Đặc điểm của các yêú tố cấu thành hệ thống Quân chủ phong kiến Việt Nam - Pdf 13

Lời nói đầu
Xét về hình thức chính thể thì các nhà nước phong kiến nói chung đều có
một hình thức chính thể là Quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ ở các
nhà nước phong kiến Việt Nam trải qua hai giai đoạn phát triển.
Trong giai đoạn đầu từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự
tập chung quyền lực nhà nước vào tay vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức
bộ máy nhà nước của mấy triều đại đầu tiên còn rất đơn giản, với những vị
vua còn mang đậm dáng dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm
màu dân dã. Đến giai đoạn cuối thế kỉ XV trở đi, chính thể Quân chủ đã phát
triển thành Quân chủ chuyên chế. Từ đầu thời Lê sơ, cùng với việc Nho giáo
trở thành nền tảng lí luận của nhà nước Quân chủ chuyên chế, trở thành hệ
tư tưởng chính thống, giai cấp phong kiến đã bắt tay vào xây dựng chính thể
Quân chủ chuyên chế của mình. Với cuộc cải tổ thành công của Lê Thánh
Tông, nhà nước Quân chủ chuyên chế được hoàn thiện. Đến triều Nguyễn
tính chuyên chế của nền Quân chủ được tăng cường một bước mới.
Cùng với sự phát triển của nhà nước Quân chủ chuyên chế thì hệ thống
Quân chủ phong kiến Việt Nam càng ngày càng được hoàn thiện và mang
những đặc điểm rất khác biệt, và cũng chính là những đặc điểm của các yếu
tố cấu thành nên hệ thống Quân chủ ấy đó là: Vua – nhân vật trung tâm;
Quan lại, quý tộc và hệ thống pháp luật lễ nghi.
Cũng như nhà nước phong kiến khác, nhà nước phong kiến Việt Nam là
thể chế chính trị bảo vệ quyền lực và quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong
đó vua là nguời nắm mọi quyền lực nhà nước, là chủ sở hữu tối cao ruộng
đất công trong cả nước. Trong thể chế chính trị đó có hai mối quan hệ cơ
bản: Vua –bầy tôi (quý tộc, quan lại); Vua – thần dân. Quyền lợi và quyền
lực của giai cấp phong kiến, của nhà nước và các vị quân vương được thể
hiện và thực hiện bằng quân đội, đội ngũ quý tộc quan liêu, lễ nghi và luật
pháp. Để tìm hiểu thêm về chế độ phong kiến Việt Nam em chọn đề tài
“Đặc điểm của các yêú tố cấu thành hệ thống Quân chủ phong kiến Việt
Nam”. Các đặc điểm của từng yếu tố em xin trình bày kĩ trong phần nội
dung.

Hoàn khi lên ngôi lấy tên hiệu là Minh Kiều ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình
Chí Nhân Quảng Hiếu hoàng đế.
*Tên thuỵ: là tên người con lên kế vị đặt cho vua. Đinh Bộ Lĩnh có tên thuỵ
là Tiên Hoàng Đế sử sách thường gọi là Đinh Tiên Hoàng.
*Miến hiệu : Là tên đặt ra sau khi vua chết, đây là tên nơi thờ vua. Sử sách
sau này thường gọi tên vua bằng Miến hiệu.
*Niên hiệu của vua: Là tên năm khi lên ngôi. Mỗi vua có thể có một niên
hiệu hoặc có nhiều niên hiệu kế tiếp nhau. Như Lê Thánh Tông đã đặt cho
mình hai niên hiệu: Quang Thuận (1460 – 169) và Hồng Đức (1470- 1497)
Từ thời Tây Sơn và nhà Nguyễn, mỗi vị vua đều chỉ đặt một niên hiệu
nên sử sách thường gọi những vị vua này bằng niên hiệu. Như Nguyễn Huệ
gọi là vua Quang Trung.
Như vậy, các bậc và tên gọi của vua thể hiện một phần quyền lực, và nó
có ý nghĩa liên quan đến từng giai đoạn lịch sử trị vì của vị vua ấy.
2. Địa vị và quyền của vua thể hiện sự tối cao của quyền
lực, vua là nguồn gốc của luật pháp, là người đứng đầu bộ
máy hành chính và là vị quan toà tối cao.
***Về địa vị của vua
Trong chế độ phong kiến, vua được coi là Thiên tử - là con trời, là đại
diện cho trời cai trị dân đồng thời là đaị diện cho nhân dân trước trời đất.
Địa vị và chức năng của vua do trời định, vua chỉ đứng dưới một người là
trời và đứng trên muôn dân. Nhà nước phong kiến nhiều khi được xem là
của vua. Đây là đặc điểm rất cơ bản của vua phong kiến. Trong thời kì Quân
chủ, mọi quyền hành đều tập trung trong tay hoàng đế, đó là đặc điểm mang
tính dân tộc và tính phương Đông truyền thống. Với địa vị như vậy thì nhà
vua nắm trọn Vương quyền và Thần quyền:
Việc nắm Vương quyền thể hiện: Chỉ có vua là người duy nhất có quyền
đặt ra luật pháp; Vua có toàn quyền bổ nhiệm, thăng giáng, thưởng phạt,
thuyên chuyển, quy định quyền hạn trách nhiệm và lương bổng đối vơí quan
laị trong cả nước; Vua là người có quyền quết định cuối cùng với tất cả các

đình.
Để hợp lòng dân, ngoài dùng luật pháp cai trị, vua còn dùng đức trị, lấy
nhân đức nhân ái để cảm hoá giáo dục dân chúng. Mỗi lời nói, việc làm của
vua đều có mục tiêu răn dạy mọi người. Dân nổi loạn, mùa màng thất bát…
các đế vương tự cho mình là đức mỏng tài hèn, nên mặc dù uy quyền tuyệt
đối và có luật pháp trong tay vua vẫn tự kiềm chế mình.
Bên cạnh đó, chế độ khoa cử phải căn cứ vào sự đỗ đạt của nho sỹ để
tuyển bổ quan lại và còn tính tự quản của làng xã, vì thế nó đã hạn chế
quyền lực của vua khi lan xuống cấp cơ sở, như dân gian ta vẫn có nói “phép
vua thua lệ làng”.
3. Phương thức truyền ngôi trong chế độ phong kiến xuất
phát từ quan niện nước là của vua, luôn thống nhất và vĩnh
cửu:
Việc truyền ngôi vua tuy không được ghi thành văn, nhưng nó đã trở
thành tập quán chính trị tồn tại rất bền vững từ xưa, và cũng là đặc điểm cơ
bản của ngôi vua.
Việc truyền ngôi vua thường tuân theo ba quy tắc đó là: Chỉ truyền cho một
người, nguyên tắc trọng nam và trọng trưởng. Có thể hiểu ba nguyên tắc này
như sau: Quốc gia muốn thống nhất thì chỉ có một người làm vua mà thôi,
ngôi vua muốn không được truyền sang dòng họ khác thì chỉ truyền ngôi cho
con trai mà thôi. Bên cạnh đó còn quy định ngôi vua chỉ có thể truyền cho
con trai trưởng hoặc cháu trai trưởng. Như vậy, theo quan niệm và nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status