BẢNG CHỮ VIẾT TẤT
-TPCP: Trái phiếu chính phủ.
-KBNN:Kho bạc nhà nước.
-DNNN: Doanh nghiệp nhà nước.
-NSNN: Ngân sách nhà nước.
-TTCK: Thị trường chứng khoán.
-TCTD:Tổ chức tín dụng.
-NHTM: Ngân hàng thương mại.
-TPCQĐP: Trái phiếu chính quyền địa phương.
-UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước.
-TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
1
MỞ ĐẦU
Với vị thế là thủ đô,trung tâm chính trị văn hóa giáo dục của cả nước,và
cùng với cả nước,Hà Nội đã tiến hành các công cuộc đổi mới sâu sắc toàn
diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và đã thu được những thành
tựu quan trọng.Thành phố Hà Nội đứng thứ hai trong cả nước về tốc độ phát
triển kinh tế,về đóng góp ngân sách nhà nước cũng như tiềm năng và thực tế
huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Xét trên phạm vi quốc gia và từng địa phương,bên cạnh việc huy động
vốn từ ngân sách,từ các nguồn đầu tư nước ngoài,thì nguồn vốn dân cư dài
hạn là vô cùng quan trọng.Nhiều năm qua.Hà Nội đã quan tâm và đạt được
một số kết quả tích cực bước đầu trong việc thu hút nguồn vốn dân cư cho
phát triển kinh tế-xã hội thủ đô,song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập và vấn
đề mới được đặt ra,đòi hỏi được nhận thức và giải quyết vấn đề phải làm sao
huy động vốn tối đa các nguồn vốn dân cư cho phát triển kinh tế của thủ
đô.Đây cũng chính là mục tiêu chủ yếu của chuyên đề thực tập”Huy động
nguồn vốn trong dân cư cho phát triển kinh tế thành phố Hà Nội”.
Nhận thức về các nguồn vốn,trong đó có vốn dân cư chưa hoàn toàn
được hiểu thống nhất và càng chưa từng được chuẩn hóa trong bất kỳ một
1945, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngay từ buổi đầu
cách mạng, Hà Nội đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.
Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng công bố bản Tuyên ngôn
độc lập tại quảng trường Ba Đình. Là trái tim đất nước, Hà Nội hội tụ các cơ
quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xã
hội. Thủ đô cũng là nơi diễn ra các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các
kỳ họp Quốc hội, mà từ đó đã đưa ra các nghị quyết, đường lối, sách lược đối
nội và đối ngoại cho từng giai đoạn xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Đại sứ quán của nhiều quốc gia trên thế giới đều đặt ở Hà Nội. Mọi hoạt động
ngoại giao, thăm viếng, trình quốc thư, hội đàm, ký hiệp ước hữu nghị và hợp
tác được tiến hành tại đây. Người Hà Nội còn giữ mãi hình ảnh những ngày
hoạt động tưng bừng và sôi động; những cuộc đón tiếp anh em bầu bạn từ bốn
phương xa đến với Việt Nam. Hà Nội tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc
tế lớn mà Việt Nam đăng cai như Hội nghị cấp cao các nước có sử dụng tiếng
Pháp, Hội nghị cấp cao các nước ASEAN...
Nếu như cách đây gần 1000 năm, Thăng Long đã có Văn Miếu-Quốc Tử
Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta, thì nay Hà Nội là nơi tập trung 44
trường đại học và cao đẳng của đất nước, với hơn 330 nghìn học sinh - sinh
viên. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tất cả các trường ở Việt Nam đều
dùng tiếng Việt. Bên cạnh đó là 25 trường trung học chuyên nghiệp với 15
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
4
nghìn học viên, tăng gấp 13 lần năm học sau giải phóng. Tính bình quân cứ 3
người Hà Nội có một người đang đi học. Nhiều học sinh Hà Nội đạt giải cao
trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Hà Nội còn là địa phương đầu tiên trong
cả nước được công nhận phổ cập xong cấp trung học cơ sở, có một số trường
đặc biệt dạy trẻ em khuyết tật.
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế
Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000
3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động. Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu
lao động có trình độ chuyên môn cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào
tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế. Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn
khác. Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn
môi trường đầu tư của thành phố còn thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm
chủ lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà
Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong
dân cư.
