1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
Tênđềtài
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NHU CẦU DINH DƯỠNG
ĐỐI VỚI THỦY CẦM CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
(MÃSỐ:ĐTĐL.2008T/17)
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chăn nuôi
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Quốc Việt
8959
HàNội‐ 2011
Nguyễn Thiện và ctv (1993) [21], Lương Tất Nhợ (1993) [15] các công trình
nghiên cứu về thủy c
ầm ở Việt Nam trong thời gian này tập trung chủ yếu vào
3
việc đánh giá khả năng sản xuất, nhân thuần, chọn lọc giống. Những nghiên
cứu về thức ăn cho thủy cầm ở nước ta tập trung chủ yếu vào việc khai thác
và sử dụng nguồn thức ăn sẵn có như sử dụng thóc, đầu tôm để nuôi vịt CV
Super M [3]; sử dụng phụ phẩm súc sản làm thức ăn cho vịt [12], sử dụng phụ
phẩm công nông- nghiệp làm th
ức ăn cho vịt ở đông bằng sông Cửu Long
[19]. Những nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng thủy cầm cũng rất hạn chế,
tập trung chủ yếu vào việc khảo sát mức năng lượng và protein thích hợp
trong khẩu phần thức ăn cho ngan Pháp [23]; [25] và vịt CV Super M [14].
Nhìn chung, so với gà, những công trình nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng
cho các đối tượng thủy cầm ở nước ta còn rất ít và tản mạn. Các k
ết quả
nghiên cứu rất khó vận dụng trong điều kiện hiện nay, khi thức ăn cho vịt,
ngan được sản xuất dưới dạng viên bằng công nghệ hiện đại. Để xây dựng
công thức thức ăn cho các đối tượng thủy cầm, người chăn nuôi và sản xuất
thức ăn vẫn phải dựa vào các khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng của nước
ngoài (phổ biến nh
ất là các khuyến cáo của Ủy ban nghiên cứu quốc gia Hoa
Kỳ (NRC, 1994) [125]) hoặc của hãng sản xuất con giống để thiết lập cơ sở
dữ liệu. Tuy nhiên, việc tham khảo những nguồn tài liệu này cũng có rất nhiều
bất cập. Những khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng của Ủy Ban nghiên cứu
quốc gia Hoa kỳ (NRC, 1994) [125] dựa chủ yếu vào những kết quả nghiên
cứu cách đây trên 30 năm [79]; [125], trong khi
đó tiềm năng di truyền về
năng suất sinh trưởng, sinh sản của các giống thủy cầm, đặc biệt là các dòng
xuất khác nhau (nuôi thịt, đẻ trứng giống, đẻ trứng thương phẩm), ở các trạng
thái sinh lý khác nhau (vịt, ngan con; vịt, ngan dò; vịt, ngan vỗ béo; vịt, ngan
hậu bị và vịt, ngan đẻ trứng).
- Để thực hiện đề tài, tổng số 23 thí nghiệm với 18400 thủy cầm các loại,
trong đó có 3 thí nghiệm thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản (thí nghiệm tiêu
hóa trên vịt CV Super M); 10 thí nghiệm nuôi dưỡng đã được tiến hành t
ại
các cơ quan nghiên cứu và trường đại học (Viện Chăn nuôi; Viện Khoa Học
Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam; Trung tâm Nghiên Cứu Vịt Đại Xuyên;
Trung tâm Nghiên Cứu Gia Cầm Thụy Phương; Trường Đại học Nông Lâm
5
Thái Nguyên) và 10 thí nghiệm được tiến hành tại các trang trại chăn nuôi
thủy cầm ở các tỉnh: Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh và Bắc Giang.
