BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT - TCQLĐĐ
Số 78/9 đường Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
* * *
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT NHỮNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT
LƯỢNG TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH NÔNG NGHIỆP
TRONG CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT NHỮNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH NÔNG NGHIỆP TRONG CÁC DỰ ÁN
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Hà Nội, ngày tháng năm 2009
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Ks. Phạm Đăng Khoa
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
GIÁM ĐỐC
Trịnh Văn Toàn
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH THỨC
CHỦ TỊCH
III. Phạm vi nghiên cứu 1
IV. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG I -
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
I. Đất và quá trình hình thành đất 3
1. Khái niệm về đất 3
2. Quá trình hình thành đất 3
II. Một số nghiên cứu về đánh giá chất lượng tài nguyên đất 6
1. Trên thế giới 6
2. Ở Việt Nam 8
CHƯƠNG II -
THỰC TRẠNG VÀ CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHỮNG CHỈ TIÊU
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ
MỤC ĐÍCH NÔNG NGHIỆP TRONG CÁC DỰ ÁN QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
10
I. Thực trạng công tác đánh giá chất lượng tài nguyên đất nông
nghiệp trong các dự án quy hoạch sử dụng đất hiện nay
10
1. Địa bàn tỉnh Nam Định 10
2. Địa bàn thành phố Hải Phòng 11
3. Địa bàn tỉnh Thái Nguyên 11
4. Địa bàn tỉnh Đắk Lắk 12
5. Địa bàn tỉnh Đồng Tháp 12
II. Cơ sở khoa học đề xuất những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài
nguyên đất phục vụ mục đích quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp
13
1. Các nghiên cứu về chỉ tiêu và phân cấp chỉ tiêu đánh giá chất
quy hoạch sử dụng đất nuôi trồng thủy sản
49
IV. Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài nguyên đất phục vụ
quy hoạch sử dụng đất làm muối
50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
I. Kết luận 52
II. Đề nghị
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC (Bảng phân loại đất, thành phần cơ giới) 55 DANH MỤC VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu ô xy sinh hóa
BS Độ bão hòa bazơ
CEC Dung tích hấp phụ
CHN Cây hàng năm
COD Nhu cầu ô xy hóa học
CLĐ Chất lượng đất
CLN Cây lâu năm
Ec Độ dẫn điện
Eh Thế năng ô xy hóa khử
FAO Tổ chức Nông nghiệp và lương thực
ISSS Hiệp hội khoa học đất quốc tế
KT-XH Kinh tế - xã hội
NN Nông nghiệp
NXB Nhà xuất bản
NTTS Nuôi trồng thủy sản
22
Bảng 12 Hàm lượng cation bazơ trao đổi trong đất 22
Bảng 13 Hàm lượng đồng, kẽm dễ tiêu trong đất 23
Bảng 14 Hàm lượng và thành phần các muối trong nước biển 36
Bảng 15 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây lúa nước 38
Bảng 16 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây lúa nương 39
Bảng 17 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây ngô 39
Bảng 18 Đề xuất ch
ỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây đậu tương 40
Bảng 19 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây đậu xanh 40
Bảng 20 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây lạc 41
Bảng 21 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây bông 41
Bảng 22 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây mía 42
Bảng 23 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây dứa 43
Bảng 24 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây có múi 43
Bảng 25 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây chôm
chôm, sầu riêng, măng cụt
44
Bảng 26 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây nhãn vải 44
Bảng 27 Đề
xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây xoài 45
Bảng 28 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây cacao 46
Bảng 29 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây cao su 46
Bảng 30 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây chè 47
Bảng 31 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây cà phê vối 47
Bảng 32 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây cà phê chè 48
B
ảng 33 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây điều 48
Bảng 34 Đề xuất chỉ tiêu đánh giá chất lượng TNĐ cho cây trồng lâm
nghiệp vùng đồi núi
thống của ngành. Thực tiễn cho thấy, cần phải có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá
chất lượng tài nguyên đất khi tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất nói chung và
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệ
p nói riêng mới có thể nâng cao được chất
lượng đánh giá tiềm năng đất đai trong các dự án quy hoạch sử dụng đất, nâng
cao chất lượng công tác lập quy hoạch sử dụng đất hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài: "nghiên cứu, đề
xuất những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài nguyên đất phục vụ mục đích nông
nghiệp trong các dự án quy ho
ạch sử dụng đất" là cần thiết.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề xuất những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài nguyên đất phục vụ mục
đích nông nghiệp trong các dự án quy hoạch sử dụng đất.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài nguyên đất đối đất nông
nghiệp: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất
làm muối nhưng trọng tâm đi vào nghiên cứu, đề xuất những chỉ tiêu đánh giá
chất lượng tài nguyên đất phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp là chính.