Thành phố Hà Nội có số dân khoảng 6,1 triệu ngưới.Dân cư Hà Nội phân
bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái. Mật độ
dân số trung bình của Hà Nội là 2881 người/km
2
(mật độ trung bình ở nội
thành 19163 người/km
2
, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km
2
, ở ngoại
thành 1721 người/km
2
). Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình
của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là
thành phố có mật độ cao nhất cả nước.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
6
Việc dân số tăng quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa không được quy
hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở thành một thành phố chật chội, ô nhiễm và giao
thông nội ô thường xuyên ùn tắc. Nhiều di sản kiến trúc của thành phố đang
sách phân phối thu nhập trong phạm vi toàn xã hội,tác động trực tiếp đến các
mối quan hệ tích lũy,tiêu dùng và các chính sách tiền tệ tín dụng.
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại
hoá trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, Việt Nam phải hoàn tất củng cố hệ thống
cơ sở hạ tầng. Điều này yêu cầu một nguồn vốn khổng lồ, bao gồm quỹ Nhà
nước và vốn từ các cá nhân cả trong nước và nước ngoài, cũng như sự hợp tác
chặt chẽ giữa Nhà nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng quốc gia nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng.
Theo báo cáo Phát triển Việt Nam 2007 của ngân hàng Thế giới, đầu tư
hàng năm của Việt Nam vào cơ sở hạ tầng chiếm từ 9-10% GDP (tỉ lệ cao
nhất so với tiêu chuẩn quốc tế). Tuy nhiên, cả Ngân hàng Thế giới và Ngân
hàng Phát triển Châu Á đều cho rằng, để duy trì tỉ lệ hiện tại, Việt Nam nên
tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng đến 11-12% trong tổng GDP.
Theo Thứ trưởng Sở Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Bích Đạt, đầu tư vào phát
triển cơ sở hạ tầng phải gấp 2 lần tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, nếu không, mọi thứ
sẽ phải được bố trí lại.
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm
2020, Việt Nam phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và toàn diện.
Giai đoạn 2007-2008, đất nước cần khoản 30 tỉ USD/năm để phát triển cơ sở
hạ tầng. Hiện tại, gần 40% trong tổng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là
được cung cấp từ nguồn vốn quốc tế, trong khi đó, chỉ 15% là từ tư nhân.
Đối với nhu cầu đầu tư vốn để nâng cao hệ thống giao thông cho đến
năm 2020, mỗi năm Việt Nam cần 117.744 tỉ VND (gần 7,4 tỉ USD), trong
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
8
khi hiện tại, khả năng đáp ứng nhu cầu trên chỉ ở mức 2-3 tỉ USD, chủ yếu từ
ngân sách Nhà nước, ODA và trái phiếu Chính phủ. Theo Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV), con số này chỉ đáp ứng 20-30% tổng nhu
cầu.
Hà Nội là trung tâm tài chính-tiền tệ lớn nhất Miền Bắc và đứng thứ hai
Việt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu.
Bảng 1: Các đợt huy động vốn của kho bạc Hà Nội.
Năm 1995 6.681.015
Đợt 1 6 tháng 1,7 2.060.901
Đợt 2 12 tháng 21 4.620.114
Năm 1996 734.482
Đợt 1 12 tháng 16 260.302
Đợt 2 12 tháng 12 474.180
Năm 1997 1.218.956
Đợt 1 24 tháng 12 925.087
Đợt 2 24 tháng 14 293.869
Năm 1998 638.570
Đợt 1 24 tháng 12 29.341
Đợt 2 24 tháng 12 149.616
Đợt 3 24 tháng 13 412.874
Đợt 4 24 tháng 14 46.739
Năm 1999 3.814.207
Đợt 1 24 tháng 13 893.837
Đợt 2 60 tháng 10 2.920.370
Năm 2000 1.024.000
Đợt 1 24 tháng 7 591.000
Đợt 2 60 tháng 6.4 433.000
Năm 2001 759.528
Đợt 1 24 tháng 6.8 637.749
Đợt 2 24 tháng 7.0 80.426
Đợt 3 60 tháng 7.2 41.353
Năm 2002 759.528
Đợt 1 24 tháng 7.1 167.796
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
10
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
11
Ngày 1/4/2009, UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt kế hoạch đầu tư 400 tỷ
đồng đợt 1 năm 2009 theo cơ chế cấp phát các dự án xây dựng hạ tầng kỹ
thuật, và nhà ở xã hội trên địa bàn Thủ đô.
