét ba mẫu: một ở vị
trí đứng, hai ở vị trí ngồi và 40 số đo được thực hiện theo phương pháp truyền
thống.
3. Nedscan (2000-2002)
Trong vòng 50 năm, người Hà Lan tăng 8 cm chiều cao. Chiều cao trung
bình của nam giới là 1.84 m và nữ là 1.71 m. Người Hà Lan là những người cao
nhất trên thế giới và chiều cao của họ còn tiếp tục tăng. Vì vậy, các thông số cơ
thể chính xác là cần thiết cho việc thiết kế và phát triển nhữ
ng sản phẩm phù
hợp.
NedSan là một phần của dự án CAESAR, đo kích thước cơ thể của người
Hà Lan. Trong tháng 8 năm 1999, dự án NedScan bắt đầu với hơn 2000 đối
tượng tại Soesterberg và hoàn thành công việc tại Hà Lan vào tháng 9 năm
2000. Sau đó, dự án tiếp tục thực hiện tại Ý từ tháng 6 năm 2000 đến 2002.
TNO sử dụng máy quét cơ thể 3D để đo 42 bộ phận cơ thể của 1255 nam, nữ
Hà Lan tuổi từ 18 đến 65.
4. Cỡ số Anh (1999-2002)
Năm 1999, chính phủ Anh tiến hành một đề tài nghiên cứu toàn quốc và
tại ‘Cỡ số Anh’, ‘Cỡ số Mĩ’
được tiến hành bằng công nghệ tương tự với cuộc điều tra trên toàn nước Mĩ.
Cuộc điều tra hoàn thành ngày 16 tháng 12 năm 2003 với 10800 mẫu quét.
Những nhà tài trợ mức cao được quyền sử dụng những số liệu điều tra ban đầu.
Những sản phẩm quần áo từ kết quả ‘Cỡ số Mĩ’ xuất hi
ện trên thị trường năm
2003.
6. Kích thước cơ thể người Châu Phi (2004-nay)
Kích thước cơ thể người Châu Phi (ADB) là tổ chức liên doanh ban đầu
với mục đích thành lập một cơ sở dữ liệu nhân trắc học toàn Châu Phi đáp ứng
yêu cầu phân cỡ số. Viện Công nghệ Erogonomics và Đại học Potchefstroom
phụ trách cơ sở dữ liệu nhân trắc của lực lượng bảo vệ quốc gia Nam Phi
(SANDF), hiện đang là cơ sở dữ liệu nhân trắc học lớn nhất Nam Phi và có thể
là cả Châu Phi. Đại học Pretoria tổ chức Hội nghị chuyên đề cỡ số quần áo và
kiểu cắt vào năm 2000 là điểm khởi đầu cho việc phát triển thành ADB. Một
chiếc máy quét toàn bộ cơ thể được đặt trong xe lưu động di chuyển khắp đất
nước để đo. Yêu cầu từ ngành công nghi
ệp dệt may càng trở nên cần thiết vì
14
nhân khẩu tăng nhanh ở Nam Phi trong những năm gần đây do toàn cầu hoá, sự
phát triển của thị trường không chính thức và sự cần thiết thông tin khách hàng
mới. Ngành công nghiệp Dệt may nhận thấy nhu cầu cần có một hệ thống cơ sở
dữ liệu nhân trắc học cho Nam Phi để đáp ứng vấn đề cung cấp quần áo vừa
vặn cho nhiều đối tượng mặc.
