Nghiên cứu quy trình chế biến nước giải khát từ đậu xanh - nha đam - Pdf 13

Trang
i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
o0o ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN NƯỚC
GIẢI KHÁT TỪ ĐẬU XANH NHA ĐAM GVHD : Phan Thị Hồng Liên
SVTH : Lê Kim Ngân
MSSV : 106110051


Đề tài “ Nghiên cứu quy trình chế biến nước giải khát từ đậu xanh nha đam ”
được thực hiện nhằm mục đích chế biến thử nghiệm sản phẩm nước giải khát từ đậu xanh
kết hợp với nha đam để tạo ra sản phẩm mới cung cấp cho người tiêu dùng.
Nguyên liệu đậu xanh trong chế biến là loại đậu xanh không vỏ, đã qua xử lý công
nghiệp.
Đề tài đã khảo sát các thí nghiệm để xây dựng quy trình chế biến như sau:
 Khảo sát các thành phần hoá học của nguyên liệu
 Khảo sát các thông số của quy trình chế biến như tỉ lệ pha loãng đậu xanh : nước,
thời gian chần nha đam,tỉ lệ nha đam : đậu xanh, hàm lượng đường phối trộn, hàm lượng phụ
gia ổn định cấu trúc), chế độ ti ệt trùng , thành phần hóa lý của sản phẩm sau chế biến, đánh giá
mức độ ưa thích sản phẩm của người tiêu dùng
Qua quá trình khảo sát, tôi đã thu nhận được kết quả như sau
 Thời gian chần nha đam: 3 phút (80
o
C )
 Công thức phối chế:
Tỉ lệ pha loãng: đậu /nước = 1/9
Tỉ lệ nước đậu xanh/nước nha đam : 2/1
Đường: 12%
Pectin: 0,1%.
 Chế độ tiệt trùng: 115
o
C ,giữ nhiệt trong 15 phút
Sản phẩm có màu trắng sữa, mùi thơm đậu xanh nhẹ,trạng thái đồng nhất , ổn định
Sản phẩm có tổng điểm cảm quan chung là 15,7 theo TCVN 3215 – 79 thì sản phẩm
đạt vào loại khá.
Trang
iv


Trang
v
2.2.6 Ứng dụng của nha đam 27
CHