VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT GÂY ĐỘNG DỤC ĐỒNG
LOẠT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤ TINH NHÂN TẠO NHẰM
TĂNG NĂNG SUẤT ĐÀN BÒ TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
CNĐT : LÊ VĂN TY
8149
HÀ NỘI – 2010
PHẦN III. CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39
NỘI
DUNG I. ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SINH SẢN ĐÀN BÒ ĐIỆN BIÊN40
1. Đặt vấn đề 40
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 40
3. Kết quả 41
4. Thảo luận 46
5. Tiểu kết 48
6. Kiến nghị đối với nội dung này 48
NỘI
DUNG II. ĐÀO TẠO VÀ TẬP HUẤN KỸ THUẬT SINH SẢN 49
LỚP ĐÀO TẠO 49
1. Đăt vấn đề 49
2. Phương thức tiến hành 50
3. Các kết quả 55
LỚP TẬP HUẤN 58
1. Mục đích 58
2
2. Cách tiến hành 58
3. Các kết quả 59
4. Tiểu kết: 61
5. Việc làm trong thời gian tới: 61
NỘI
DUNG III. THỬ NGHIỆM 04 QUY TRÌNH GÂY ĐỘNG DỤC ĐỒNG
LOẠT VÀ THỤ TINH NHÂN TẠO CHO ĐÀN BÒ ĐIỆN BIÊN 63
1. Đặt vấn đề 63
2. Phương pháp nghiên cứu 64
3. Kết quả 667
4. Thảo luận 75
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
4
Chăn nuôi trâu bò kết hợp với vườn rừng và canh tác nông nghiệp đã từ
lâu hình thành nét đặc trưng trong đời sống của đồng bào các dân tộc tỉnh
Điện Biên. Chăn nuôi trâu bò không chỉ là một lợi thế còn là công cụ để xóa
đói giảm nghèo, tăng tích lũy cho người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc
ít người. Trong kế hoạch phát triển của Điện Biên, chăn nuôi lớn thâm canh
chắc chắn sẽ là một đị
nh hướng quan trọng. Tuy nhiên ở một mức độ phát
tập trung chủ yếu ở thành phố Điện Biên Ph
ủ, còn ở các huyện và các xã là rất
ít, nên việc áp dụng thụ tinh nhân tạo hiện tại còn rất hạn chế.
Nghiên cứu chủ động gây động dục cho bò cái đã được tiến hành từ khá
lâu, ngay cả khi chưa phát hiện được tồn tại các sóng phát triển nang trong
mỗi chu kỳ sinh dục ở bò. Đến khi Ginther và CS (1989) sử dụng máy quét
siêu âm buồng trứng hàng ngày ở bò, chứng minh tồn tại 2 đến 3 sóng phát
triển nang trong mỗi chu kỳ và suy ra khoảng th
ời gian 3-4 ngày sau khi rụng
trứng, trong buồng trứng của bò cái chu kỳ có ít nhất một nang trứng có kích
thước phát triển >10mm sẵn sàng đáp ứng cho kích thích rụng trứng [32], thì
chủ động gây động dục cho bò để thụ tinh trở nên một kỹ thuật phổ biến để
quản lý sinh sản của đàn bò.
Kích thích rụng trứng từ các nang ở sóng nang đầu tiên, Kastelic và
Ginther (1991) đã cho thấy nếu được thụ tinh trứng phát triển thành phôi và
bò cái mang thai giống nh
ư trứng rụng cuối chu kỳ [46]. Twagiramungu và
CS, (1994) còn chứng minh rằng thể vàng hình thành do kích thích rụng trứng
ở bò không khác gì các thể vàng hình thành do động dục và rụng trứng tự
nhiên [128]. Các công trình của Purley và CS, (1997) trên bò sữa [82], Short
và CS, (1990) trên bò thịt [108] cho thấy áp dụng gây động dục đồng loạt có
thể cho tỷ lệ đậu thai từ 50-70% số bò xử lý, tiết kiệm chi phí và đặc biệt
giảm nhẹ được công sức theo dõi phát hiện động dục bỏi đàn bò động dục và
rụng trứng rải rắc quanh năm.
Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm nêu trên cho phép chủ động gây động
dục và rụng trứng ở bò, làm cho một nhóm bò hay cả đàn bò cái cùng động
6
dc v rng trng vo mt khong ngn thi gian, ng dc rng trng ng
lot, cho phộp dn tinh ng lot cho bũ. iu ny c ng dng trong thc
7
Biªn, đưa ra một cách làm giải quyết được các nhu cầu tạo bò lai trước mắt,
cải tạo giống bò cho Điện Biên và chuẩn bị dần nguồn nhân lực tại chỗ cho
phát triển lâu dài. Phương thức tiến hành là dùng nguồn nhân lực gồm các
chuyên gia của Viện Công nghệ sinh học, Viện Chăn nuôi Quốc gia, kết hợp
với nguồn nhân lực của địa phương (đã đào tạo, hoặc đ
ào tạo mới) chủ động
gây động và dẫn tinh cho đàn bò theo hình thức “cuốn chiếu”, từng xã hoặc
từng cụm xã một. Vì chủ động gây động dục nên chỉ cần bảo quản tinh trùng
đông lạnh trong một thời gian ngắn. Trong quá trình làm, kết hợp đào tạo cán
bộ tại chỗ với phương thức “cầm tay chỉ việc”. Như vậy chỉ trong khoảng 3-5
năm số bò lai sẽ có m
ặt áp đảo so với số bò còn lại ở các địa phương. Mở
rộng phương thức này ra toàn tỉnh, duy trì công thức lai trong vòng 5 năm thì
việc cải tiến năng suất đàn bò tỉnh Điện Biên và chỉ tiêu 60% bò lai vào năm
2015 là hoàn toàn hiện thực.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
• Xây dựng quy trình gây động dục và rụng trứng đồng loạt cho đàn bò Điện Biên .
Xây dựng mô hình ứng dụng cải tạo đàn bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo
kết hợp với gây động dục và rụng trứng đồng loạt tại Điện Biên.
Báo cáo này bao gồm 6 phần: phần I. Đặt vấn đề, giới thiệu về kỹ thuật và
khả năng
ứng dụng; phần II. Tổng quan tài liệu, trình bày ngắn gọn về Cơ sở lý
thuyết và Cơ sở thực nghiệm của kỹ thuật, tính khả thi, tính phù hợp và cần thiết để
cải tạo đàn bò tỉnh Điện Biên; phần III. Các nội dung, bao gồm 5 nội dung đã
đăng ký: 1) Điều tra hiện trạng sinh sản đàn bò Điện Biên, 2) Đào tạo k
ỹ thuật gây
động dục và thụ tinh nhân tạo, 3) Thử nghiệm 04 quy trình gây động dục và thụ tinh
nhân tạo cho đàn bò Điện Biên, 4) Nghiên cứu ứng dụng quy trình thụ tinh nhân tạo
với tinh đông lạnh cọng rạ tại Điện Biên và 5) Ứng dụng quy trình chăm sóc bò có
con đường tối ưu.
Chăn nuôi bò ở Điện Biên nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung liệu có
phải là một lợi thế? Đúng vậy, bởi vì từ năm 2000 đến nay, giá thịt bò mặc dù
có nhiều biến động nhưng chưa khi nào giảm. Thị
t bò tươi sản xuất trong
nước vẫn gần như độc chiếm thị trường. Đô thị mở rộng nhu cầu thịt bò, đặc
biệt là thịt bò tươi ngày một tăng. Thịt bò trên thị trường đa dạng về chủng
loại nhưng chưa có thương hiệu để khẳng định về chất lượng. Nếu có một loại
thịt bò chất lượng tốt, s
ản xuất tại Điện Biên có thương hiệu “thịt bò Điện
Biên”, giá cạnh tranh thì người tiêu dùng sẽ đón nhận. Giống như “gạo tám
Điện Biên”, “sữa bò Ba Vì”, “Cà fê Đắc Lắc”, chất lượng của sản phẩm
được gắn với thổ ngơi của từng vùng. Nếu gạo tám Điện Biên đặc biệt hơn
các nơi khác do biến động nhiệt độ chu kỳ ngày đêm cũ
ng như các đặc điểm
về thổ nhưỡng thì các ảnh hưởng này cũng có thể làm nên thương hiệu “thịt
bò Điện Biên”
Chăn nuôi bò là nghề nuôi đã có từ lâu đời ở nước ta nói chung và ở
Điện Biên nói riêng. Nếu biết kết hợp tính truyền thống này với các kỹ thuật
và nguồn gen mới có thể thay đổi dần diện mạo của việc chăn nuôi theo
hướng thâm canh, nâng cao năng suấ
t chất lượng, đáp ứng nhu cầu thịt bò
tươi ngày một tăng trong nước và xuất khẩu.
10
Thêm vào đó nuôi bò ở Điện Biên còn tận dụng lợi thế của vùng đất đồi
rộng lớn chưa khai thác cũng như vị trí gần các cửa khẩu đi Lào, đi Trung
Quốc, tiện lợi cho việc xuất khẩu bò, thịt bò, các sản phẩm từ thịt bò.
Điện Biên so với những địa phương khác của Viêt Nam, lợi thế đặc biệt
là còn nhiều diện tích rừng hoặc
Theo đó, mục tiêu phát triển đạt mức tăng đàn trâu 2006-2015 là 3,56% / năm,
bò phải tăng 10,14% /năm. Tổng đàn trâu vào năm 2015 đạt 141.300 con, đàn
bò đạt 72.600 con, trong đó bò lai chiếm 60%. Hàng năm bán thịt 13.000 đến
17.000 con trâu, bò giai đoạ
n 2006-2010 và 19.000 đến 23.000 con trâu bò
giai đoạn 2011-2015.
Dự án này cũng đưa ra một loạt các giải pháp quan trọng để đạt được
các mục đích:
Về thức ăn, dự án cho rằng cần cải tạo đồng cỏ tự nhiên thành đồng cỏ
chăn nuôi. Dự kiến diện tích sản xuất nông nghiệp của Điện Biên đến 2015 là
123.825 ha. Trong đó đất canh tác 117.790 ha (trồng lúa, lúa màu: 44.475 ha,
đất trồng cỏ chăn nuôi: 6.500 ha, đấ
t trồng các cây khác: 66.815 ha, đất trồng
cây lâu năm: 6.035 ha). Trong 6.500 ha đất đồng cỏ chăn nuôi có 2.000 ha đất
chuyên trồng cỏ và số còn lại 4.500 ha là đồng cỏ tự nhiên được cải tạo. Bên
cạnh việc mở rộng và thâm canh đồng cỏ thì tận dụng nguồn phụ phẩm nông
nghiệp như rơm, thân cây ngô, khoai, lạc để chế biến thành thức ăn cho trâu
bò cũng được quan tâm.
Về con giống, dự án đề ra ưu tiên xây dự
ng cơ sở chăn nuôi trâu bò
giống của tỉnh nhằm nuôi dưỡng và cung cấp giống trâu, bò tốt cho nhân dân,
sử dụng các giống bò ngoại (Sind, Bratman, Droughmaster, ), trâu ngoại
(Murah, ) để tạo ra con lai có năng suất cao, chất lượng tốt nhưng thích nghi
trong điều kiện của địa phương.
Về công tác thú y, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh, dự án xem đây là giải
pháp quan trọng liên quan đến sản xuất hàng hóa và thị trường. Về bộ máy
c
ần bổ sung cán bộ làm công tác quản lý và thú y ở cấp huyện, xã cũng như
12
vi th tinh nhõn to s y nhanh tc zờ-bu húa n bũ, õy cú th cụng
13
cụ quan trọng để đạt được chỉ tiêu 60% đàn bò là bò lai vào 2015. Kỹ thuật
này hoàn toàn có thể mở rộng ra toàn đàn nếu gây động dục đồng loạt để vừa
thụ tinh nhân tạo vừa cho bò đực giống đã chọn lọc nhảy trực tiếp. Đề tài
cũng có thể là hữu ích đối với dự án của tỉnh từ khía cạnh tạo ra đàn bò đực
lai có thể trạng tốt h
ơn so với đàn bò đực hiện có của địa phương, dùng đàn
đực giống này cải tạo thể trạng của đàn bò hiện tại, nâng cao dần thể trạng
của toàn đàn. Ngoài ra, các hoạt động đào tạo tập huấn của đề tài sẽ giúp tạo
cho Điên Biên có nguồn nhân lực kỹ thuật cũng như có các chuyên gia về ứng
dụng các kỹ thuật sinh sản và thụ tinh nhân tạo.