Đề tài chọn hai tỉnh Nam Định và thành phố Hải Phòng làm địa bàn khả
o
sát. Ngoài ra, còn tiếp cận, tham khảo, nghiên cứu thêm một số địa bàn khác
như: Thái nguyên, Đắk Lắk, Đồng Tháp là những tỉnh đại diện cho các vùng
miền của cả nước.
2
IV. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
Các chỉ tiêu về đánh giá chất lượng đất; các yêu cầu về đất đai của cây
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. ĐẤT VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT
1. Khái niệm về đất:
Trên bề mặt địa cầu có chỗ là một khối rắn chắc, có chỗ là bãi cát mênh
mông hoang mạc, có chỗ cây cối mọc xanh tươi bát ngát. Loài người gọi vùng
thứ nhất là đá (nham thạch), vùng thứ hai là sa mạc, vùng thứ ba là thổ nhưỡng
(đất). Như vậy, thổ nhưỡng là lớp mặt tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác
nhau, có thể sản xuất ra nh
ững sản phẩm của cây trồng. Nguồn gốc của đất là từ
các loại "đá mẹ" nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dưới tác động của
các yếu tố hóa học, lý học, sinh học. Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa đá mẹ
và đất là độ phì nhiêu. Nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa
sống được thì chưa thể gọ
i đó là đất (thổ nhưỡng).
Trong sản xuất nông nghiệp, đất là cơ sở để cây trồng sinh sống và phát
triển. Cây trồng có thể sống được trên đất là nhờ độ phì nhiêu. Độ phì nhiêu là
khả năng của đất có thể cung cấp cho cây đồng thời và không ngừng "nước lẫn
thức ăn", khả năng đó nhiều hay ít (độ phì cao hay thấp) do các tính chất lý học,
hóa học và sinh học đất quy
ết định. Ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện thiên
nhiên và con người.
Độ phì đất không phải là số lượng chất dinh dưỡng tổng số trong đất mà
là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít. Đó là một chỉ tiêu
rất tổng hợp, phản ánh tất cả các tính chất đất. Đã có nhiều quan điểm khác nhau
về độ phì đất: Ricacđô và các nhà khoa học phương Tây cho rằng "độ phì nhiêu
giả
m dần"; các nhà thổ nhưỡng Liên Xô (cũ) mà đại diện là Viliam thì cho rằng
tích lũy chất hữu cơ làm cho mẫu chất xuất hiện độ phì và chuyển thành đất.
Chu kỳ đất - cây - đất diễn ra liên tục trong tự nhiên làm cho độ phì đấ
t tăng dần.
- Động vật: Gồm hai nhóm động vật sống trên mặt và động vật sống trong
đất. Động vật sống trên mặt đất gồm nhiều loài khác nhau, các chất thải trong
cuộc sống rơi vào đất cung cấp một số chất dinh dưỡng. Sau khi chết, xác chúng
rơi vào đất bị phân giải bổ sung chất dinh dưỡng và chất hữu cơ cho đất. Động
vật sống trong đất có nhiều loài nh
ư giun, kiến, mối, giun đất có vai trò rất lớn
trong sự tạo độ phì đất, giun ăn đất, phân giun là các hạt kết viên bền vững làm
cho đất tơi xốp. Khi chết, xác chúng được phân giải cung cấp nhiều nitơ và các
khoáng chất cho đất.