7. Khảo sát cỡ
số nữ ở Trung Quốc đại lục:
Đại học Đông Hoa và tập đoàn Wacoal thành lập Trung tâm nghiên cứu
phát triển khoa học con người tại Thượng Hải. Từ 1997 đến 1999, 1100 phụ nữ
Trung Quốc được đo phần trên cơ thể trần. Từ 1999 đến 2000, Trung tâm thực
• Cảm quan và định lượng sự vừa vặn (Ashdown, Locker, Shoenfelder, &
Lyman-Clacke,2004; Lee, Ashdown, & Slocum,2006; Voellinger
Griffey,2006; Xu, Huang, Yu, & Chen,2002);
• Xây dựng hệ thống kích thước (Loker, Ashdown, & Schoenfeder,2005);
• Kiểm tra sự vừa vặn cảm quan (Loker, Ashdown, & Carnite, 2008);
• Phân loại dạng người (FFIT do hãng TC
2
thực hiện, BSAS do một số trường
đại học danh tiếng của Mỹ thực hiện. Cả hai nghiên cứu này đều sử dụng
thiết bị của hãng TC
2
).
1.2. TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ:
1.2.1. Tóm tắt quá trình nghiên cứu và hình thành các hệ thống cỡ số cơ thể
người tại các quốc gia trên thế giới:
Việc khảo sát nhân trắc học nhằm tiến tới những ứng dụng trong may
mặc đã được các quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện từ rất sớm. Ở Mỹ,
ngay từ năm 1921, người ta đã ti
ến hành điều tra 100000 nam giới trong quân
đội Mỹ nhằm đưa ra báo cáo đầu tiên về ký hiệu cỡ quần áo. Từ những năm
1950, các cuộc khảo sát cỡ số cũng đã được tiến hành tại các quốc gia Châu Âu.
Tại Châu Á, Nhật Bản là nước đầu tiên thực hiện các cuộc khảo sát nhân trắc
học vào năm 1965-1966, tiếp theo là các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài
Loan…
Tuy nhiên, hầu hết các cuộc điều tra này
đều được thực hiện bằng phương
pháp đo tay truyền thống. Vào năm 1992-1994, Nhật Bản là nước đầu tiên trên
thế giới sử dụng máy quét cơ thể 3D để thực hiện một cuộc khảo sát lớn trên
phạm vi toàn quốc gia. Kết quả của cuộc khảo sát này được công bố trong ‘Số
16
Đo tay
Đo tay
Đo máy
1921
1937/1941
2002/2003
Quân đội Mỹ
Ủy ban tiêu chuẩn
Mỹ
TC
2
Anh Nữ 5000
2500
2500
2500
5500
37
>150
Đo tay
Đo máy
Đo máy
Đo máy
Đo máy
Đo tay
Đo tay
Đo tay
1965/66
1969/70
1969/70
1958
CETIH
Đức Nữ 8000
8500
8500
13
21
21
Đo tay
Đo tay
Đo tay
1957/61
1970
1981
Hohenstein
17
8600
1500
1100
24
82
82
Đo tay l
Nam (6-17)
Nữ (6-17)
Trẻ em
700
2950
1100
1100
300 30
26
Đo máy
Đo máy
Đo tay
Đo tay
Đo máy
1999/2000
1999/2000
1973
1973
1999/2000
SOMA
SOMA
ELKEPA
SOMA
Ý Nam/Nữ 1500 Đo máy 2002 D’appolonia
Tây Ban
Nha
Đo máy
Đo tay
Đo máy
Đo tay
Đo tay
1984
1999/2000
1984
2000
1984
1984
VGT Denhag
TNO
VGT Denhag
TNO
VGT Denhag
VGT Denhag
Thụy Điển Nữ
Nam
1000 22 Đo tay
Đo tay
1973
1975
TEFO, Goteborg
TEFO, Goteborg
Thổ Nhĩ
Kỳ
Nữ Đo tay 1994 Đại học Izmir
Phần Lan Nữ
Viện HQL
Trung
Quốc
Nam/Nữ/Trẻ
em
Nữ
14000
1100
2800
62
Đo tay
Đo máy
Đo máy
1984
1997/1999
2002
Trung tâm nghiên
cứu phát triển con
người (Thượng
Hải)
Thông thường các quốc gia tiến hành khảo sát nhân trắc học theo định kỳ
khoảng 10 năm một lần. Kết quả nghiên cứu sau đó được bổ sung vào các bảng
10.TGL 20866 - Số đo cơ thể quần áo ( Đức)