1.4. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính mới của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu từ những thí nghiệm cụ thể, đề tài đã
xây dựng được một cơ sở dữ liệu về thức ăn và dinh dưỡng thủ
y cầm gồm: (i)
Thành phần hóa học, giá trị năng lượng trao đổi, tỷ lệ tiêu hóa phốt pho, tỷ lệ
tiêu hóa axit amin hồi tràng tiêu chuẩn của một số loại thức ăn được dùng phổ
biến cho thủy cầm ở nước ta và (ii) nhu cầu năng lượng trao đổi, protein, axit
amin (lysine, methionine) và khoáng (canxi, phốt pho) của các đối tượng:
Ngan Pháp, vịt CV Super M nuôi thịt và sinh sản, vịt Khaki Campbell ở các
giai đoạn sản xuất và trạng thái sinh lý khác nhau. Nguồ
n cơ sở dữ liệu này có
ý nghĩa rất lớn đối với khoa học vì đảm bảo được tính hiện đại trong lĩnh vực
dinh dưỡng thủy cầm vốn rất hiếm không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước trên
thế giới. Đối với thực tế sản xuất, cơ sở dữ liệu này sẽ rất hữu ích không chỉ
đối với người chă
nghiên cứu về nhu cầu và chế độ dinh dưỡng trong thực tế sản xuất ở trang
trại đã làm tăng hiệu quả kinh tế từ 8 đến 25%.
7
Phần II
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1. Những đặc điểm khác biệt giữa vịt, ngan và gà
Về khía cạnh sinh học, thủy cầm (vịt, ngan) rất khác so với gà về một số
đặc điểm giải phẫu, sinh lý tiêu hóa, tốc độ sinh trưởng và thành phần cơ thể
[148]. Chính vì vậy, khi nghiên cứu xác định nhu cầu dinh dưỡng của thủy
cầm, cần phải hiểu biết đầy đủ
những khác biệt này để đưa ra cách tiếp cận và
những phương pháp nghiên cứu phù hợp.
2.1.1. Về tiêu hóa và hấp thu thức ăn
Trong tự nhiên, vịt, ngan khác với gà về tập tính ăn uống cũng như một
số đặc điểm về cấu trúc của hệ tiêu hóa. Mỏ của vịt và ngan thích hợp với
việc mò, tìm kiếm và lấy thức ăn dưới nước. Trái lại cấu trúc mỏ củ
lượng protein tuyến tụy có tương quan khá chặt với hoạt tính của các enzyme
của tuyến này. Hàm lượng protein tuyến tụy (mg/g) ở vịt lúc 1, 7, 28 và 42
ngày tuổi (28,2; 30,6; 34,4 và 33,0 mg/g) cao hơn khá nhiều so với gà (19,1;
23,8; 30,2 và 29,9 mg/g). Hoạt tính enzyme amylaza tuyến tụy
ở vịt khảo sát
lúc 1, 28 và 42 ngày tuổi (34; 117 và 158 u/mg) cao hơn so với gà (25; 36 và
43 u/mg). Trong các phân đoạn khác nhau của ruột non ở gà và vịt, hoạt tính
của các enzyme cũng rất khác nhau. Hoạt tính của Maltaza, Lipaza vào lúc 5
và 42 ngày tuổi ở tá tràng và ruột non của vịt cao hơn so với gà, nhưng hoạt
tính của α-Amylaza và Saccharaza lại thấp hơn [97].
Những kết quả nghiên cứu về tiêu hóa trên vịt cũng rất khác nhau.
Applegate và ctv (2005) [36]; Kluth và Rodehutscord (2006) [102] đã cho
thấy tỷ lệ tiêu hóa axit amin ở vịt th
ấp hơn ở gà và gà tây. Jamroz và ctv
(2002) [97] cũng thông báo, hoạt tính các enzyme tìm thấy trong dịch ruột của
vịt thấp hơn ở gà. Theo Mohamed và ctv (1984) [119], tỷ lệ tiêu hóa protein
thô và chất béo ở vịt cao hơn so với gà. Theo một số tác giả: Schubert và ctv,
1982 [143]; Leeson và Summers, 2005 [114], ngan và vịt Bắc Kinh có khả
năng tiêu hóa chất xơ và chất hữu cơ tốt hơn gà. Kết quả nghiên cứu của
Kluth và ctv (2006) [102] cho thấy, tỷ lệ tiêu hóa năng lượng thô, lysine và
9
methionine trong khẩu phần cơ sở, khô dầu đậu tương và khô dầu hạt cải ở vịt
thấp hơn so với gà.
2.1.2. Về tốc độ sinh trưởng và thành phần thân thịt
Vịt, ngan có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà rất nhiều. Khi được nuôi
dưỡng hợp lý, vịt tăng khối lượng 5,2 lần so với sơ sinh vào lúc 7 ngày tuổi;
15,8 lần vào lúc 14 ngày và 62 lần vào 42 ngày. Các số liệu tương ứng trên gà
lần lượt là: 4,0; 9,7 và 55,3 [128]. Trong hai
đến ba tuần đầu, tốc độ sinh
ngon và chắc của thịt lúc này chưa đủ để hấp dẫn người tiêu dùng [152].
2.1.3. Về đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục sinh dục ở các giống thủy cầm rất khác nhau tùy theo
hướng sản xuất và mức độ nuôi dưỡng. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, các
giống vịt chuyên trứng như vịt Khaki Campbell và vịt Triết Giang Trung
Quốc thường
đẻ quả trứng đầu tiên vào thời điểm từ 120 đến 150 ngày; vịt
CV Super M : 160-175 ngày; Ngan: 175-190 ngày. Vịt có thể đẻ liên tục trong
một tháng hoặc hơn mà không nghỉ, sản lượng trứng có thể tới 250-280
quả/năm [157]. Trứng vịt khác với trứng gà cả về khối lượng và độ dày vỏ.
Điều này có thể do sự khác nhau về kích cỡ vòi trứng. Theo Ma (1968) [116],
độ dài của loa kèn ở vịt Khaki Campbell bằng 15% tổng độ
dài của cơ quan
sinh dục, nhưng ở gà chỉ là 12,5%. Đô dài của tử cung (đoạn tiết albumin) ở
vịt Tsaiya bằng 52%, ở vịt Khaki Campbell bằng 54%, nhưng ở gà chỉ bằng
44,4% so với tổng chiều dài của cơ quan sinh dục.
Thời gian tạo trứng của vịt ngắn hơn so với gà, thời gian để trứng vào
đến tử cung ở vịt Khaki Campbell là 5,41 giờ, nhưng ở gà là 5,66 giờ, thời
gian trứng ở trong tử cung của vịt là 24 giờ thì ở gà là 25,42 giờ. Bởi vậy, thời
gian giữa hai lần tạo trứng ở vịt là từ 24,0 đến 24,4 giờ, nhưng ở gà là 25,42
giờ [157]. Tính ấp bóng và bản năng sinh sản theo mùa ở thủy cầm (đặc biệt
là ngan) cao hơn rất nhiều so với gà [48]. Đây là một đặc điểm cần hết sức lưu
ý để đưa ra chế
độ nuôi dưỡng thích hợp trong giai đoạn đẻ trứng. 11
2.2. Những nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng thủy cầm
Đến những năm 80 của thế kỷ 20, trên thế giới vẫn không có một cơ sở
dữ liệu nào về nhu cầu các chất dinh dưỡng cho các loài thủy cầm [108]. Để
12
hiệu chỉnh nitơ (TMEn) của các thức ăn trên tương ứng: 3,208; 3,339; 2,730
và 2,863; 3,350; 3,484 kcal/g. Theo Olayiowla Adeola (2003) [127], giá trị
TMEn của ngô và gluten ngô trên vịt cao hơn từ 3-10% so với gà. Cho đến
nay, ở Mỹ mới chỉ có khoảng 20 loại thức ăn khác nhau được xác định giá trị
năng lượng trao đổi trên thủy cầm (vịt Bắc Kinh) [128]. Những nghiên cứu
xác định tỷ lệ tiêu hoá hồi tràng thực về các axit amin trên thủy cầm còn
khiêm tốn hơn nhiều. Theo đ
ánh giá của Olayiowla Adeola (2006) [128], hiện
tại ở Mỹ, chỉ có 7 loại thức ăn (ngô, đại mạch, phụ phẩm bánh mỳ, khô dầu
hạt cải; khô dầu đậu tương và lúa mỳ) được xác định tỷ lệ tiêu hóa axit amin
trên vịt Bắc Kinh. Chính vì vậy, cho đến nay, cơ sở dữ liệu về thành phần và
giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn cho gà vẫn được sử dụng để xây dựng
khẩ
u phần ăn cho thủy cầm ở hầu hết các nước trên thế giới.