- Vi sinh vật: Tập đoàn vi sinh vật sống trong đất rất phong phú với nhiều
chủng loại khác nhau, chúng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình phân
giải xác hữu cơ, quá trình hình thành mùn, quá trình chuyển hóa đạm trong
đất,
quá trình cố định đạm từ khí trời Chúng cũng tạo ra lượng sinh khối trong đất
và khi chết cũng bị phân giải tạo thành chất hữu cơ và độ phì cho đất.
* Khí hậu: Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến phong hóa đá, sự thay đổi
nhiệt độ tạo sự phá hủy vật lý; lượng mưa và chế độ mưa ảnh hưởng tới phong
hóa vật lý và hóa học Nhi
ều quá trình diễn ra trong đất như khoáng hóa, mùn
hóa, rửa trôi, xói mòn chịu sự tác động rõ rệt của khí hậu. Ngoài ra, khí hậu
còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua yếu tố sinh vật.
* Địa hình: Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành đất.
- Ảnh hưởng trực tiếp: Các đặc trưng của địa hình như dáng đất, độ cao,
độ dốc, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều quá trình diễn ra trong đấ
t. Vùng đồi
núi, vùng cao ở đồng bằng quá trình rửa trôi xói mòn diễn ra mạnh. Ngược lại
trong các thung lũng ở vùng đồi núi hoặc vùng trũng ở đồng bằng lại diễn ra quá
xấu như: Bố trí cây trồng không phù hợp; bón phân không đầy đủ; chặt phá rừng
làm nương rẫy sẽ làm cho đất biến đổ
i theo chiều hướng xấu.
Sự tác động tổng hợp các yếu tố hình thành đất sẽ quyết định các quá
trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất. Những quá trình hình thành phổ
biến trong tự nhiên:
- Quá trình hình thành chất sơ sinh.
- Quá trình tích lũy chất hữu cơ và mùn trong đất.
- Quá trình tích lũy sắt, nhôm trong đất.
- Quá trình rửa trôi, xói mòn đất.
- Quá trình gley.
- Quá trình hóa chua, phèn, nhiễm mặn.
- Quá trình lắng đọng vật liệu phù sa.
6
II. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÀI NGUYÊN ĐẤT
1. Trên thế giới
Công tác đánh giá chất lượng tài nguyên đất đã được nhiều nước trên thế
giới quan tâm nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử
dụng đất. Hiện nay trên thế giới có thể tóm tắt có 3 phương pháp đánh giá đất:
- Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán;
- Đánh giá đất đai theo phương pháp thông số (cho điểm
);
- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng.
Có thể điểm qua các quan điểm và nội dung nghiên cứu đánh giá chất
lượng tài nguyên đất của một số nước trên thế giới:
* Liên Xô cũ: Theo hai hướng đánh giá đất chung và riêng (theo hiệu suất
cây trồng là ngũ cốc và cây họ đậu). Đơn vị đánh giá đất là các chủng đất, quy
định đánh giá đất cho cây có tưới,
đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất
c tính phần trăm.
* Ấn độ và các vùng nhiệt đới ẩm châu phi: Thường áp dụng phương
pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình
toán học. Kết quả phân hạng đất cũng được thể hiện ở dạng % hoặc cho điểm.
