BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH CÁC KHU VỰC ĐẤT CHUYÊN
TRỒNG LÚA NƯỚC CẦN PHẢI BẢO VỆ NGHIÊM NGẶT
NĂM 2009 - 2010
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Phạm Thị Minh Thủy
8878 HÀ NỘI - 2010
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGThs. Đào Trung Chính
Ngày tháng năm
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
TS. Nguyễn Thắng
Ngày tháng năm
TL. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TS. Nguyễn Đắc Đồng
Viện Chiến lược
Chính sách tài nguyên
và môi trường
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Diện tích gieo trồng lúa trên thế giới
23
Bảng 2: Diện tích gieo trồng lúa một số quốc gia Châu Á
25
Bảng 3: Năng suất lúa trên thế giới qua các năm
27
Bảng 4: Sản lượng lúa thế giới qua các năm
28
Bảng 5: Bảy nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới năm 2007
30
Bảng 6: Mười quốc gia tiêu thụ gạo hàng đầu thế giới năm 2007
31
Bảng 7: Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam thời kỳ 1927-2000
46
Bảng 8: Tình hình sản xuất lương thực của nước ta qua các thời kỳ
52
Bảng 9: Tình hình sản xuất lúa gạo của nước ta giai đoạn 1980-2009
66
Bảng 10: Năng suất lúa của cả nước và các vùng giai đoạn 1995-2009
69
Bảng 11: Sản lượng lúa của cả nước và các vùng giai đoạn 1980-2009
71
Bảng 12: Dự kiến nhu cầu tiêu thụ gạo của người Việt Nam đến năm
2030
81
Biểu đồ 2: Diện tích gieo trồng lúa so với diện tích gieo trồng cây
lương thực có hạt trên thế giới năm 2008
24
Biểu đồ 3: Tỷ trọng diện tích gieo trồng lúa so với diện tích gieo
trồng cây lương thực một số quốc gia Châu Á năm 2008
26
Biểu đồ 4: Năng suất lúa của các quốc gia Châu Á năm 2008
28
Biểu đồ 5: Tỷ lệ đóng góp sản lượng lúa của các quốc gia Châu Á
năm 2008
29
Biểu đồ 6: Tình hình xuất - nhập khẩu gạo trên thế giới
29
Biểu đồ 7: Dự báo sản lượng gạo xuất khẩu các nước đến năm 2020
32
Biểu đồ 8: Dự báo nhu cầu lúa gạo thế giới đến năm 2020
33
Biểu đồ 9: Sản lượng lương thực có hạt của Việt Nam qua các năm
64
Biểu đồ 10: Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người qua
các năm
65
Biểu đồ 11: Diện tích gieo trồng lúa cả nước và các vùng giai đoạn
1980 - 2009
67
Phụ lục 5: Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người trên thế giới
Phụ lục 6: Sản l
ượng lúa bình quân đầu người trên thế giới
Phụ lục 7: Diện tích gieo trồng cây lương thực trên thế giới
Phụ lục 8: Diện tích gieo trồng lúa trên thế giới
Phụ lục 9: Sản lượng lương thực có hạt của cả nước và các vùng qua các năm
Phụ lục 10: Diện tích gieo trồng cây lương thực của cả nước và các vùng qua
các năm
Phụ lục 11: Dân số của cả nước và các vùng qua các n
ăm
Phụ lục 12: Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người của cả nước và
các vùng qua các năm
Phụ lục 13: Sản lượng lúa của cả nước và các vùng qua các năm
Phụ lục 14: Năng suất lúa của cả nước và các vùng qua các năm
Phụ lục 15: Diện tích gieo trồng lúa của cả nước và các vùng qua các năm
Phụ lục 16: Sản lượng lúa bình quân đầu người của cả nước và các vùng qua các nă
m
Phụ lục 17: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Trung du miền núi
Bắc bộ
Phụ lục 18: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Đồng bằng Bắc bộ
Phụ lục 19: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Bắc trung bộ
Phụ lục 20: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Duyên hải Nam
trung bộ
Phụ lục 21: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Tây Nguyên
Ph
ụ lục 22: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Đông Nam bộ
Phụ lục 23: Quy hoạch diện tích đất lúa đến năm 2020 vùng Đồng bằng sông
Cửu Long
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng Cộng sản Việt
tích đất ruộng lúa”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Trung tâm Điều tra
quy hoạch đất đai, Hà Nội;
15. Nghị quyết số 63/NQ-CP của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia, 2009, Hà Nội;
16. Nghị quyết s
ố 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà
Nội;
17.
