Đề tài :Tình trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Việt Nam hiện nay
I/ MỞ ĐẦU :
1.1 Tính cấp thiết của đề tài :
Trong lịch sử của xã hội loài người , đặc biệt từ khi có giai cấp đến
nay , vấn đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và đang tồn taị như
một tách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia , từng
khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại . Đói nghèo và tấn công
chống đói nghèo luôn luôn là mới quan tâm hàng đầu của các quốc
gia trên thế giới , bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một
quốc gia . Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị , xung đột giai
cấp , dẫn đến bất ổn về xã hội , bất ổn về chính trị . Mọi dân tộc tuy
có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị nhưng đều có một mục
tiêu là làm thế nào để quốc gia mình , dân tộc mình giàu có . tron thực
tế ở một số nước cho thấy kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu ,
năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của
một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột.
Trong nền kinh tế thị trường , quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh
hơn quá trình phát triển không đồng đều , làm sâu sắc hơn sự phân
hóa giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia . Khoảng cách về mức
thu nhập của người nghèo so với người giầu ngày càng có xu hướng
rộng và đang là một vấn đề có tính toàn cầu , nó thể hiện tình trạng
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập , về nạn đói , nạn suy dinh
dưỡng vẫn đang đeo đẳng 1/3 dân số thế giới .
Nhân loại bước sang thế kỷ 21 và đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc
trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ , phát triển kinh tế nhưng
vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối : nạn đói nghèo vẫn
còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật ở những quốc
gia đang phát triển . Ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới , chuyển
đổi kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước , tuy nhiên nền kinh tế có phát triển mạnh , tốc độ tăng trưởng
Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn Việt
Nam .
1.5 Phương pháp nghiên cứu :
-Phương pháp thu thập số liệu : thứ cấp : tham khảo từ một số sách
báo , tiểu luận và các nguồn có liên quan đến đói nghèo và xóa đói
giảm nghèo trên internet
-Phương pháp xử lý : đọc và chọn lọc
-Phương pháp phân tích :thống kê , so sánh , phân tích swot .
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU .
2.1 Cơ sở lý luận :
Theo nghị quyết về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh về bền
vững đối với 61 huyện nghèo của Chính Phủ số: 30a/2008/NQ-CP
ngày 27 /12 / 2008 :
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu
hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa
các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói giảm nghèo trong
những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực
hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy
nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu – nghèo
giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện (gồm 797 xã và thị trấn)
thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưu tiên phát triển vùng
này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của đồng bào
dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5
phương.
-Chuẩn đói nghèo: Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn
khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Việt Nam đưa ra chuẩn
đói từ 2-1997 đến 1-1-2000 hộ đói là hộ có thu nhập dưới 13kg
gạo/người/tháng, tương đương với 45.000 đồng. Năm 2000, Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội đưa ra ngưỡng nghèo mới làm căn cứ
xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho giai đoạn 2001 - 2005.
Ngưỡng nghèo đó được ấn định cho từng khu vực: nông thôn miền
núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; nông thôn đồng bằng: 100.000
đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng.Còn chuẩn nghèo mới áp
dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21-
9-2010 của Thủ tướng Chính phủ, mức chuẩn nghèo và cận nghèo
được xác định, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với
khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân
500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu
nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng (khu
vực nông thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng đến
650.000 đồng/người/tháng.
2.2 Cơ sở thực tiễn:
-Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia,
mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế
giới ngay cả những giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó
có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những
rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân
phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm
cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo. Tháng 3/1995, tại
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan
Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong tuyên bố:
Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế
trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế- xã
hội, kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam. Chính vì
vậy, XĐGN đóng một vai trò hết sức to lớn trong tất cả các mặt của
đời sống xã hội, cụ thể như sau:
a. Xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế
Nghèo đói đi liền với lạc hậu, do đó xoá đói giảm nghèo là tiền đề
cho sự phát triển kinh tế vì khi đói nghèo giảm sẽ giảm đi những áp
lực từ bên trong tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư bên ngoài, làm
năng lực kinh tế phát triển vững chắc. Ngược lại sự phát triển kinh tế
là nhân tố đảm bảo cho sự thành công trong công tác XĐGN.
b. Xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển xã hội
Việc thực hiện xoá đói giảm nghèo có ý nghĩa quan trọng không
những đối với sự phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng đối
với sự phát triển của xã hội. Để làm nổi bật những cản trở của nghèo
đói đối với sự phát triển xã hội các nhà kinh tế đưa ra lý thuyết về cái
vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói .Từ cái vòng luẩn quẩn của sự
nghèo đói lại kéo theo cái vòng luẩn quẩn khác của sự phát triển của
một quốc gia, của một vùng. Vì vậy muốn cho đất nước, vùng phát
triển chúng ta phải phá vỡ các mắt xích cơ bản như hạn chế
gia tăng dân số, nâng cao sức khoẻ và dinh dưỡng của người dân, hạn
chế sự thất học, nâng cao trình độ dân trí. Để đảm bảo phá vỡ được
cái vòng luẩn quẩn đó thì chúng ta phải tháo gỡ từng mắt xích cụ thể
chứ không làm chung chung ồ ạt được.
c. Xoá đói giảm nghèo đối với vấn đề chính trị, an ninh, xã hội.
Hầu hết hộ dân nghèo thường sinh sống ở những địa bàn giáp ranh
vớinước bạn, vùng sâu, vùng xa. Việc bảo toàn lãnh thổ và độc lập về
kinh tế, chính trị gặp nhiều khó khăn. Vì thế, nghèo đói ảnh hưởng
đến các mặt chính trị, an ninh xã hội, làm nảy sinh những mặt hạn
chế, những tư tưởng lạc hậu, cổ hũ, đi chệch đường lối của Đảng và
như: Điện Biên 38,25%; Lai Châu 31,82%; Hà Giang 30,13%; Cao
Bằng 28,22%; Yên Bái 29,23% Có tất cả 10 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương với tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là: Quảng Ninh 3,52%;
Hà Nội 1,52%; Bắc Ninh 4,27%; Hải Phòng 4,21%; Đà Nẵng 0,97%;
Tây Ninh 2,97%; Đồng Nai 0,91%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1,71%; TP.Hồ
Chí Minh 0,00033%; Long An 4,58%.
+Về tỷ lệ hộ cận nghèo: Kết quả điều tra cho thấy, trên toàn quốc
năm 2012 có 1.469.727 hộ cận nghèo, chiếm 6,57%. Tỷ lệ hộ cận
nghèo phân theo vùng: vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất là Bắc
Trung bộ 13,04%; vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là Đông Nam bộ
1,08%. Các vùng còn lại xếp theo thứ tự tỷ lệ hộ cận nghèo giảm dần
là: miền núi Tây Bắc 11,48%; Duyên hải miền Trung 9,32%; miền
núi Đông Bắc 8,92%; đồng bằng sông Cửu Long 6,51%; Tây Nguyên
6,19%; đồng bằng sông Hồng 4,58%.
Đối với các huyện nghèo của cả nước: Theo kết quả điều tra, tỷ lệ
hộ nghèo tại 62 huyện nghèo (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP
ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo) giảm từ 58,33% (năm
2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bình
quân giảm trên 7%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo tại 07 huyện nghèo theo
Quyết định 615/QĐ-TTg ngày 25/4/2011 về việc hỗ trợ có mục tiêu
từ ngân sách trung ương cho 07 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp
dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, giảm từ 43,56% (năm
2011) xuống còn là 30,13% (năm 2011), và giảm còn 13,43% (năm
2012). Tỷ lệ hộ nghèo tại 23 huyện nghèo theo Quyết định 293/QĐ-
TTg ngày 05/02/2013 về hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương
cho 23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách
đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NĐ-
CP của Chính phủ, đến cuối năm 2012 giảm còn 43,14%.
trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm làm cơ sở
thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đánh giá kết quả thực hiện
mục tiêu giảm nghèo hàng năm của các địa phương và cả nước.
-Hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng BHYT cho hộ cận nghèo (3/7/2012
16:17)
Ngày 26 tháng 06 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 797/QĐ-TTg về việc nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y
tế (BHYT) cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
* Thực trạng xóa đói giảm nghèo :
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 được Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI thông qua tháng 1/2011 với
mục tiêu tổng quát: Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao
hơn trong giai đoạn sau. Do đó, các chương trình và chính sách giảm
nghèo của Chính phủ đã được xây dựng tập trung trên ba chiến lược
chính: Thúc đẩy các hoạt động sản xuất và sinh kế để tăng thu nhập
cho người nghèo, tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo đến
các dịch vụ xã hội, tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức của
người dân ở các vùng nghèo.