3. TẠI SAO PHẢI ÁP DỤNG GÂY ĐỘNG DỤC ĐỒNG LOẠT VÀ THỤ TINH
NHÂN TẠO ĐỂ CẢI TẠO ĐÀN BÒ ĐIỆN BIÊN
Sin hóa đàn bò (hay đúng hơn là zê-bu hóa đàn bò) đã được chúng ta
thực hiện từ những năm 70. Đến nay nhiều địa phương ở đồng bằng sông
Hồng đã cải tạo được tầm vóc đàn bò, có nơi bò lai-zebu đã thay thế hết đàn
bò vàng giống địa phương. Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo đã thay thế việc
cho bò nhảy trực tiếp ở nhiều địa ph
ương.
Thụ tinh nhân tạo để ze-bu hóa đàn bò tỉnh Điện Biên vẫn còn là một
thách thức đối với Điện Biên nói riêng và các tỉnh Tây Bắc nói chung. Trước
hết do địa bàn rộng lớn, địa hình phân cắt, giao thông đến các huyện, xã còn
khó khăn, tiếp đến là chưa hình thành được mạng lưới dẫn tinh viên ở các xã
hoặc các cụm xã, thậm chí ở cấp huyện. Ở Điện Biên, thụ tinh nhân tạo mới
chỉ được Trung tâm Phát triển chăn nuôi triển khai tại ở địa bàn bán kính
khoảng 10 km cách Điện Biên Phủ.
Giống như ở các địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam, đàn bò Điên
Biên động dục rải rắc quanh năm. Theo dõi động dục để thụ tinh nhân tạo kịp
ng trng cng to ra mt trng tt cú th th tinh v cho u thai.
Nghiờn cu tng quan gia cỏc súng nang bũ, ngi ta thy rng
mt súng nang mi ch cú th hỡnh thnh khi nang c tụn ca súng nang
trc ó cho rng trng hoc thoỏi húa. Duy trỡ hm lng progesterone cao
trong mỏu nh b sung liờn tc t bờn ngoi hoc t viờn cú cha dn xut
15
của progesterone vào âm đạo làm kéo dài sự tồn tại của nang độc tôn, người
ta không quan sát thấy hình thành sóng nang mới. Trong khi loại bò nang độc
tôn bằng cách làm giảm đột ngột hàm lượng progesterone trong máu, gây nên
rụng trứng nang độc tôn và hình thành sóng nang mới. Việc cản trở hình
thành sóng nang mới của nang độc tôn cũng được chứng minh khi phá hủy
nang độc tôn bằng cơ học như đốt hoặc hút bỏ.
Mặc dù nhất trí cơ bản về lý thuyết phát triển nang dạng sóng d
ọc theo
chu kỳ, các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất về tỷ lệ bò có chu kỳ 2 hoặc 3
sóng nang trong quần thể bò. Nghiên cứu sâu ở quần thể bò sữa, Siroi and
Fortune (1988), Savio et al (1988), Ginther et al (1989), Gong et al (1996) cho
rằng có tới 80% bò trong quần thể có chu kỳ 2 sóng nang [33], [36], [95],
[112]. Hiện tượng này được xác lập bởi yếu tố di truyền hoặc di truyền kết
hợp với yếu tố môi trường vẫn còn là vấn đề còn bỏ ngỏ.
Khái niệm v
ề một sóng phát triển nang ở bò được đặc trưng bởi sự lớn
lên đồng thời của một số các nang nhỏ đạt đến một kích thước nhất định
(khoảng 3-4 mm), ở giai đoạn này các nang có cùng cơ hội để phát triển thành
nang độc tôn. Một cơ chế chọn lọc của cơ thể dẫn đến sự phát triển không
đồng đều nên chỉ có một nang lớn vượt lên tr
ở thành độc tôn duy trì tăng
trưởng, trong khi các nang khác lớn chậm dần rồi thoái hóa (Ginther et al.