18.
19.
20. i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu của đề tài
3
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
3
4. Phương pháp nghiên cứu
3
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
6. Kết cấu của đề tài
4
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA
34
I.3.2.
Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc bảo vệ
diện tích đất canh tác nói chung và đất trồng lúa nói riêng nhằm bảo đảm
an ninh lương thực
37
I.3.3. Bài học rút ra đối với nước ta trong việc bảo vệ nghiêm ngặt diện
tích đất trồng lúa nước
41
I.4.
Cơ sở khoa học để xây dựng các tiêu chí xác định khu vực đất
chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt
43
I.4.1. Lịch sử hình thành nền nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam
43
ii
I.4.2. Đánh giá điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu) của Việt Nam với
việc trồng lúa nước
47
I.4.3. Vai trò của sản xuất lúa gạo đối với an ninh lương thực
51
I.4.4. Sức ép của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ảnh hưởng tới
diện tích đất trồng lúa, đe dọa an ninh lương thực quốc gia
53
I.4.5. Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất lúa
gạo thông qua việc suy giảm diện tích đất trồng lúa
III.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định diện tích đất chuyên
trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt
93
III.1.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
93
III.1.2. Nhóm yếu tố về hạ tầng kỹ thuật
101
III.1.3. Nhóm yếu tố về kinh tế, thị trường
105
III.1.4. Nhóm yếu tố về văn hóa, xã hội, chính trị
106
III.1.5. Nhóm yếu tố về mức độ ảnh hưởng của môi trường
108
III.2. Đề xuất bộ tiêu chí chung để xác định khu vực đất chuyên
trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt
110
III.2.1. Nhóm tiêu chí về điều kiện tự nhiên
110
iii
III.2.2. Nhóm tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật
111
III.2.3. Nhóm tiêu chí về kinh tế, thị trường
111
III.2.4. Nhóm tiêu chí liên quan đến văn hóa, xã hội
112
III.2.5. Nhóm tiêu chí liên quan đến môi trường
112
III.3. Đề xuất các tiêu chí xác định khu vực đất chuyên trồng lúa
nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt áp dụng cho từng vùng lãnh thổ
thực nhất định.
Với dân số ngày càng tăng trên thế giới (đặc biệt ở các quốc gia Châu Á,
Châu Phi, Mỹ La Tinh,…) thì nhu cầu về lương thực không ngừng tăng lên,
trong khi diện tích canh tác lương thực trên thế giới đang có xu hướng bị thu
hẹp. Đây là một thách thức lớn đối với vấn đề an ninh lương thực toàn cầu.
An ninh lương thực hiện nay không chỉ là vấn đề thời sự trong nước mà
còn là vấn đề thờ
i sự của cả thế giới. Nguy cơ mất an ninh lương thực trên thế
giới luôn thường trực do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như biến
đổi khí hậu, nhu cầu về năng lượng sinh học, nhu cầu về đất đai cho công
nghiệp hóa, đô thị hóa,… Một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng
hoảng lương thực thế giới cuối năm 2007 đến đầu năm 2008 là do xu hướng
phát triển
ồ ạt nhiên liệu sinh học nhằm giảm áp lực chi phối bởi dầu mỏ và hạn
chế lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính - tác nhân làm nhiệt độ toàn cầu nóng
lên. Khi đó, diện tích trồng cây lương thực buộc phải thu hẹp để dành chỗ cho
các loại cây phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, hậu quả là sản lượng lương
thực giảm sút, giá cả leo thang. Thực tiễn tình hình khủng hoả
ng thiếu lương
thực dẫn đến bất ổn xã hội tại nhiều nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi
càng thấy vai trò, vị trí của nông nghiệp trong việc đảm bảo an ninh lương thực
- nền tảng đảm bảo an ninh, ổn định chính trị. Theo đánh giá của Liên Hiệp
Quốc hiện có trên 30 quốc gia thiếu lương thực nghiêm trọng, cận kề với cái đói
cần được cứu trợ
khẩn cấp. Việc làm thế nào để bảo đảm an ninh lương thực thế
giới đã trở thành đề tài được cộng đồng quốc tế quan tâm nhất hiện nay.