* FAO: Tổ chức Nông - Lương của Liên hợp quốc (FAO) đã tập hợp các
nhà khoa họ
c đất và chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kinh
nghiệm và kết quả đánh giá đất của các nước, xây dựng nên tài liệu "Đề cương
đánh giá đất đai" (FAO - 1976). Đây là một trường phái phân loại đất mới vừa
mang tính định lượng vừa tôn trọng những tính chất phát sinh và vừa có thể tìm ra
tiếng nói chung giữa các nhà khoa học đất trên thế giới. Sau này có thêm sự tham
gia của các chuyên gia từ Chương trình Môi trường Liên Hi
ệp Quốc (UNEP) và
Hiệp hội Khoa Học Đất Quốc Tế (ISSS) nên đã phát triển hệ thống phân loại đất
của FAO - UNESCO thành hệ thống phân loại đất của WRB (1998).
Hệ thống phân loại đất của FAO chia đất thành ba cấp độ khác nhau tuỳ
thuộc vào các tỷ lệ bản đồ. Đối với bản đồ cấp châu lục và cấp quốc gia đất
được chia thành các nhóm lớn (Soil Major Groupping)
và đơn vị đất (Soil Unit)
đối với bản đồ tỷ lệ trung bình và lớn, cấp đơn vị phụ của đất (Soil Sub Unit) và
những cấp nhỏ hơn nữa (như Phase) đã được sử dụng.
Đây là một hệ thống phân loại có tính chất mở, các tài liệu của hệ thống
này đều là các hướng dẫn (không phải quy trình), với mục đích tạo đ
iều kiện cho
các nhà khoa học có thể áp dụng cho những tỷ lệ bản đồ lớn hơn, chi tiết hơn và
có thể bổ sung cho những tài liệu sau này.
Tài liệu đánh giá đất của FAO được nhiều nước trên thế giới quan tâm thử
nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá chất lượng tài nguyên đất ở nước
mình. Đến năm 1983 và những năm tiếp theo, đề cương này được bổ sung, chỉnh
s
thành 7 nhóm, trong đó nông nghiệp có 4 nhóm, lâm nghiệp có 2 nhóm, mục đích
khác có 1 nhóm. Năm 1985, Bùi Quang Toản đã tiến hành đánh giá và quy hoạch
sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu của ông mới chỉ dừng
lại ở việ
c đánh giá các điều kiện tự nhiên như: Đất đai, thuỷ văn, khả năng tưới
tiêu và các yếu tố khí hậu Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu chính về điều kiện sinh
thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp, các nhà khoa học đất ở
miền Bắc đã phân chia đất thành 5 - 7 hạng theo phương pháp xếp điểm. Nhiều
tỉnh đã xây dựng được b
ản đồ phân hạng đất đai đến cấp xã, góp phần đáng kể
cho công tác quản lý đất đai trong giai đoạn kế hoạch hóa sản xuất.
Ở miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, đánh giá phân hạng đất theo Soil
Taxonomy cũng được ứng dụng nhiều trong việc lập bản đồ đất một số vùng, tỉnh
cụ thể với các tác giả như: Châu Văn Hạnh, Thái Công Tụng, Moorman Vào
những năm 90 của thế kỷ XX, đã có một số tác giả đi sâu nghiên cứu và tìm cách
xây dựng bản đồ đất Việt Nam theo hệ thống phân loại của Soil Taxonomy như
Võ Tòng Xuân, Vũ Cao Thái, Phan Liêu, Phạm Quang Khánh… tuy nhiên do tính
chất phức tạp của nó nên mức độ ứng dụng đối với thực tế còn hạn chế.