11. Gost 17521-72 - Số đo nhân trắc cho phân cỡ trang phục (Nga)
1.2.2. Lịch sử phát triển các hệ thống cỡ số tại Việt Nam :
Ngay từ khi ngành công nghiệp may phát triển ở Việt Nam các nghiên
c
ứu về nhân trắc để xây dựng cỡ số quần áo đã được quan tâm. Có thể kể đến
một số nghiên cứu trong nước trong thời gian qua:
- Năm 1966, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã ban hành 2 tiêu chuẩn
cỡ số đầu tiên có ứng dụng đo số liệu nhân trắc. Tiêu chuẩn đã phân loại 15 cỡ
áo sơ mi nam và 3 cỡ quần nam giới
- Năm 1970, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà n
ước đã ban hành các tiêu chuẩn
TCVN 371-70 và TCVN 372-70 cỡ số quần áo trẻ em với việc lựa chọn 8 thông
số kích thước ; TCVN 373 và TCVN 374: cỡ số trẻ em gái với 34 thông số kích
thước; TCVN 375-70 và TCVN 376-70 cỡ số trẻ em trai với 30 thông số kích
thước; TCVN 1267-72 và TCVN 1268-72 – Cỡ số quần áo nữ với 45 thông số
kích thước và TCVN 1680-75 và TCVN 1681-75 cỡ số quần áo nam với 42
thông số kích thước.
- Năm 1982, trong quân đội ban hành hệ thống cỡ số với 12 thông số kích
thước. Trong đó chiều cao là kích thước chủ đạo với 5 vóc, mỗi vóc chênh nhau
5 cm. Mỗi vóc chiều cao chỉ có một cỡ vòng ngực và một cỡ vòng eo
- Năm 1994, Tổng cục tiêu chuẩn ban hành các tiêu chuẩn:
+ TCVN 5781-1994- Phương pháp đo cơ thể người
+ TCVN 5782-1994 – Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo. Tiêu chuẩn này
qui định hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo cho:
• Trẻ sơ sinh: Gồm 10 cỡ với các kích thước ch
ủ đạo là chiều cao từ 50
tới 104 cm( cách 6 cm), vòng ngực từ 42 tới 56 cm; vòng bụng từ 44
đến 58 cm và vòng mông từ 44 đến 58cm .
20
tiêu chuẩn ISO, với phương pháp luận chặt chẽ, khoa học. Việc khảo sát cỡ số
cũng như xác định các kích thước cần đo được thực hiện theo đúng hướng dẫn
của tiêu chuẩn ISO 8559. Các bước tiến hành xây dựng hệ thống cỡ số cũng
được thực hiện theo tiêu chuẩn ISO TR-10652. Mặt khác, đề tài sử dụng
phương pháp nghiên c
ứu thành phần chính – một phương pháp toán học tiên
tiến – trong việc xác định các kích thước chủ đạo cũng như phân dạng cơ thể
21
người. Với việc phân cỡ theo dạng cơ thể, bảng cỡ số đã đáp ứng được đa số
dân số. Tuy nhiên, quá trình khảo sát nhân trắc học trong nghiên cứu này chỉ
được thực hiện bằng phương pháp truyền thống đo tay, vì vậy còn hạn chế trong
các ứng dụng tiếp theo.
So sánh giữa kết quả khảo sát năm 1999 với kết quả năm 2008, cũng có
thể thấy s
ự thay đổi về kích thước cơ thể người Việt Nam có những thay đổi rõ
rệt, thể hiện:
15.3
8
37.2
32.39
31.6
37.11
11.8
18.4
1.99
4
0.221
0.077
0
15
20
25
30
35
40
45
70 75 80 85 90 95 100
Năm 1999
Năm 2008
Hình 1.2. So sánh sự thay đổi về kích thước vòng ngực của nam giới
Việt Nam qua hai thời kỳ
22
Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy rằng việc xây dựng hệ thống cỡ số
cho người Việt Nam đã được quan tâm thực hiện từ sớm và đã cho kết quả tốt.