Đối với Việt Nam, là quốc gia nhiều năm qua luôn nằm trong “tốp ba”
nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Năng suất lúa bình quân cả nước
lúa nước có trách nhiệm cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất, không được
chuyển sang s
ử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng
thủy sản và vào mục đích phi nông nghiệp nếu không được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép”. Có nhiều đề xuất cho rằng cần phải cắm mốc giới
xác định diện tích đất lúa cần phải bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên đến nay vẫn
chưa có cơ sở rõ ràng nào cho việc xác định diện tích đất trồng lúa không được
phép chuy
ển đổi mục đích sử dụng. Để bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu an ninh
lương thực với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước thì
việc xác định các tiêu chí mang tính khoa học để làm căn cứ đề xuất việc bảo
3
vệ quỹ đất chuyên trồng lúa nước phù hợp với điều kiện của từng vùng miền là
hết sức cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu trên cho thấy việc thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất các tiêu chí xác định các khu
vực đất chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt” là cần thiết.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn trong việc xác định các tiêu chí xác
định khu vực đất chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt;
- Đề xuất bộ tiêu chí xác định các khu vực đất chuyên trồng lúa nước cần
phải bảo vệ nghiêm ngặt nhằm phục vụ mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực
quốc gia.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu những quan điểm, quy định của pháp luật liên quan đến an
ninh lương thực, đất trồng lúa nước, tiêu chí xác định đất chuyên trồng lúa
nước;
- Phân tích, đánh giá tổng quan về đất trồng lúa nước trên thế giới;
- Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng các tiêu chí xác định khu vực
đất chuyên trồng lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt;
Việt Nam;
Chương III: Đề xuất bộ tiêu chí xác định các khu vực đất chuyên trồng
lúa nước cần phải bảo vệ nghiêm ngặt.
5
CHƯƠNG I
NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
LÚA GẠO VÀ CÁC TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH KHU VỰC
ĐẤT CHUYÊN TRỒNG LÚA NƯỚC
I.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I.1.1. Những quan điểm chung về an ninh lương thực
An ninh lương thực đã và đang trở thành chủ đề thời sự nóng bỏng có
tính toàn cầu, là một trong những vấn đề được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan
tâm trong quá trình phát triển tiến vào thế kỷ 21. Nhiều nước trên thế giới đặc
biệt là khu vực châu Phi, châu Á vì những lý do khác nhau đang phải đối mặt
với nạn đói, thiế
u lương thực và suy dinh dưỡng. Vậy cụm từ “an ninh lương
thực” xuất hiện từ khi nào?
An ninh lương thực là quan niệm xuất hiện vào giữa những năm 70 trong
các thảo luận về tình hình lương thực thế giới và là phản ứng trước cuộc khủng
hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó. Quan tâm ban đầu chủ yếu tập
trung vào các vấn đề cung lương thực - đả
m bảo nguồn cung cấp và ở một mức
độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia và
quốc tế.
Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1974, khái niệm an ninh
lương thực được hiểu theo nghĩa hẹp là: “sự sẵn có của nguồn cung lương thực
thế giới ở m
ọi lúc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện biến
nhiên, vấn đề “ti
ếp cận” trong an ninh lương thực hiện nay còn bao gồm cả vấn
đề có đủ lương thực và điều này cho thấy người ta vẫn lo ngại về suy dinh
dưỡng protein. Việc mở rộng quan niệm bao gồm các khía cạnh an toàn lương
thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy quan ngại về thành phần lương thực,
thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho một
cuộc sống năng động và khoẻ mạnh. Người ta cũng quan tâm nhiều hơn đến sở
thích đối với lương thực, thực phẩm theo truyền thống văn hóa hoặc xã hội.
Mức độ phức tạp và cụ thể theo từng hoàn cảnh của an ninh lương thực cho
thấy rằng quan niệm này không còn đơn giản và tự nó không phải là mục đích
mà nó là một loạt các hành động trung gian nhằm đạt
được một đời sống năng
động và khoẻ mạnh.