9
Những năm gần đây, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã và đang
được đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông lâm
nghiệp bền vững. Chương trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội từ
cấp quốc gia đến vùng, tỉnh và huyện đòi hỏi ngành quản lý đất đai phải có
những thông tin, dữ liệu về tài nguyên đất và khả
năng khai thác, sử dụng hợp lý
lâu bền đất sản xuất nông lâm nghiệp. Công tác đánh giá chất lượng tài nguyên
đất không thể chỉ dừng lại ở mức độ phân hạng chất lượng tự nhiên của đất mà
phải chỉ ra được các loại hình sử dụng đất thích hợp cho từng hệ thống sử dụng
đất khác nhau với nhiều đối tượng cây trồng nông lâm nghiệp khác nhau. Vì
10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHỮNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƯỢNG TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH NÔNG
NGHIỆP TRONG CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÀI NGUYÊN ĐẤT
NÔNG NGHIỆP TRONG CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HIỆN NAY
Trong các dự án quy hoạch sử dụng đất đã nghiên cứu, ngoại trừ một số
địa phương đã xây dựng tài liệu đánh giá đất đai là có đề cập đến các chỉ tiêu,
phân cấp và định lượng các chỉ tiêu đánh giá, còn lại đại đa số trong các dự án
quy hoạch sử dụng đất hiện nay việc đánh giá tiềm năng đất còn thể hiện rất mờ
nhạt. Các dự
án quy hoạch này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả đặc tính, tính chất
đất, quy mô diện tích và sự phân bố loại đất đó mà chưa định lượng được các chỉ
tiêu đánh giá chất lượng tài nguyên đất để gắn kết với việc bố trí sử dụng đất khi
xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy, phần đánh giá tiềm năng
đất đai chưa sâu, ch
ưa sát, còn hời hợt, chung chung. Cụ thể, khi nghiên cứu,
khảo sát ở một số địa bàn, vấn đề đánh giá tiềm năng đất đai cho nông nghiệp
được các địa phương xây dựng như sau:
1. Địa bàn tỉnh Nam Định:
Nam Định là tỉnh trọng điểm nông nghiệp của Đồng bằng Bắc Bộ. Trong
báo cáo quy hoạch sử dụng đất của Tỉnh, phần tiềm năng đấ
t đai được thể hiện:
- Tiềm năng tăng vụ trên đất trồng lúa màu khoảng 45.000-50.000 ha
- Tiềm năng chuyển đổi cơ cấu giống lúa, đặc biệt là giống lúa đặc sản và lúa
chất lượng cao ở các huyện phía nam của tỉnh khoảng 35.000-40.000 ha.
mặn, nhóm đất phèn và nhóm đất phù sa được bồi và không được bồi của các sông
và đã xác định được 3 vùng theo tiề
m năng sản xuất nông nghiệp: vùng đất tốt
34.500 ha, vùng đất trung bình 11.400, vùng đất xấu 7.400 ha. Ngoài ra, còn xác
định được tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản có trên 70.000 ha.
So với Nam Định, đánh giá tiềm năng đất cho nông nghiệp trong báo cáo
quy hoạch sử dụng đất của thành phố Hải Phòng có tiến bộ hơn, đã đưa ra được
một số chỉ tiêu về loại đất để phân tích. Tuy nhiên, vẫn chỉ dừng lại ở m
ức khái
lược và đơn điệu, chưa tích hợp được các chỉ tiêu cần thiết và phân cấp các chỉ
tiêu. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng đất phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất
nông nghiệp vẫn mang tính áp đặt chủ quan.
3. Địa bàn tỉnh Thái Nguyên:
Tiềm năng đất cho nông nghiệp trong quy hoạch sử dụng đất của tỉnh
Thái Nguyên được đánh giá: "Xét về điều kiện khí hậu, địa hình, thổ
nhưỡng, nguồn nước, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều tiềm năng cho phát triển
nông - lâm - ngư nghiệp kể cả trong thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng và khai hoang mở rộng diện tích" và cũng đưa ra những con số
về diện tích khá cụ
thể như:
- Về thâm canh, tăng vụ: Trong 43.218,08 ha đất trồng lúa có tới gần
1/3 diện tích đất lúa còn lại, chủ yếu là đất 1vụ sẽ đưa lên đất 2 - 3 vụ lúa
màu. Diện tích gieo trồng trên đất cây hàng năm có khả năng tăng từ
10.000 - 11.000 ha so với hiện trạng.