2.2.2. Nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng của thủy cầm
Vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng có khả năng tự điều chỉnh
lượng thức ăn ăn vào hàng ngày tuỳ theo hàm lượng năng lượng của khẩu
phần, nhưng ngan và vịt có khả năng đặc biệt trong việc điều chỉnh này. Theo
Scott và Dean (1991) [152], vị
t Bắc Kinh có khả năng thu nhận đủ năng
lượng cho sinh trưởng gần mức bình thường khi được ăn tự do với khẩu phần
có giá trị năng lượng trao đổi chỉ 2200 kcal/kg. Thí nghiệm của Scott và ctv
(1959) [150] khi nuôi vịt Bắc Kinh bằng các khẩu phần có các mức năng
lượng khác nhau (2420; 2486; 2684; 2860 và 2970 kcal/kg; tỷ lệ ME/CP
tương ứng: 19,4; 18,8; 19,2; 19,0 và 18,4) cho thấy, không có sự khác biệt về
khối lượng của vịt lúc 2 và 7 tuần tuổi. Tuy nhiên, tiêu tố
n thức ăn/kg tăng
trọng tăng khi mức ME của khẩu phần giảm. Nghiên cứu của Dean (1985)
[72] trên vịt Bắc Kinh nuôi dưỡng bằng khẩu phần có các mức năng lượng
thiện được tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả chuyển hoá thức ăn của vịt.
2.2.3. Nghiên cứu xác định nhu cầu protein và axit amin
Cũng như các đối tượng vật nuôi khác, khả năng sử dụng protein khẩu
phần của vịt, ngan phụ thuộc rất nhiều vào mức năng lượng ăn vào. Bởi vậy,
trong các nghiên cứu xác đị
nh nhu cầu protein và axit amin của thủy cầm,
14
năng lượng và protein luôn được đặt trong mối quan hệ tỷ lệ, biểu thị bằng tỷ
lệ năng lượng trao đổi/protein thô (tính bằng Mcal/g).
Các kết quả nghiên cứu của Pan và ctv (1981) [133] trên vịt đẻ giống
Tsaiya cho thấy tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng đạt cao nhất khi vịt được nuôi
dưỡng bằng khẩu phần có mức năng lượng 11.08 MJ/kg và mức protein thô là
19%. Gowd và ctv (1983) [91] cũng khuyến cáo, mức năng lượ
ng và protein
thích hợp trong khẩu phần cho vịt Khaki Campbell giai đoạn hậu bị (9-20 tt)
là 2800 kcal và 160g/kg.