Theo báo cáo của UNDP về phát triển con người phát hành năm 1994,
thì an ninh con người được xem xét theo bảy loại hình: An ninh kinh tế, an ninh
lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh
cộng đồng và an ninh chính trị. Trong đó an ninh lương thực có thể coi là vấn
đề cốt yếu đối với mọi quốc gia ở mọi thời đại.
Tại Hội nghị các nước không liên kết tháng 10 năm 1994
ở Bali,
Indonesia đã xác định khái niệm an ninh lương thực là: “Sự cung cấp đầy đủ
lương thực cả về số lượng lẫn chất lượng cho toàn bộ dân số, mọi lúc, mọi nơi”.
7
Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới tổ chức ở Rôma (Italia) vào
năm 1996 đã mở rộng khái niệm an ninh lương thực theo chuỗi từ cấp độ cá
nhân đến cấp độ toàn cầu và chuyển hóa từ lượng sang chất: “An ninh lương
thực đạt được ở mỗi cá nhân, mỗi hộ, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, và cấp độ
toàn cầu cầu khi tất cả m
ọi người, ở mọi lúc, mọi nơi đều có đủ chất dinh
quan điểm tự cấp, tự túc mà theo quan điểm mới tự giải quyết được lương thực.
Để đảm bảo vững chắc cho an ninh lương thực một cách thường xuyên,
cần phải theo dõi có hệ thống các chính sách sản xuất. Phân tích các tác động
8
đến an ninh lương thực không chỉ dựa vào tình trạng cung cầu kịp thời mà còn
xem xét chiều hướng phát triển và những chính sách chung có tầm cỡ quốc gia
và thế giới. Những chính sách lương thực được thực hiện trước đây và làn sóng
kỹ thuật được thâm nhập với những người sản xuất lương thực, dẫn đến một sự
hạ giá lương thực ở thị trường thế
giới. Tuy nhiên với nhu cầu tiêu dùng lương
thực đang phát triển mạnh hơn tốc độ phát triển sản xuất nên dự kiến có thể
thời gian tới việc nhập khẩu lương thực theo mức dự báo sẽ chịu giá đắt hơn
trước. Trong những hoàn cảnh như vậy, những tác động thực tế đối với an ninh
lương thực thế giới còn lớn và sự phân chia gánh nặng này
ở tầm thế giới còn
khó khăn nhiều hơn so với trước.
Việc tăng cường tiềm lực sản xuất ngũ cốc đối với các nước có thu nhập
thấp và thiếu lương thực đòi hỏi cần có một sự quan tâm đặc biệt. Không phải
do những lý do kỹ thuật mà phần lớn các nước này không thể tự giải quyết
được nhu cầu phát triển của cuộ
c sống. Những vấn đề không thể giải quyết
được dễ dàng hay nhanh chóng đã xuất hiện càng ngày càng rõ ràng như: làm
sao nâng cao mức sống của các hộ nông dân nhỏ và của những người có đất
đai, khí hậu không thuận lợi hoặc ở những vị trí cách biệt? Làm sao mà bảo
đảm được giá khuyến khích nông dân sản xuất mà không ảnh hưởng đến đời
sống dân nghèo thành thị? Làm sao nuôi được số dân thành thị ngày càng tăng
nhanh chóng mà nguồn lươ
ng thực thường chủ yếu giải quyết bằng nhập khẩu
lúa mỳ? Làm sao mà phát triển vốn cho nông dân khi ngân sách đã hết ?
nhóm người có thu nhập thấp, trong suốt thời kỳ thiếu lương thực.
Nhìn chung việc ổn định cung cấp lương thực còn phải nhằm cho cả
những năm tiếp theo. Vì sự không ổn định lương thực của năm trước sẽ đè
nặng lên những năm sau do: Sự biến động, không ổn định về diện tích, năng
suất, sản lượng cây tr
ồng lương thực; Biến động của cung và cầu về sản phẩm
lương thực trên thị trường; Những chính sách phát triển nông nghiệp; Những
khó khăn trong dự trữ lương thực.