- Về chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Tiềm năng chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, hình thành các vùng chuyên canh nâng cao hiệu quả s
ử dụng đất còn
khá lớn: Chuyển đổi 1.500 - 2.000 ha đất rừng trồng sang trồng cây lâu
năm (chè và cây ăn quả); hình thành các vùng chuyên canh lúa chất lượng
p cho nhiều loại cây lâm nghiệp sinh trưởng và phát triển,
trong những năm sắp tới tiềm năng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn được đánh
giá là khá.
So với các tỉnh trên, Đắk Lắk đã có nhiều tiến bộ hơn trong khâu đánh giá
tiềm năng đất đai khi đưa ra được chỉ tiêu về yêu cầu sinh thái của một số cây
trồng phù hợp với đồng đất của tỉnh trước khi có những đ
ánh giá tiềm năng đất
đai cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là có cơ sở đáng tin cậy.
5. Địa bàn tỉnh Đồng Tháp:
Đồng Tháp là một trong những tỉnh khá bài bản trong khâu đánh giá tiềm
năng đất nông nghiệp khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho mục
đích đất nông nghiệp. Dựa theo quy trình đánh giá đất của FAO, báo cáo đã đưa
13
ra 5 yếu tố để xem xét đánh giá chất lượng tài nguyên đất cho đất nông nghiệp
gồm: Nhóm đất, thành phần cơ giới, độ sâu tầng đất, mức độ ngập lụt, thời gian
ngập lụt và điều kiện tưới. Trong mỗi yếu tố đều có những chỉ tiêu phân cấp rõ
ràng. Trên cơ sở đó, đã xây dựng bản đồ đơn vị đất và bản đồ đ
ánh giá tính thích
nghi đối với đất nông nghiệp, tạo cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất nông
nghiệp của tỉnh.
Bảng 01: Kết quả đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp
Đơn vị tính: ha
Phân cấp thích nghi
STT Lọai hình sử dụng
S1 S2 S3 N
1 Lúa 3 vụ (ĐX, HT, lúa mùa) 17.146 131.079 90.033 64.655
2 Lúa ĐX, màu HT, lúa mùa 62.645 85.580 90.033 64.655
3 Hai vụ lúa (ĐX, HT) 117.970 120.288 - 64.655
4 Hai vụ lúa (HT, lúa mùa) 62.645 85.580 104.471 50.217
15 - 10 cm: tầng canh tác trung bình;
< 10 cm: tầng canh tác mỏng.
c) Đá lộ đầu:
Đá lộ đầu không chỉ làm giảm diện tích có khả năng gieo trồng trên khu
đất tự nhiên mà đặc biệt gây nhiều cản trở trong việc làm đất, b
ố trí cây trồng,
thiết kế xây dựng đồng ruộng Theo Liên Hợp Quốc, đá lộ đầu được chia:
Không có;
Ít: <5% diện tích;
Trung bình: 5 - 15% diện tích;
Nhiều: 15 - 40% diện tích;
Rất nhiều: >40% diện tích.
d) Đá lẫn: Là phần đá tươi chưa được phong hóa nằm lẫn trong đất,
thường ở dạng các mảnh vụn có kích thước khác nhau thường từ một vài
milimet đến vài chục centimet. Đá lẫn trong đất làm giả
m khối lượng đất mịn
tức là làm giảm trữ lượng dinh dưỡng, nước, không khí và nhiệt trong đất. Ngoài
ra, nếu trong đất tỷ lệ đá lẫn cao gây cản trở cho việc làm đất, thậm chí làm hỏng
dụng cụ máy móc. Liên Hợp Quốc phân tỷ lệ đá lẫn trong đất thành 6 mức (theo
% thể tích chung của đất) như sau:
Không có;
Rất ít: <5%;
Trung bình: < 10 - 15%;
Nhiều: 15 - 40%;
Rất nhiều: 40 - 80%;
Chủ yếu: >80%.