Cụ thể, ngân sách TP sẽ tạm ứng 200 tỉ đồng thực hiện các dự án đầu tư
theo cơ chế cấp phát thuộc kế hoạch năm 2008 nhưng mất cân đối nguồn do
hụt thu nguồn tiền sử dụng đất, tiền bán nhà phục vụ tái định cư thuộc kế
hoạch thu năm ngoái, chuyển tiếp sang kế hoạch đầu tư năm 2009.
Một số dự án thuộc kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản điều chỉnh năm
2008 giao Kho bạc Nhà nước thành phố thanh toán như: Nhà NƠ1 đô thị mới
Định Công; Nhà N1A, N1B, N5A, N5BC, N5D đô thị mới Trung Hòa - Nhân
Chính; cụm nhà ở cao tầng trên ô đất N2A, N2B, N2C, N2D, N2E, N2F cũng
thuộc khu Trung Hòa - Nhân Chính...
1.3.2.Huy động vốn dân cư qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín
dụng.
Với mục đích huy động nguồn vốn lớn trong dân cư,hệ thống ngân hàng
đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường hóa và hiện đại hóa nhằm
tăng cường khả năng huy động vốn và tăng cường lòng tin của công chúng
trong hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó,ngân hàng cũng đưa ra quy chế mới về tiết kiệm của cá
nhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách gồm:
-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đang
sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
-Cho phép các TCTD được tự quy định các điều kiện và điều khoản đối
với hoạt động gửi tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách bao
gồm:
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
12
-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đang
147.17
5
172.16
0
175.22
7
231.77
9
397.85
2
483.972
Trong
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
13
đó
Tổ
chưc
kinh
tế
41.21
4
51.27
0
90.917 107.41
0
96.559 128.27
1
292.41
7
320.659
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
14
vụ ngân hàng được tin học hóa,công nghệ tin học được ứng dụng trực tiếp vào
công tác thanh toán.Đồng thời phần lớn các ngân hàng thương mại đã giao
dịch một cửa,đặc biệt là trong giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm,áp
dụng phần mềm vi tính cho quá trình giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiết
kiệm,tiền gửi tài khoản cá nhân,áp dụng mã số hóa tiền gửi tiết kiệm,áp dụng
phần mềm vi tính cho quá trình giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm của dân
cư.
1.3.3.Huy động vốn trong dân cư qua trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội.
TTCK Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.TTCK
bước vào giai đoạn bùng nổ về quy mô,đặc biệt là thị trường cổ phiếu.Kể từ
khi thành lập tính đến ngày 31/3/2009,có 177 công ty đăng ký giao dịch trên
TTGDCK Hà Nội. TTCKVN đã thực sự thể hiện được vai trò là kênh dẫn vốn
quan trọng của nền kinh tế. Theo thống kê của UBCKNN, năm 2007
TTCKVN đã huy động được 90.000 tỷ đồng vốn cho các doanh nghiệp bao
gồm cả hoạt động phát hành, đấu giá trên thị trường chính thức:
• UBCKNN đã cấp phép chào bán cổ phiếu cho 179 công ty, với tổng
cộng 2.460 triệu cổ phiếu được phát hành ra công chúng, tương ứng với
khoảng 48.000 tỷ đồng, gấp 25 lần năm 2006.
• UBCKNN cũng tổ chức phát hành được 3.468 triệu trái phiếu, tương
đương 3.750 tỷ đồng cho 3 NHTM cổ phần;
• UBCKNN chấp thuận phát hành 25 triệu chứng chỉ quỹ, tương đương
250 tỷ đồng cho quỹ đầu tư tăng trưởng Manulife.
Trải qua nhiều thăng trầm, TTCKVN năm 2007 vẫn đạt được mức tăng
trưởng vượt bậc, giá trị vốn hóa thị trường đạt 43,7% GDP - một con số
không nhỏ so với một thị trường còn non trẻ như Việt Nam. Trong đề án phát
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
yết(tỷ
đồng)
Số
lượng
Giá trị niêm
yết(tỷ đồng)
Cổ
phiếu
6 118,255 84 14.054,79
3
113 18.758,40
8
171 37.824,298
Trái
phiếu
7 1200 78 17270 157 64.175,59
8
501 158.503,598
Toàn
thị
trường
13 1318,25
5
162 34.324,79
3
270 81.934,00
6
672 212.154,848
Nguồn:TTGDCK Hà Nội.