Một số ý kiến đang được nêu ra và bàn cãi ở các vòng đàm phán của các
nước G7 trong đó có việc xoá bỏ hàng rào thuế quan vốn đang rất chặt chẽ để
bảo vệ sản xuất lương thực trong n
ước, để tiến tới thả nổi thị trường lương
thực, sẽ có thể dẫn đến những đảo ngược hoàn toàn thị trường lương thực cả về
sản xuất, tiêu thụ và giá cả làm ảnh hưởng rất lớn đến việc lưu thông lương
thực trong cả các nước sản xuất, xuất khẩu cũng như tiêu thụ và nhập khẩu
lương thự
c, làm mất ổn định cung cấp lương thực trong phạm vi thế giới và các
khu vực. Những khủng hoảng về lương thực trong tương lai có thể trong phạm
vi mỗi nước hay từng khu vực. Những sự khủng hoảng tái diễn ở những nước
không giải quyết được sản xuất ngũ cốc hay ở những nước thường bị thiên tai
là những mối lo.
Ở nhiều nước v
ấn đề khủng hoảng lương thực là do thiếu cơ sở hạ tầng
cho thương nghiệp, vận tải và bảo quản. Kinh nghiệm cho thấy ở Châu Phi do
khó khăn trong thương mại vận chuyển mà có vùng thừa, có vùng rất thiếu.
Không có hệ thống bảo quản, nhiều nước không thực hiện được những dự trữ
cần thiết cho những năm thiếu thốn. Trong nhiều nước đ
ang phát triển, việc cải
10
dân có điều kiện đất đai, những cơ sở vật chất và những nguồn phục vụ sản
xuất khác như tín dụng, sức kéo, giống, phân bón thì họ mới có lợi khi nông
nghiệp phát triển. Ở
các vùng thành thị khi sự phân phối bao cấp không còn
nữa thì các gia đình có đủ lương thực hay không là tuỳ thuộc vào thu nhập.
Việc tạo điều kiện cho nhân dân tăng thu nhập bằng cách tham gia các
hoạt động kinh tế là một trong những việc cần quan tâm lớn. Nói chung không
có sự bảo đảm an ninh lương thực vững chắc khi vấn đề tiếp cận của các gia
đình về lương thực chưa được giải quyết.
11
Cần quan tâm thích đáng việc bảo đảm sản xuất lương thực để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng mà không thừa ế. Về chiến lược phải có chính sách bảo đảm
một sự phát triển cân đối, một sự phân phối công bằng về lợi tức cũng như sự
hạ thấp số người nghèo khổ. Sự phát triển của các hộ nông dân nhỏ nhờ sự
phân ph
ối tốt tài nguyên, nhất là đất đai, vốn tín dụng, phương tiện sản xuất, kỹ
thuật thích hợp. Cần phát huy mọi khả năng tối đa để tạo công ăn việc làm cho
người lao động nông thôn không có đất đai, quan tâm thích đáng việc phát triển
công nghiệp ở nông thôn nhất là loại đòi hỏi nhiều lao động, phát triển các
chương trình công cộng ở nông thôn cũng góp phần giải quyết lao động.
Thực hiện chính sách lương thực đối với tầng lớp quá nghèo trong cộng
đồng, rất tốn kém, nhất là khi phải bao cấp lớn. Đó là một gánh nặng cho Nhà
nước. Việc nghiên cứu để thực thi các mục tiêu xã hội, chính sách cung ứng
lương thực thực phẩm có thể kích thích việc sản xuất trong nước. Muốn vậy
cần xác định cụ thể đối tượng, thu hẹp lại và không để tồn tạ
i những đối tượng
thật sự không có yêu cầu.
Những chính sách lương thực có thể đạt kết quả khi tuân theo 3 nguyên
tắc: được tài trợ, có sự điều hành của Nhà nước và phù hợp với mục tiêu và
khác). Tùy theo mỗi quốc gia (vị trí địa lý, đất đai thổ nhưỡng, cơ cấu kinh tế,
thế mạnh của các ngành kinh tế khác nhau,…) mà có cách tăng cung lương
th
ực khác nhau. Tăng cung lương thực có thể bằng nhiều cách: tăng sản xuất
lương thực; ổn định sản lượng lương thực ở một mức độ nào đó, và sẽ tăng
thêm cung bằng nhập khẩu lương thực hoặc điều chỉnh cơ cấu (giảm xuất khẩu;
phát triển khoa học công nghệ để giảm tương đối sử dụng lương th
ực trong một
số ngành công nghiệp chế biến).
Ngày nay, việc đảm bảo an ninh lương thực cho cả loài người đang đặt ra
những thách thức lớn cho các quốc gia cũng như cho cộng đồng thế giới. Nó đòi
hỏi nỗ lực của bản thân các quốc gia, đồng thời phải có sự phối hợp, chung tay
hành động giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực.
Trong nhiều thập kỷ qua, nhờ sự nỗ lực của các quốc gia và các tổ chức
quốc tế, đứng đầu là hệ thống các cơ quan của Liên Hợp quốc, trong đó có
FAO, sản xuất lúa gạo trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Năm
2009, diện tích lúa toàn thế giới là 161 triệu ha với sản lượng 679 triệu tấn,
năng suất 4,2 tấn/ha. So với năm 1961
đến nay sau 50 năm, diện tích lúa tăng
50 triệu ha, sản lượng tăng 470 triệu tấn và năng suất tăng 2,25 lần. Trong đó,
10 năm gần đây sản lượng lúa thế giới tăng 75 triệu tấn, chủ yếu là do áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật làm tăng năng suất. Với những nỗ lực và thành tựu to lớn
đó, nhiều quốc gia đã tự túc được lương thực, góp ph
ần tích cực thực hiện mục
tiêu xoá đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực của khu vực và toàn cầu.
Tuy vậy, việc bảo đảm an ninh lương thực hiện nay vẫn còn là một thách
thức lớn mang tính toàn cầu. Theo FAO thì hiện nay trên thế giới vẫn còn 925
triệu người bị đói và thiếu dinh dưỡng. Nhiều quốc gia hiện đang cần trợ giúp
để tạo dựng lại khả năng sả
n xuất nông nghiệp và 30 quốc gia đang trải qua
lúa nước được định nghĩa như sau:
“Đất chuyên trồng lúa nước là ruộng lúa nước (gồm cả ruộng bậc thang)
hàng năm cấy trồng từ hai vụ trở lên, kể cả trường hợp có luân canh, xen canh
với cây hàng năm khác hoặc có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng được một vụ
hoặc không sử dụng trong thời gian không quá một năm”.
Các vụ lúa được gieo trồng ở n
ước ta hiện nay là 3 vụ: đông xuân, hè thu
và vụ mùa. Trong đó, miền Bắc chỉ trồng cấy được 2 vụ lúa là vụ đông xuân và
vụ mùa. Miền Nam có nhiều khu vực gieo trồng được cả 3 vụ lúa là đông xuân,
hè thu và vụ mùa.
14
Xét về tính chất của đất thì đất trồng lúa nước là loại đất nông nghiệp mà
tính chất vật lý, hóa học của đất có những thay đổi rất cơ bản so với tình trạng
tự nhiên ban đầu. Điều này là do canh tác trong điều kiện ngập nước, trạng thái
khử chiếm ưu thế trong đất làm cho tính chất của đất diễn biến theo chiều
hướng khác nhiều so với đất ban
đầu chưa trồng lúa, hình thành loại đất mới
với những đặc tính đặc trưng riêng.
Dựa vào chế độ canh tác lâu dài theo phương thức ngập nước có chu kỳ
và nhờ vào các công trình phụ trợ của kỹ thuật canh tác lúa nước như hệ thống
kênh mương tưới tiêu, hệ thống giao thông nội đồng, hệ thống ruộng bậc
thang,… Do đó, đất trồng lúa nước không thể tồn tại riêng lẻ từng th
ửa một mà
phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa các thửa với nhau mới phát huy được hiệu
quả cao, bất kỳ lý do nào làm phá vỡ mối liên hệ đó, nhất là đối với hệ thống
giao thông, thủy lợi, công trình phòng hộ,… đều ảnh hưởng xấu đến hiệu quả
sử dụng đất và năng suất lúa.
I.1.2.2. Quan điểm, mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực ở Vi
ệt Nam