Trong những năm 70 của thế kỷ trước, đã có nhiều công trình nghiên cứu
nhu cầu protein của vịt Bắc Kinh, nhưng những khuyến cáo đưa ra cũng rất
khác nhau. Dean (1967) [68]; Wilson (1973) [173] khuyến cáo nhu cầu
protein của vịt thịt giai đoạn 0-3 tt là 22%; Scott và ctv (1959) [150] là 16%;
Oluyemi và ctv (1978) [129] đã đưa ra mức khuyến cáo rất cao (24%) cho vịt
thịt giai đoạn 0-8 tt. Leclercq and Carvill (1976, 1985) [106]; [108] khi
nghiên cứ
u trên ngan (0-3 tt) đã rút ra kết luận, với khẩu phần cơ sở là ngô và
khô dầu đậu tương (2952 kcal ME/kg) mức protein thô cho sinh trưởng cao
nhất là 19,3% (ME/CP = 15,3) đối với ngan đực và 17,7% (ME/CP = 16,7)
đối với ngan cái. Cũng các tác giả này, khi nghiên cứu nhu cầu protein của
ngan giai đoạn từ 4-10 tuần tuổi cho thấy, để đạt được tăng trọng cao nhất,
ngan đực cần được ăn khẩu phần có hàm lượng protein thô không cao hơn
protein thô nên có hàm lượng methionine là 0,33%. Các nghiên cứu của
Leclercq and Carvill (1979) [107] về nhu cầu methionine của ngan đực (từ 3-
6 và 7-10 tt) cho thấy, với khẩu phần có 15,5% protein thô thì hàm lượng
lysine; methionine và cystine thích hợp là 0,65; 0,25 và 0,3% tương ứng.
Nghiên cứu gần đây của Jianhua và ctv (2003) [99] trên vịt đẻ chuyên trứng
giống Shaoxin Tsaiya cho thấy khi tăng hàm lượ
ng methionine trong khẩu
phần từ 0,26 lên dần đến mức 0,47% đã làm tăng tỷ lệ đẻ của vịt. Các tác giả
kết luận, nhu cầu methionine cho vịt đẻ là 0,45% hoặc 25,7 mg/kg protein
khẩu phần, cao hơn khuyến cáo của NRC (1994) [125]. Một số tác giả khác
như Bons và ctv (2002) [53]; Timmler và ctv (2003) [165]; Xie và ctv (2004)
[175] cũng đã có những thông báo cho rằng nhu cầu thực tế của vịt Bắc Kinh
giai đoạn vịt con và vịt dò về lysine, valine và methionine cao hơn so với
16
khuyến cáo của NRC (1994) [125]. Theo Xie và ctv (2006) [176], nhu cầu
methionine của vịt Bắc Kinh giai đoạn 21 đến 49 ngày tuổi là từ 0,377 và
0,379%. Olayiowla Adeola (2006) [128] cũng thông báo, nhu cầu methionine
và lysine của vịt Bắc Kinh giai đoạn khởi động không vượt quá mức 0,6 và
1,2%.
Hiện có rất ít các nghiên cứu về nhu cầu threonine của thủy cầm. Báo cáo
của Chen-Tian Fwu và ctv (1997) [60] cho thấy khẩu phần có 0,70%
threonine là thích hợp đối với vịt Tsaiya giai đoạn đẻ trứng.
Nhìn chung, việc nghiên cứu xác đị
nh nhu cầu dinh dưỡng trên thủy cầm trên
thế giới đã phát triển qua các giai đoạn với những đặc điểm sau:
Giai đoạn trước 1980 của thế kỷ trước, phần lớn các khẩu phần dùng trong
các thí nghiệm đều là thức ăn dạng bột, không thích hợp với thủy cầm, nên
các kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế [152]. Giai đoạn từ thập kỷ 80 đến
nay, các nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ xác định nhu cầu protein và axit
trứng cao nhất khi được ăn khẩu phầ
n có mức Ca: 2,7% và P dễ hấp thu
0,46%. Nhưng Shen (1985) [157] cũng nghiên cứu trên vịt đẻ giống Tsaiya lại
đưa ra kết luận, mức Ca cho năng suất trứng tốt nhất là 2,5%. Chen và ctv
(1983) [58] trong một nghiên cứu khác trên vịt Tsaiya giai đoạn đẻ trứng đã
kết luận mức Ca thích hợp là từ 2,9 đến 3,0%. Khác với các kết quả nghiên
cứu trên các dòng vịt chuyên trứng giống Tsaiya, Dean (1981) [71] đã không
phát hiện thấy những ảnh hưởng bất lợ
i đến năng suất trứng, hiệu quả chuyển
hoá thức ăn, độ dày vỏ trứng của vịt Bắc Kinh khi mức Ca khẩu phần giảm
đến 1,25%. Nhưng theo Scott và Dean (1991) [152], mặc dù các kết quả
nghiên cứu rất khác nhau, nhưng mức Ca từ 3,0 đến 3,25% là thích hợp đối
với các giống vịt chuyên trứng như Tsaiya và Khaki Campbell.