1.3.3.1.Về hoạt động đấu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Vietcombank 15.000 97.500.000 107,680 26/12/2007
Nguồn: TTGDCK Hà Nội.
Về nhà đầu tư tham gia đấu giá,năm 2005 có tới 4.085 lượt nhà đầu tư
tham gia đấu giá;2.880 lượt nhà đầu tư đã trúng giá,trong đó có 2.734 nhà đầu
tư cá nhân trúng giá.Như vậy trung bình có 146 nhà đầu tư tham gia vào một
đợt đấu giá,trung bình có 103 nhà đầu tư trúng giá trong một phiên đấu
giá.Tổng số cổ phần đăng ký đặt mua cao hơn 16,7% so với tổng số cổ phần
chào bán.Số tiền chênh lệch giữa giá khởi điểm và giá trúng thầu là 1.500
đồng.Nói cách khác thông qua đấu giá cổ phần nhà nước đã thu được khoản
chênh lệch gần 300 tỷ đồng so với giá khởi điểm.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
17
Nếu tính đến thời điểm ngày 31/12/1007 thì tổng số đợt đấu giá đã thực
hiện là 53 đợt.Tổng số đợt nhà đầu tư tham gia đăng ký đấu giá là 59.808,có
17.973 nhà đầu tư đã trúng giá trong đó có 17.602 nhà đầu tư cá nhân trúng
thầu và 371 nhà đầu tư có tổ chức trúng thầu.Như vậy trung bình có 1129 nhà
đàu tư tham gia vào một đợt đấu giá.
THỐNG KÊ HOẠT ĐỘNG ĐẤU GIÁ CỔ PHẦN TẠI TTGDCKHN
(chỉ bao gồm các đợt đấu giá do TTGDCKHN chủ trì)
Cập nhật: 1/1/2007 - 31/12/2007
STT CHỈ TIÊU NỘI DUNG
1 Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện 53
2 Tổng số cổ phần chào bán 331 134 518
3 Tổng giá trị cổ phần bán đấu giá 3 311 345 180 000
4 Tổng số nhà đầu tư đăng ký tham
gia đấu giá
59 808
5 Tổng số cổ phần đăng ký mua 1 207 024 357
6 Tổng số nhà đầu tư tham gia hợp lệ 51 0
Tổng số nhà đầu tư trúng giá 5.279
+ Tổ chức: 190
+ Cá nhân: 5.089
8 Tổng số cổ phần trúng giá 213.987.456
9 Tổng giá trị cổ phần trúng giá 7.746.140.938.760
10 Tổng giá trị chênh lệch so với mệnh
giá
5.588.658.418.760
11 Tổng giá trị chênh lệch so với giá
khởi điểm
5.205.880.021.690
NĂM 2005
STT CHỈ TIÊU NỘI DUNG
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
19
1 Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện 28
2 Tổng số cổ phần chào bán 204.523.854
3 Tổng giá trị cổ phần bán đấu giá 2.128.186.749.750
4 Tổng số nhà đầu tư đăng ký tham gia
đấu giá
4.085
5 Tổng số cổ phần đăng ký mua 238.686.830
6 Tổng số nhà đầu tư tham gia hợp lệ 4.075
7
Tổng số nhà đầu tư trúng giá 2.880
+ Tổ chức: 137
+ Cá nhân: 2.743
8 Tổng số cổ phần trúng giá 184.058.194
Năm VN-
index
(31/1
2)
KLGD
(CP&CCQ)
GTGD
(1000đ)
Hastc
index
(31/12)
KLGD
(CP)
GTGD
(1000đ)
2000 207 3.641.000 90.214.760 0 0
2001 235 19.028.200 964.019.550 0 0
2002 183 35.715.939 959.329.653 0 0
2003 167 28.074.150 502.022.234 0 0
2004 239 76.393.008 2.003.868.492 0 0
2005 308 120.959.797 3.040.370.004 96,24 20.423.383 264.372.635
2006 752 643.281.249 38.175.024.441 242,89 95.606.426 3.917.384.521
2007 927.0
2
2.008.535.798 205.732.389.629 323,55 612.038.933 63.422.391.065
2008 315.6
2
367.992.000.000 105,12 1.531.376.1
37
57.122.358.541
hiểm không chỉ thực hiện việc huy động vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần
đảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân,gia đình,cho mọi tổ chức và các
doanh nghiệp.