Những chiến lược này được hiện thực hóa bằng các chương trình
quốc gia hỗ trợ giảm nghèo và phát triển xã hội, trong đó tập trung
vào 5 nhóm chính sách: Tín dụng, phát triển sản xuất nông nghiệp, cơ
sở hạ tầng, giáo dục và y tế. Nhờ đó, người nghèo được tiếp cận với
các nguồn lực (vốn, đất sản xuất, công nghệ, thị trường) và các dịch
vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nước sạch, trợ giúp pháp lý).
Tính đến năm 2010, có hơn 77% người nghèo được hưởng lợi từ
các chương trình và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, cho thấy mức
độ phổ cập chính sách rộng khắp trên cả nước.
Đánh giá về những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc xây
nhập thấp tại khu vực đô thị đã được ban hành và triển khai thực
hiện trên thực tế.
Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về một số cơ chế,
chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên,
công nhân lao động tại các khu công nghiệp và người có thu nhập
thấp tại khu vực đô thị. Thông qua các chương trình đó, đến nay đã có
hơn 530.000 hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở; có 62 dự án nhà ở cho
công nhân với tổng quy mô 11.719 căn hộ được hoàn thành, đáp ứng
chỗ ở cho 67.600 công nhân lao động tại các khu công nghiệp. 163
khối nhà cho sinh viên đã được đưa vào sử dụng, đáp ứng khoảng
140.000 chỗ ở (dự kiến hết năm 2013 sẽ đáp ứng được chỗ ở cho
330.000 sinh viên). 56 dự án nhà cho người thu nhập thấp tại khu vực
đô thị được triển khai, đáp ứng cho khoảng 130.000 hộ thu nhập thấp
có nhu cầu về nhà ở.
Việt Nam cũng đang nghiên cứu, soạn thảo Luật Nhà ở sửa đổi để
trình Quốc hội thông qua vào năm 2014, trong đó tập trung vào các
chính sách hỗ trợ người nghèo (cả đô thị và nông thôn), người thu
nhập thấp và các đối tượng ưu tiên khác như công nhân tại khu công
nghiệp, học sinh, sinh viên… Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục
hoàn thiện chính sách về phát triển nhà ở xã hội, nhà cho thuê ở khu
vực đô thị và nhà ở tái định cư; thúc đẩy các biện pháp tăng cường
trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng trong
việc xây dựng nhà ở cho người nghèo nhằm hỗ trợ các đối tượng khó
khăn có nhà ở, ổn định cuộc sống.
Đa dạng hóa phân công lao động :Chiến lược phân công lao động
hộ gia đình khác biệt giữa các xã , các thôn , các hộ , nhưng thường
có sự kết hợp giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp (sự học hành )
giữa các thành viên trong gia đình . Đa dạng hóa và thâm canh trong
sản xuất nông nghiệp , tận dụng lợi thế về đất đai là rất quan trọng
trong việc tăng năng suất . Việc làm phi nông nghiệp mang lại thu
cuộc sống trong tương lai . Tuy nhiên hiện nay đầu tư này chưa tạo ra
ảnh hưởng tích cực . Trong ngắn hạn con em đi học cao còn là gánh
nặng chi phí cho gia đình . Nhiều gia đình vay nợ để cho con ăn học
cao đẳng đại học . Tại một số nơi thanh niên đi học về không kiếm
được việc làm , lại qay về làm nông hoặc đi làm thuê .
-Thành tựu đáng tự hào
Ghi nhận thành tựu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam , bà Victoria
Kwa kwa nhận định: Hai mươi năm qua đã chứng kiến những tiến bộ
vượt bậc của Việt Nam . Năm 1993, Việt Nam là một trong những
nước nghèo nhất trên thế giới với bình quân thu nhập đầu người chỉ
khoảng 100 USD và có các chỉ số thấp kém về phát triển xã hội.