2.3. Nghiên cứu xác định chế độ dinh dưỡng đối với thủy cầm
2.3.1. Chế độ
dinh dưỡng đối với vịt, ngan thịt
Nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi nói chung và thủy cầm nói riêng chính
là lượng chất dinh dưỡng cụ thể mà con vật cần trong một ngày đêm cho duy
trì, sinh trưởng, sinh sản…vv. Để dễ vận dụng trong thực tế, nhu cầu một chất
18
dinh dưỡng cụ thể thường được biểu thị hoặc bằng số lượng (tính bằng g, mg)
cho một cá thể trong một ngày đêm hoặc theo tỷ lệ phần trăm trong thức ăn (ở
dạng vật chất khô hoặc dạng sử dụng). Nhưng tùy theo từng đối tượng thủy
cầm mà đồng thời với việc nghiên cứu xác định nhu cầu, việc xây dựng chế
độ dinh dưỡ
ng (hay nói cách khác là chế độ nuôi dưỡng) cũng rất quan trọng.
Đối với ngan, vịt nuôi thịt, hầu hết các nghiên cứu đều khuyến cáo chế độ cho
ăn tự do (ad libitum) để chúng đạt được tốc độ sinh trưởng cao nhất. Tuy
nhiên, có thể điều chỉnh được thành phần thân thịt của ngan và vịt nuôi thịt
trong việc điều chỉnh lượng thức ăn thu nhận hàng ngày để thoả mãn nhu cầu
v
ề năng lượng. Do đó, cách duy nhất có thể áp dụng đối với ngan, vịt thịt giai
đoạn hậu bị là hạn chế mức ăn vào hàng ngày. Vấn đề đặt ra là khi nào thì cho
ăn hạn chế và mức hạn chế là bao nhiêu. Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời
thống nhất. Nghiên cứu của Dean (1978) [70] cho thấy, đối với vịt Bắc Kinh,
mức hạn chế tốt nhất là 70% so với ăn tự
do và bắt đầu từ 7 tt. Olver (1986)
[130] đưa ra khuyến cáo khác: Mức hạn chế là 40-50% và thời điểm bắt đầu
cho ăn hạn chế là 3 tt. Sophie Lavallee (1998) [159] đã khuyến cáo, thời điểm
bắt đầu cho ăn hạn chế tốt nhất là lúc 7 tuần tuổi và mức hạn chế tối ưu là
75% so với khả năng của chúng khi được ăn tự do.
2.3.3. Chế độ dinh dưỡng đối với th
ủy cầm giai đoạn thay lông
Thay lông là một đặc trưng sinh lý rất đặc thù ở gia cầm, nhưng đặc
điểm này rất mạnh ở thủy cầm. Theo Koelkebeck và ctv (2007) [104], thay
lông là một sự kiện sinh lý rất trọng đại trong cuộc đời sinh sản ở gia cầm, đó
là sự thay thế lớp lông cũ bằng lông mới diễn ra theo một chu kỳ nhất định.