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
22
Thị trường bảo hiểm là nơi dẫn vốn để cho các doanh nghiệp bảo hiểm
thực hiện các vai trò trung gian trung gian tài chính;vai trò nhà đầu tư có tổ
chức và vai trò các tổ chức phát hành.
Với vai trò là trung gian tài chính,các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động
trên lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đã khẳng định là một kênh huy động vốn
quan trọng của nền kinh tế.Bảo hiểm con người là công cụ hữu hiệu để huy
động những nguồn tiền nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội.Khi
kinh tế phát triển,đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu tiết
kiệm hoặc đầu tư số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi.Ở các nước đang phát triển
hoặc chậm phát triển thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu này,vì
vậy bảo hiểm con người,đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ ra đời đã giúp các cá
nhân và các tổ chức thực hiện nhu cầu một cách có hiệu quả.Do đối tượng
rộng,lại vừa mang tính tiết kiệm,vừa mang tính rủi ro,hơn nữa,do cơ chế và
cách thức đóng phí thuận lợi,cho nên bảo hiểm nhân thọ có nhiều ưu điểm
hơn hẳn gửi tiền tiết kiệm.
Có thể thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đang là một trong những
thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh và ấn tượng nhất trong khu vực và trên
thế giới,với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn
1993-2005 đạt khoảng 29%/năm.Trong một thập kỷ qua,tỷ trọng doanh thu
bảo hiểm trên GDP đã tăng từ 0.37%(năm 1993) lên 2,0% năm 2005.Đến hết
năm 2005,các doanh nghiệp đã đầu tư trở lại nền kinh tế gần 20.000 tỷ
VND(khoảng 1,2 tỷ USD).
Cơ cấu đầu tư từ nguồn tiết kiệm bảo hiểm đã chuyển mạnh từ đầu tư
ngắn hạn sang đầu tư dài hạn,dưới các hình thức:mua TPCP,đầu tư vào cổ
phiếu niêm yết và chưa niêm yết,đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ
Đinh Thị Tuyết Nhung Lớp: Đầu tư 47A
24
động sản và bảo hiểm chỉ thu hút khoảng được 70.000 tỷ đồng,vẫn còn 42.000
tỷ đồng nữa đang đợi đầu tư vào nền kinh tế,đó cũng chính là cơ hội cho
ngành bảo hiểm phát triển.
Việt Nam có dân số là 83 triệu người với 60% dân số dưới 30 tuổi.Hiện
nay theo đánh giá chỉ có khoảng 8% dân số tham gia vào thị trường bảo
hiểm,như vậy vẫn còn là một khoảng trống rất lớn để mở rộng thị trường (đặc
biệt là bảo hiểm nhân thọ).
Thị trường bảo hiểm năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ,song quy mô thị trường bảo hiểm vẫn còn nhỏ,chưa xứng đáng với tiềm
năng.Thủ đô Hà Nội là một trong 2 địa bàn(Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh) có hoạt động kinh doanh bảo hiểm lớn nhất cả nước.
Bảng 7:Một số chỉ tiêu bảo hiểm chủ yếu.
Các chỉ tiêu chủ yếu 1996 1999 2002 2003 2004 2005
1.Kết cấu thị trường
.Tổng số DNBH,MGBH 8 15 20 24 26 32
.Doanh nghiệp phi nhân thọ 6 10 13 14 14 16
.Doanh nghiệp nhân thọ 3 4 4 5 8
.Doanh nghiệp tái bảo hiểm 1 1 1 1 1 1
.Doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm
1 1 2 5 6 7
2.Quy mô thị trường bảo
hiểm(tỷ đồng)
.Doanh thu phí bảo hiểm(tỷ
đồng)
1.264 2.091 6.992 10.390 12.479 13.558
+Phi nhân thọ 1.264 1.606 2.624 3.815 4.768 5.535
+Nhân thọ 1 485 4.368 6.575 7.711 8.023