Ngày nay, Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình đang lên,
với nền kinh tế có quy mô gần 154 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu
người khoảng 1.700 USD. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993
xuống còn khoảng 10% năm 2012, với hơn 30 triệu người thoát
nghèo. Các chỉ số phúc lợi xã hội hiện cao hơn phần lớn các nước có
cùng mức thu nhập và thậm chí cả một số nước có thu nhập cao hơn.
Việt Nam đã đạt được 5 trong số 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
(MDG) ban đầu và đang trên đường hoàn thành nốt 3 mục tiêu nữa
vào năm 2015.
Trong những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế gặp khó khăn
hơn trước, nhưng nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội vẫn được Việt
Nam ưu tiên duy trì. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ
13,7% năm 2008 xuống còn 9,6% năm 2012 và dự kiến còn khoảng
7,6-7,8% vào cuối năm 2013.
Thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng gần 2 lần trong 5 năm qua.
Năm 2012, số lượt hộ thiếu đói giảm 27,6% và tỷ lệ hộ nghèo cả nước
cũng giảm 1,76% so với năm 2011. Xu thế giảm mạnh được thể hiện
ở cả 3 thước đo nghèo quan trọng: Tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo
toàn cầu về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Do đó, việc tiếp tục
duy trì những thành tựu đã đạt được và hoàn thành các mục tiêu còn
lại là một trong những nội dung quan trọng đòi hỏi phải có những giải
pháp thiết thực để vượt qua. Hơn nữa, sự ổn định kinh tế vĩ mô còn
chưa vững chắc, nguy cơ lạm phát tăng trở lại, nhưng công tác xóa
đói giảm nghèo cho toàn dân chính là động lực mạnh mẽ để Việt Nam
quyết tâm thực hiện và sẽ hoàn thành tốt nhất mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ đã cam kết. Vấn đề này, thực sự quan trọng cho sự
thành công của Việt Nam với vị thế là một quốc gia thu nhập trung
bình và để đạt được mục tiêu dài hạn hơn là trở thành một nước công
nghiệp hóa.
Việt Nam thành công trong giảm nghèo và tỷ lệ nghèo nhìn chung
giảm
Hệ thống an sinh xã hội hướng tới người dễ bị tổn thương và cung
cấp hỗ trợ quan trọng để thoát nghèo .
Dịch vụ khuyến nông đã mở rộng và tiếp cạn nhiều nông dân ở
nhiều xã hơn .
Thanh niên đi lao động ở các khu đô thị tạo ra nhiều cơ hội việc
làm học tập và tiền gửi về cho các hộ gia đình ỏ nông thôn .
Học sinh có thể tiếp cận nhiều cơ hội học tập hơn và thử nghiệm
giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ cho dân tộc thiểu số
-Những thách thức mới phải đối mặt
Tuy đạt được những thành tích đáng mừng nhưng công cuộc xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức
mới. Phần lớn những người nghèo còn lại sống ở vùng nông thôn xa
xôi, hạn chế về tài sản, trình độ học vấn và điều kiện sức khỏe kém.
Nghèo trong các nhóm dân tộc thiểu số là một thách thức kéo dài.
Tuy chỉ chiếm 15% dân số cả nước nhưng chiếm tới 47% tổng số
người nghèo vào năm 2010, so với 29% năm 1998. Hơn nữa, những
người nghèo ngày càng khó tiếp cận với các điều kiện giảm nghèo
*Trong thập niên 2011 - 2020, chính sách xóa đói, giảm nghèo ở
nước ta chịu tác động của những nhân tố sau đây:(nguyên nhân của
tình trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo chưa được hiệu quả ):
1 - Tăng trưởng kinh tế phiến diện
Vấn đề đói nghèo, về khách quan, là sản phẩm tất yếu của một mô
hình kinh tế nhất định. Khi một mô hình kinh tế đã cạn kiệt tiềm năng
phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải
quyết tốt vấn đề đói nghèo.
Nước ta đã chuyển sang mô hình công nghiệp hóa từ nhiều năm
nay. Đó là mô hình kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên và lao động
giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng
nhanh. Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, mô hình ấy có vai trò nhất
định ở giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường, nhưng nếu kéo dài
thời gian thực hiện mô hình ấy chỉ lo tăng trưởng số lượng thì những
vấn đề xã hội sẽ phát sinh và tăng lên, thể hiện ở vấn đề đói nghèo trở
nên nghiêm trọng, phân hóa giàu nghèo mở rộng khoảng cách nhanh
chóng, lối sống trong xã hội xuất hiện nhiều vấn nạn mới.
Trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường trên thế giới thì mô hình
công nghiệp hóa này đã diễn ra hơn 200 năm trước đây trong hình
thái kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong thế kỷ XX, mô hình này đã biến
đổi dần dưới hình thức "khủng hoảng - phát triển", đã lỗi thời và kết
thúc vào nửa sau thế kỷ XX, khi mô hình phát triển bền vững dựa trên
kinh tế tri thức ra đời và phát triển mạnh mẽ. Đây là bối cảnh thế giới
khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế.
Do kéo dài mô hình công nghiệp hóa chạy theo tăng trưởng số
lượng, nên hiện nay nước ta tuy thực hiện chính sách xóa đói, giảm
nghèo đạt những kết quả nhất định, nhưng vấn đề đói nghèo trên thực
tế ở cả khu vực chính thức lẫn khu vực phi chính thức vẫn còn nhiều
mô hình kinh tế với đổi mới tư duy và phương pháp quản lý.
2 - Môi trường bị tàn phá
Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng là
một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo. Ở
đây chỉ nêu lên mấy mặt chủ yếu:
Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp. Các
khu công nghiệp, các công ty đã làm hàng loạt sông ngòi, kênh rạch,
nguồn nước ngầm bị ô nhiễm do không giải quyết vấn đề chất thải.
Kết quả là làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong
vùng. Những chi phí cho chữa trị bệnh tật khiến người lao động
nghèo thêm.
Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu không những đưa
đến mực nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai để
sinh sống (Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động trước tiên),
mà còn gây ra những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển,
bờ sông, phèn hóa đất đai nông nghiệp. Bộ Tài nguyên và Môi trường
Việt Nam dự báo, nếu mực nước biển dâng thêm 1 mét thì khoảng
20% châu thổ và 10% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có thể bị
nhấn chìm. Những tai họa gần này sẽ làm tăng sự đói nghèo về mức
độ và phạm vi.
Thứ ba, vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và
đói nghèo ở nước ta trở nên cấp bách khi con sông Mê Công rơi vào
tình trạng lâm nguy. Sông Mê Công dài 5.400 km chảy qua Trung
Quốc, Mi-an-ma, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam, cung cấp
nước cho trồng trọt, cho vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của 65 triệu người. Riêng nhu cầu nguồn nước cho khu
vực này tăng nhanh (từ 43.700m
3
năm 2002 tăng lên 56.700m
3
Mặt khác, phải chấm dứt những hoạt động kinh tế trái với đòi hỏi
trên, như khai thác cát để bán cho Xin-ga-po. Theo Bộ Tài nguyên và
Môi trường, mỗi năm hoạt động khai thác cát đã làm mất một khối
lượng tương đương một hòn đảo rộng 15 km
2
.
3 - Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các
cấp.
Đây là nhân tố tác động không nhỏ đến mức độ đói nghèo, nhưng
thường bị bỏ qua và chậm đổi mới. Xét trên toàn cảnh, tác động của
nhân tố tổ chức, quản lý của các cấp đến đói nghèo có mức độ khác
nhau, ở những thời gian khác nhau, được thể hiện tập trung ở mấy
mặt sau đây:
Thứ nhất, tính chất và mức độ "hành chính quan liêu" trong các cấp
đã ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ
trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện
ở các hoạt động:
- Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất
chậm trễ, làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng.
- Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa
vào quan hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm
trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo
được hưởng. Những sai phạm này thường ở cấp chính quyền cơ sở và
huyện.
- Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực
tiễn, nên "dễ thông qua nhưng khó thi hành" ở cấp vĩ mô. Quy trình
làm luật hiện nay chỉ coi trọng mặt chính sách, giải trình nội dung
chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải trình về mặt kỹ thuật tổ
chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát. Vì vậy đã có
những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ "lách luật" và lạm dụng. Đây là
không thể giải quyết vấn đề đói nghèo theo tư duy truyền thống chỉ
nhằm ổn định xã hội trước mắt, tách rời giữa tăng trưởng kinh tế với
xóa đói, giảm nghèo.