Trong giai đoạn thay lông, tốc độ trao đổ
i và sinh tổng hợp protein chậm lại,
sinh khối mô mỡ, mô xương và hệ miễn dịch bị suy giảm [105]; [122] và đặc
biệt có sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống nội tiết tố ở gia cầm mái [65];
[162]; [163] . Do những đặc điểm này mà trong giai đoạn thay lông, hầu như
tất cả gia cầm đều ngừng đẻ để chuẩn bị cho một chu kỳ sinh sản mới. Để tiết
kiệ
m thời gian nuôi và tăng hiệu quả kinh tế, các nhà chăn nuôi đã lợi dụng
các đặc điểm sinh lý trong giai đoạn thay lông để đưa ra các biện pháp kỹ
thuật thích hợp, sao cho thời gian thay lông ngắn nhất và hiệu quả kinh tế cao
nhất. Những biện pháp như vậy được gọi là biện pháp thay lông cưỡng bức, ở
nguồn thức ăn; nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng. 21
2.4.1. Nghiên cứu khai thác, tạo nguồn thức ăn
Lê Văn Liễn và ctv (1993) [12] đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm thức ăn
giầu protein từ phụ phẩm giết mổ (máu, chất chứa dạ cỏ…) có thể dùng để
thay thế 50% bột cá trong khẩu phần thức ăn cho vịt Anh Đào và vịt Bắc
Kinh. Dương Xuân Tuyển và ctv (1993) [3] đã sử dụng thóc, đầu tôm hấp
chín, còng tươi nuôi vịt CV Super M cho kết quả
tốt. Dương Xuân Tuyển và
Nguyễn Quốc Đạt (1993) [4] khi nghiên cứu sử dụng rỉ mật đường trong chăn
nuôi vịt thịt đã cho thấy, có thể sử dụng tới 25% rỉ mật mía trong khẩu phần
cho vịt Anh Đào trong giai đoạn từ 2 đến 60 ngày tuổi mà không ảnh hưởng
đến sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của vịt. Theo hướng này, Lê Văn Liễn và
ctv (2005) [13] đã thông báo, có thể sử dụng ph
ụ phẩm thủy hải sản lên men
lactic thay thế 35% thức ăn công nghiệp để nuôi vịt Bầu cho kết quả tốt.
Nguyễn Thị Kim Đông và ctv (2005) [19] đã nghiên cứu đánh giá và sử dụng
một số phế phụ phẩm (bã bia, bã đậu phụ, bột đầu tôm) làm nguồn thức ăn
cho ngan vịt nhằm nâng cao tính bền vững và hiệu quả kinh tế trong chăn
nuôi ngan, vịt ở nông hộ tại đồng b
ằng sông Cửu Long. Việc nghiên cứu khai
thác và sử dụng nguồn khoáng tự nhiên (bentonite) và khoáng hữu cơ trong
chăn nuôi thủy cầm cũng được quan tâm trong những năm ngần đây. Nghiên
cứu của Lê Hồng Sơn và ctv (2006) [10]; Ninh Thị Len và ctv (2006) [22]
cho thấy, bổ sung 3% bentonite vào khẩu phần đã cải thiện năng suất sinh
trưởng của vịt CV Super M từ 8-15%. Nguyễn Thị Phụng và Trịnh Vinh Hiển
(2006) [20] cũng có thông báo, sử dụng khoáng hữu cơ dạ
ng chelate trong
2.4.3. Nghiên cứu về chế độ nuôi dưỡng thủy cầm
Có rất ít nghiên cứu theo hướng này. Dương Xuân Tuyển và ctv (2005)
[5] đã thông báo, điều chỉnh mức ăn cho vịt CV Super M trong giai đoạn đẻ
trứng theo khối lượng c
ơ thể và nhiệt độ chuồng nuôi đã làm tăng tỷ lệ đẻ
2,38% và giảm tiêu tốn thức ăn/10 trứng 0,12 kg. Theo Phùng Đức Tiến và
ctv (2003) [23], trong điều kiện Việt Nam, mức ăn hạn chế tốt nhất đối với
ngan Pháp giai đoạn hậu bị là 95% so với mức khuyến cáo của hãng Grimaud
Freres.