1.2. Một số chỉ tiêu vật lý:
a) Thành phần cơ giới: Được xác định bởi hàm lượng tương đối của 3 cấp
hạt chính của đất: cát, limon và sét. Nông dân ta từ xa xưa đã dựa vào những
trúc được phân loại như sau:
- Hình dạng của cấu trúc: Phiến, trụ (cột), khối, hạt.
- Kích thước của cấu trúc được tính bằng mm như bảng dưới đây:
Bảng 02: Kích thước của các loại cấu trúc (mm)
Loại Phiến Trụ (cột) Khối Hạt
Rất mịn < 1 < 10 < 5 < 1
Mịn 1 - 2 10 - 20 5 - 10 1 - 2
Trung bình 2 - 5 20 - 50 10 - 20 2 - 5
Thô 5 - 10 50 - 100 20 - 50 5 - 10
Rất thô > 10 > 100 > 50 > 10
Nguồn: FAO, Trung tâm thông tin đất, 1980
Kết cấu đất ảnh hưởng rất lớn tới các tính chất đất nhất là những tính chất
vật lý của đất. Nếu đất có cấu tạo hạt kết tốt đất sẽ tơi xốp, làm đất dễ, hạt dễ
mọc, rễ cây dễ phát triển; nước thấm nhanh và được giữ nhiều; đất thoáng khí và
đầy đủ oxy cung cấp cho cây và các hệ sinh vật, độ
ng vật đất hoạt động; nước và
không khí điều hòa, quá trình khoáng hóa và mùn hóa đồng thời xảy ra nên xác
hữu cơ biến thành thức ăn đầy đủ cho sinh vật vừa được tích lũy lại trong đất
dưới dạng các hợp chất mùn.
c) Tỷ trọng của đất (Dp): Là tỷ số khối lượng của một đơn vị thể tích đất
ở trạng thái rắn, khô kiệt với các hạ
t đất xếp sít vào nhau so với khối lượng nước
cùng thể tích ở điều kiện nhiệt độ 4
o
C.
16
Tỷ trọng của đất được quyết định chủ yếu bởi các loại khoáng nguyên
sinh, thứ sinh và hàm lượng chất hữu cơ trong đất. Nhìn chung do tỷ lệ chất hữu
cơ trong đất thường không lớn nên tỷ trọng đất sẽ phụ thuộc chủ yếu vào thành
Thành phần cơ giới
Khoảng dao động Trung bình
Đất cát 1,55 - 1,80 1,65
Đất thịt pha cát 1,40 - 1,60 1,50
Đất thịt 1,35 - 1,60 1,40
Đất thịt pha sét 1,30 - 1,40 1,35
Đất sét pha limon 1,25 - 1,35 1,30
Đất sét 1,20 - 1,30 1,25
Nguồn: Agricultural Compendium, 1989 (Bản tóm tắt Nông nghiệp, 1989)
e) Độ xốp của đất (P): Là tỷ lệ % các khe hở chiếm trong đất so với thể
tích chung của đất. Độ xốp đất rất có ý nghĩa với sản xuất nông nghiệp và các
loại cây trồng vì nước và không khí di chuyển được trong đất nhờ vào những
khoảng trống hay độ xốp của đất. Các chất dinh dưỡng huy động cho cây trồng,
các hoạ
t động của vi sinh vật đất chủ yếu cũng diễn ra ở đây. Độ xốp đất có
quan hệ mật thiết đến dung trọng, tỷ trọng của đất.
17
Bảng 04: Dung trọng, tỷ trọng và độ xốp của một số loại đất Việt Nam
Loại đất
(theo phát sinh)
Dung trọng
(g/cm
3
)
Tỷ trọng
Độ xốp
(%)
Đất cát biển 1,48 - 1,55 2,62 - 2,65 42 - 44
Đất mặn 0,97 - 1,22 2,43 - 2,65 54 - 61
n khí hậu.