Về khách quan, tư duy ấy vốn là sản phẩm của mô hình công
nghiệp hóa truyền thống đã lỗi thời từ cuối thế kỷ XX.
Về chủ quan, tư duy ấy còn là di sản của nền kinh tế tập trung bao
cấp với quan hệ "ban ơn" và "chịu ơn" giữa Nhà nước với nhân dân
trước đổi mới.
Tính cấp bách của việc đổi mới tư duy kinh tế chính trị về tăng
trưởng và đói nghèo còn thể hiện ở nguy cơ Việt Nam rơi vào "cái
bẫy thu nhập trung bình" của một quốc gia thoát nghèo và gia nhập
vào nhóm nước có thu nhập trung bình nhưng rồi mất nhiều thập niên
vẫn không trở thành nước phát triển. Từ năm 2009, Ngân hàng Thế
giới (WB) đã đưa Việt Nam vào nhóm nước có mức thu nhập trung
bình (hơn 1.000 USD/người). Hiện nay, nước ta buộc phải vượt qua
thử thách của cái bẫy này.
2 - Định hướng chính sách xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 -
2020
Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế.
Đây là hướng chung của sự nghiệp đổi mới, là bước chuyển giai
đoạn từ tăng trưởng số lượng lên tăng trưởng cả số lượng và chất
lượng, là giai đoạn lấy chất lượng làm động lực tăng trưởng kinh tế.
Hơn một thập niên qua, mô hình tăng trưởng số lượng, dựa trên
khai thác tài nguyên và lao động gia công, dựa trên thu hút vốn đầu tư
nước ngoài đã tới giới hạn và đang phát sinh nhiều tiêu cực cả về kinh
tế, xã hội và môi trường. Do đó, nhu cầu cấp bách về kinh tế và chính
trị là chuyển sang mô hình phát triển bền vững, như các Đại hội của
Đảng đã nêu là: "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo
vệ môi trường". Như vậy, vấn đề chính sách xóa đói, giảm nghèo phải
đặt trong tiến trình chuyển sang mô hình phát triển bền vững. Vấn đề
- Nhà nước chỉ phê duyệt các dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài
bảo đảm thực hiện mô hình phát triển bền vững. Đồng thời phải rà
soát, thanh tra các khu công nghiệp, các dự án đã và đang sản xuất và
xây dựng, quy định thời gian chuyển đổi sang mô hình mới. Bởi vì,
càng kéo dài kiểu sản xuất kinh doanh cũ thì càng tạo ra nguy cơ về
đói nghèo.
Thứ ba, đổi mới tổ chức và thể chế quản lý của Nhà nước theo yêu
cầu đổi mới mô hình kinh tế.
Mô hình tổ chức nhà nước và thể chế quản lý hiện nay, xét cho
cùng cũng là sản phẩm của mô hình tăng trưởng cũ. Khi mô hình tăng
trưởng kinh tế đã lỗi thời mà kéo dài kiểu tổ chức, quản lý cũ thì càng
làm cho tình hình kinh tế và xã hội phát sinh nhiều vấn đề nghiêm
trọng.
Về khách quan, mô hình phát triển bền vững đòi hỏi và quy định
mô hình tổ chức, thể chế quản lý là Nhà nước pháp quyền của dân
được đề ra từ Đại hội IX. Những vấn đề nóng trong kỳ họp Quốc hội
đầu năm 2010 cho thấy những khó khăn và chậm trễ trong việc xây
dựng nhà nước pháp quyền ở một nước kém phát triển, đang phát
triển. Vấn đề đói nghèo từng tồn tại lâu dài trong lịch sử. Sự tăng hay
giảm đói nghèo gắn liền với trình độ phát triển của nhà nước và phản
ánh bản chất nhà nước. Như vậy, đói nghèo ở phạm vi một nước là
một vấn đề chính trị. Các cuộc khủng hoảng xã hội và những biến
động về chính trị đều phát sinh từ tình hình đói nghèo và bất bình
đẳng xã hội.
Đổi mới tư duy và phương pháp hoạch định và thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo
1 - Đổi mới tư duy về chính sách xóa đói, giảm nghèo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vạch rõ ba thứ giặc đe dọa sự tồn
vong của chính quyền nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đó
là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Sau 30 năm kháng chiến chúng