So với một số nước trong khu vực, những nghiên cứu về thủy cầm ở n
ước
ta, đặc biệt là những nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn còn rất khiêm tốn,
ít về số lượng, hẹp về phạm vi. Đã có một vài công trình nghiên cứu nhu cầu
dinh dưỡng cho vịt, ngan, nhưng còn tản mạn, thiếu tính hệ thống và đặc biệt
là chưa đi sâu nghiên cứu quan hệ cân bằng và các mối tương tác giữa năng
lượng, protein với các yếu tố dinh dưỡng khác trong khẩu phần.
23
Phần III
NỘI DUNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Nội dung nghiên cứu
1. Nghiên cứu xác định giá trị năng lượng trao đổi, hệ số tiêu hóa tổng số
protein, hệ số tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn của một số axit amin thiết
yếu và hàm lượng phốt pho dễ hấp thu của một số loại thức ăn chủ yếu
cho thủy cầm ở Việt Nam.
2. Nghiên cứu xác đị
nh nhu cầu năng lượng, protein, axit amin và khoáng
(canxi và phốt pho dễ hấp thu) của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi
thịt và sinh sản trong điều kiện chăn nuôi tập trung.
3. Nghiên cứu xác định nhu cầu năng lượng, protein, axit amin và khoáng
các thí nghi
ệm nuôi dưỡng, trong đó năng lượng, protein, axit amin và khoáng
(Ca, P) trong khẩu phần thức ăn được bố trí ở các mức độ khác nhau theo kiểu
thí nghiệm đa nhân tố. Phương pháp kinh nghiệm dễ thực hiện, không đòi hỏi
những trang thiết bị đắt tiền, đơn giản mà vẫn đảm bảo độ chính xác. Hiện
nay, phương pháp này vẫn được coi là rất hiệu quả (đặc biệt trên gia cầm) và
được ứng dụ
ng ở nhiều nước trên thế giới. Chính vì vậy, trong quá trình thực
hiện đề tài, chúng tôi đã chọn phương pháp này để thực hiện các thí nghiệm
nuôi dưỡng nhằm rút ra nhu cầu dinh dưỡng của các đối tượng thủy cầm.
- Để ứng dụng được phương pháp kinh nghiệm, tiêu chuẩn nuôi dưỡng của
Mỹ (NRC, 1994) [125], các khuyến cáo của các hãng chuyên sản xuất con
giống như Grimaud Freres (Pháp-2006) [92], Cherry Valley (Anh - 2006) [93]
về năng năng lượng và các chất dinh dưỡ
ng tương ứng đã được lựa chọn làm
căn cứ xây dựng các mức trong các thí nghiệm nuôi dưỡng. Bên cạnh việc sử
dụng các tiêu chuẩn nuôi dưỡng của Mỹ và các hãng, việc thiết kế các mức
dinh dưỡng trong KP của một số thí nghiệm còn được thực hiện theo nguyên
tắc thừa kế những kết quả nghiên cứu đã được rút ra từ các thí nghiệm trước.
25
- Nhu cầu methionine của các đối tượng thủy cầm trong nghiên cứu này được
xác định trên cơ sở quan hệ tỷ lệ so với lysine theo mô hình protein lý tưởng
của Baker [42] đối với ngan, vịt thịt và của NRC (1994) đối với ngan và vịt
giai đoạn đẻ trứng.
- Phần lớn các thí nghiệm nuôi dưỡng (từ thí nghiệm 1 đến thí nghiệm 15) đều
được thiết kế theo kiểu thí nghiệm đa nhân tố để khảo sát những m
ức độ đáp
ứng khác nhau có tính đến quan hệ tương tác giữa các yếu tố thí nghiệm trong
cùng một điều kiện.