1996; Knopf et al 1989) [34], [49].
Sóng nang đầu tiên xuất hiện vào ngày thứ nhất c
ủa chu kỳ (sau ngày
rụng trứng), sóng nang thứ 2 ở bò chu kỳ hai sóng nang xuất hiện vào ngày
thứ 10. Ở bò chu kỳ 3 sóng nang, sóng nang thứ hai xuất hiện vào ngày thứ 9
và sóng nang thứ 3 xuất hiện vào ngày thứ 16. Adams et al. (1992) đã chứng
minh có mối tương quan chặt chẽ sự gia tăng bài tiết FSH và sự xuất hiện các
sóng nang [9]. Kết thúc mỗi một pha phát triển độc tôn luôn được báo trước
bởi sự tiêu biến các thụ quan đối với FSH và LH cùng với hoạt tính sả
n xuất
oestrogen của nang độc tôn (Irland and Roche 1983) [44]. Sự giảm tần suất
các xung LH cũng xuất hiện trước khi nang độc tôn thoái hóa (Savio et al
17
1990). Gong et al (1996) còn chứng minh rằng: nang trứng phát triển đến giai
đoạn có đường kính dưới 4mm không phụ thuộc vào gonadotropin nhưng phụ
thuộc sống còn vào FSH giai đoạn phát triển từ 4-9mm, vào LH giai đoạn cận
rụng trứng (>9mm) [36], [95]. Những kết quả này là quan trọng trong điều
tiết các loại hooc-môn cho mục đích gây động dục và rụng trứng đồng pha.
Liệu nang độc tôn ở sóng nang thứ nhất có thể cho rụng trứng ?
Trong chu k
ỳ bình thường nang độc tôn đầu tiên không cho rụng trứng.
Nang độc tôn này phát triển trong lúc hiện diện một thể vàng hoạt động, chỉ
có thể bị thoái hóa khi không có mặt các xung LH, các xung này bị ức chế bởi
mức progesterone cao trong máu. Như vậy chỉ các nang độc tôn không bị
thoái hóa có mặt vào lúc thể vàng bị thoái hóa mới có cơ hội rụng trứng. Tuy
nhiên vẫn có thể gây rụng trứng các nang phát triển giai đoạn hoàng thể nếu
áp dụng các yếu tố
kích thích bởi các hóa dược.
Savio et al. (1990), Novaes et al. (1991) là những tác giả đầu tiên thử
gây rụng trứng với nang độc tôn đầu tiên khi họ dùng PGF2α, cho thấy nang
progesterone trong máu là một trong các cơ chế quan trọng dẫn đến đẻ con.
Tồn tại sau khi đẻ một khoảng rất giao động gọi là giai đoạn bất thụ sau khi
sinh. Khoảng này phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố sinh lý, môi trường,
bệnh lý như: dinh dưỡng, thể trạng, cho con bú, bệnh dystocia, giống bò, tuổi
bò, tháng bò đẻ, bệnh lý tử cung và các bệnh mãn tính.
Giảm lượng progesterone, estradiol trong máu kích thích hệ trục
Hypothalumus-Hypophys-Gonads theo cơ chế
điều khiển âm tính ngược
(feedback) là gia tăng hàm lượng FSH trong máu trong vòng từ 5-14 ngày sau
khi bò đẻ (Peters et al. 1981) [73], tạo nên sóng nang đầu tiên trong giai đoạn
bất dục sau khi sinh. Các sóng nang không bị mất đi trong quá trình bò mang
thai nhưng kích thước các nang độc tôn của các sóng này thấp và bị thoái hóa
do mức progesterone quá lớn trong quả trình mang thai. Lúc FSH gia tăng
trong máu cũng là lúc sóng nang đầu tiên hình thành với các nang độc tôn có
kích thước điển hình (Roche and Mihm 1996) [90]. Có một loạt xung LH (với
19
tần suất dày, biên độ thấp) xuất hiện kích thích phát triển và duy trì độc tôn
nang (Savio et al. 1990) [96].
Một số công trình cho thấy có một vài sóng nang xuất hiện và phát
triển trước lần rụng trứng đầu tiên giai đoạn sau khi bò đẻ. Ở bò sữa, Dufour
and Roy (1985) quan sát thấy các nang có xoang lớn phát triển vào khoảng
15-35 ngày sau khi bò đẻ [23]. Savio et al., (1990) quan sát thấy các nang lớn
5-9mm phát triển vào 7-10 ngày sau khi bò đẻ, từ các nang này một nang độc
tôn tiếp tục phát triển vào ngày 10-13 sau khi bò đẻ, nang độc tôn đầu tiên sau
khi bò đẻ rụng trứ
ng ở phần lớn các bò (70-80%) [95]. Điểm đặc biệt là các
nang độc tôn rụng trứng sau khi bò đẻ thường rụng trứng “ngầm”, không kèm
theo các dấu hiệu bò động dục (Savio et al., 1990) [95].
Như vậy, tính chu kỳ ở bò được tái thiết trở lại sau thời kỳ phát triển
kỳ) có thể là rất ngắn 15 ngày và có thể dài hơn 100 ngày. Trong khi rụng
trứng ở bò sữa xảy ra 3 tu
ần sau khi sinh thì ở bò thịt nuôi con, rụng trứng chỉ
xảy ra sau 5-8 tuần, ngay cả khi các sóng nang đã phát triển trở lại sớm ngay
sau khi sinh (Stagg et al., 1995) [115]. Dinh dưỡng và quản lý đàn bò kém
cũng là nguyên nhân làm cho tính chu kỳ của bò chậm tái thiết lâp.
Điều khiển động dục ở bò bằng các hóa dược
Cho đến nay, mội cách điều khiển chu kỳ động dục ở bò là kéo dài
hoặc chấm dứt sự phát triển của thể vàng. Kéo dài pha hoàng thể
bằng
progesterone và các dẫn xuất của nó, còn rút ngăn pha hoàng thể thông qua
việc gây thoái hóa thể vàng bằng prostaglandin (PG). Tuy nhiên PG tác động
nên thể vàng không làm thay đổi tốc độ lớn nang do vậy các chất kích thích
phát triển nang như GnRH, PMSG, FSH, luôn là những hợp chất bổ sung
làm cho tính đồng pha của động dục và rụng trứng tăng lên.
Gây động dục đồng loạt bằng phương pháp làm thoái hóa thể vàng với
PGF2α
21
Tiêm PGF2α cho bò vào phần lớn thời gian trong chu kỳ sinh dục đều
gây nên thoái hóa thể vàng và như vậy làm giảm mức progesterone trong máu.
Hệ quả là làm thay đổi tương quan estradiol/progesterone làm thay đổi hình
mẫu bài tiết các hooc-môn gonadotropins dẫn đến phát triển nang đến giai
đoạn cận rụng trứng. Trong các nghiên cứu chi tiết, Kastelic (1994) [45] cho
thấy nang độc tôn có mặt vào lúc tiêm PGF2α trở thành nang rụng trứng. Ở
bò hậu bị, tiêm PGF2α vào thời điểm ngày thứ 5 đến ngày 8 của chu kỳ
, nang
độc tôn đầu tiên rụng trứng, nếu tiêm vào vào ngày 12, nang độc tôn thứ hai
rụng trứng (Kastelic and Ginther, 1991) [46]. Bò nhận một mũi tiêm PG đơn
độc trong khoảng ngày 8 đến 18 biểu hiện động dục trong vòng 2 đến 5 ngày
α không làm thay đổi động học phát triển nang nên thời
điểm bắt đầu động dục phụ thuộc vào trạng thái nang lúc gây thoái hóa thể
vàng.
Quan sát về mức độ động dục đồng pha giữa các bò cho thấy: nếu tiêm
vào ngày 10-15 của chu kỳ cho mức độ đồng pha lớn hơn là tiêm vào ngày 5-
9 (King et al., 1982, Macmillian, 1983) [48], [58]. Một số tác giả khác cho
rằng mức đồng pha lớn hơn nếu tiêm PGF2α vào giai đoạn muộn của pha
hoàng thể (Watts and Fuquay, 1985) [132], nh
ưng số khác cho thấy không có
sự khác nhau (Tanabe and Hahn, 1984) [122]. Trạng thái nang vào thời điểm
thoái hóa thể vàng không ảnh hưởng đến thụ thai ở bò đối với mỗi lần bò
động dục. Thụ tinh cho bò hậu bị sau khi gây động dục bằng PGF2α giai đọan
sớm (ngày 5-8) và muộn hơn (ngày 12-15) kết quả là tỷ lệ đậu thai như nhau
(King et al., 1982, Stevenson et al., 1984, Tanabe and Hahn 1984) [48], [117],
[122].
Để điều khiển động dục tốt hơn, có một số quy trình x
ử lý với PG được
đề nghị. Phatak and Whitmore (1981) tiêm PG vào giai đoạn bất dục sau khi
sinh ở bò đã khám thấy thể vàng bằng cách sờ qua trực tràng, những bò này
động dục trong vòng 42-72 giờ sau và được dẫn tinh. Làm như vậy các tác giả
đã rút ngắn được thời gian “nghỉ” của bò từ 120 ngày xuống còn 98 ngày [77].
Nhưng cách xử lý này làm mất đi một vài ưu thế của việc gây động dục đồng
23
loạt vì phải mất công khám qua trực tràng của từng con bò. Một chương trình
gây động dục đồng loạt được sử dụng phổ biến là tiêm hai mũi PG cách nhau
11 hoặc 14 ngày ở bò cái hậu bị (Macmillian et al., 1978) [59] và bò cái
(Peters and Ball 1987) [70]. Khoảng cách giữa hai lần tiêm có thể ảnh hưởng
đến kết quả động dục đồng pha của bò (Macmillian et al., 1985) [60]. Quy
trình hai lần tiêm PG cách nhau 7 ngày được áp dụng cho bò 40-50 ngày sau
Một hướng làm mới để tăng độ đồng pha cho các bò là phá hủy nang
bằng cơ học. Trong xử lý này một thiết bị hút nang đưa qua thành âm đạo,
loại bỏ tất cả các nang của bu
ồng trứng 5mm trở lên bất cứ giai đoạn nào của
chu kỳ. Cách làm này sẽ tạo ra sóng nang mới trong vòng 2 ngày. Tiêm PG
vào 4 ngày sau khi loại nang lớn, rụng trứng xảy ra ở 13/16 bò hậu bị
(Bergfelt et al., 1994) [14]. Đây là phương pháp không cần sử dụng các hóa
dược, rất hứa hẹn để gây động dục và rụng trứng đồng pha ở bò.
Điều khiển phát triển nang bằng sử dụng GnRH
Tiêm GnRH làm bài tiết gia tăng FSH, LH (McLeod et al., 1985 1991),
các hooc-môn này tăng c
ường hoạt lực buồng trứng [56], [57]. Tiêm GnRH
làm thay đổi động thái nang, gia tăng số lượng các nang có kích thước trung
bình, giảm số lượng các nang lớn bởi gây thoái hóa hoặc hoàng thể hóa các
nang này (Thatcher et al., 1989, 1992) [123], [124]. Tỷ lệ động dục, tính đồng
pha cũng như tỷ lệ đậu thai sau thụ tinh đều được gia tăng ở các bò có cả thể
vàng và nang lớn trên buồng trứng vào thời điểm tiêm GnRH, so với bò có
thể vàng mà không có nang lớn hoặc không có thể vàng mà có, hoặc không có
nang lớn (Twagiramungu et al., 1992) [126].
Tiêm GnRH có gây rụng trứng hoặc hoàng thể hóa nang độc tôn ?
Những công trình rất sớm cho thấy xử lý GnRH thời điểm sau khi bò
thịt sinh con gây rụng trứng rất giao động từ 10-80% số bò trong trường hợp
tiêm 1 mũi hoặc dẫn truyền liên tục GnRH (Fonseca et al., 1979; Riley et al.,
1981; Walter et al., 1982; Edwards et al., 1983) [24], [28], [87], [130]. Tiêm