Đặc biệt, đề tài nghiên cứu của Viện Dệt May năm 2008-2009 đã xây dựng
được hệ thống cỡ số cơ thể người Việt Nam hoàn chỉnh, đáng tin cậy, là cơ sở
để có những nghiên cứ
u tiếp theo nhằm ứng dụng hiệu quả trong sản xuất may
công nghiệp.
1.2.3. Thực trạng việc ứng dụng các hệ thống cỡ số tại các doanh nghiệp
may Việt Nam:
Các doanh nghiệp may Việt Nam hiện nay chủ yếu gia công sản xuất
hàng xuất khẩu cho các doanh nghiệp nước ngoài. Khi đó, các kích thước thành
phẩm đã được doanh nghiệp đặt hàng quy định sẵn. Đối với thị trường trong
nước, các nhà sả
n xuất hoặc bắt chước các hệ thống cỡ số đã có hoặc sử dụng
các cỡ số đó với sự cải tiến dựa trên hiểu biết về khách hàng hiện tại và quá
thống kích thước cơ thể nam giới, từ đó xây dựng bộ mẫu thiết kế sản phẩm
quần âu và áo sơ mi nam trên cơ sở số đo nhân trắc, từ đó đưa ra bảng thông số
thành phẩm chuẩn, nhằm từng bước ứng dụng hệ thống cỡ số cơ thể ng
ười vào
thực tế sản xuất.
1.3. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ MẪU TRONG SẢN XUẤT CÔNG
NGHIỆP.
Tại các quốc gia có nền công nghiệp may mặc và thời trang phát triển,
việc hình thành hệ thống cỡ số chuẩn cũng như hoàn chỉnh các thiết kế cơ bản
phục vụ cho công nghệ may sẵn đã được hình thành từ rất lâu. Trên cơ sở đó,
các nhà nghiên cứu có thể đánh giá m
ột cách chi tiết và khoa học về sự thay đổi
của xu hướng thời trang hàng năm.
1.3.1. Các phương pháp thiết kế mẫu kỹ thuật :
Thông thường có ba phương pháp mà các nhà thiết kế thường sử dụng :
• Thiết kế theo phương pháp tính toán
• Thiết kế trên ma-nơ-canh.
• Kết hợp cả hai phương pháp trên.
1. Thiết kế theo phương pháp tính toán :
Hay còn gọi là phương pháp thiết kế phẳng 2D. Theo phương pháp này
người ta xác
định kích thước, hình dạng các chi tiết quần áo theo các kích thước
cơ thể, phù hợp với kiểu dáng sán phẩm và lượng dư cần thiết. Có hai cách thực
hiện :
24
• Thiết kế trực tiếp : tính toán và thiết kế ngay mẫu kỹ thuật hoàn chỉnh
theo các yêu cầu trên bản vẽ thiết kế thời trang. Phương pháp này có độ chính
xác không cao, phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm của người thiết kế. Thường
hiện nay chỉ được sử dụng trong may đo dơn chiếc.
của mẫu sau khi làm phẳng. Tuy nhiên độ chính xác không cao do phải tuân thủ
các điều kiện biên. Đồng thời, mẫu ở dạng phẳng cũng không thể hiện được rõ
sự hình thành các ly, chiết. Mặt khác, có thể thấy rõ rằng, tuy có cùng kích
thước nhưng dạng người khác nhau thì độ vừa vặn cũng như độ cân bằng của
sản phẩm cũng hoàn toàn khác nhau. Các mẫu cơ sở được tạo ra từ dạng kỹ
thuật 3D đã không tính đến yếu tố này.
1.3.2. Quy trình thiết kế mẫu kỹ thuật trong sản xuất may công nghiệp:
Việc sản xuất mẫu kỹ thuật trong công nghiệp thường được phát triển từ
mẫu cơ sở. Việc thiết kế mẫu cơ sở tuân theo các bước sau :
• Từ các thông số kích thước cơ thể, người thiết kế xây dựng bộ mẫu cơ sở
ban đầu, sau đó cắt ra vải và may mẫu. Mẫu này được thử trên cơ thể mẫu và
được đánh giá bởi cả người thiết kế thời trang và người thiết kế kỹ thuật. Mẫu
cơ sở ban đầu thường là cỡ trung bình, sau đó được may thử với nhiều loại vải
khác nhau để kiểm tra mức độ phù hợp với từng loại vải.
• Sau quá trình chỉnh sử
a, mẫu được nghiệm thu và nhập vào máy tính.
• Sử dụng mẫu cơ sở để phát triển mẫu mới phù hợp với các yêu cầu thiết
kế khác nhau.
• Nhảy cỡ mẫu kỹ thuật hoàn chỉnh để tạo ra một bộ mẫu sản phẩm. Số
lượng và tỷ lệ cỡ phụ thuộc vào nhóm đối tượng của sản phẩm và nhu cầu của
thị
trường.
• Kiểm tra lại độ chính xác của bộ mẫu kỹ thuật, xây dựng tài liệu kỹ thuật
và đưa vào sản xuất.
Mẫu kỹ thuật có thể được tạo ra từ thiết kế 2D, 3D hoặc kết hợp các phương
pháp thiết kế. Hệ thống thiết kế mẫu kỹ thuật (PDS) đã trở thành công cụ hữu
ích đối với người làm mẫu, giúp lư
u trữ lượng dữ liệu lớn và xử lý nhanh chóng,
chính xác. Ngoài ra, một số công ty phần mềm như Gerber Technology,
• Sự phù hợp của thành phần nguyên liệu, màu sắc với mục đích và đối
tượng sử dụng, với kiểu dáng thiết kế, với quá trình gia công sản phẩm.
• Nguyên liệu đảm bảo tính vệ sinh cao, tính thẩm mỹ, tính kinh tế…
Nguyên lý 4:
Cơ sở hình thành hệ thống cỡ số
• Cơ sở chuẩn để thiết kế: Nghiên cứu kỹ khả năng vận động của con người
thông qua các hoạt động phù hợp với lứa tuổi và giới tính.
• Các đặc điểm xác định hình dáng cơ thể người: các kích thước chủ đạo,
trọng lượng, vóc người, tư thế chuyển động…
27
• Khảo sát số đo nhân trắc và chọn cỡ số theo nhóm đối tượng mục tiêu.
Nguyên lý 5:
Trải bề mặt cơ thể trên không gian hai chiều là cơ sở cấu trúc quần
áo.
• Tạo sự êm phẳng, tương ứng hợp lý giữa hình dáng bên trong của quần áo
với bề mặt cơ thể được trải trên mặt phẳng.
Nguyên lý 6:
Sự biến đổi của kích thước cơ thể trong quá trình vận động là cơ
sở để tính toán lượng gia giảm cử động cho sản phẩm may.
• Kích thước từng phần của sản phẩm khi cơ thể ở trạng thái động phải
được nghiên cứu, điều chỉnh bằng lượng gia giảm cử động tối thiểu hay
còn gọi là cử động cơ bản cho các kích thướ
c cơ thể (G
CD
min).
• Đối với các kích thước chủ đạo để thiết kế quần áo mặc hàng ngày, lượng
G
CD
min - được xác định từ số liệu khảo sát thay đổi kích thước khi hít
n
Là bán kính cung tròn tương ứng với mặt ngoài của vải.
Nguyên lý 8:
Thiết kế chi tiết sản phẩm.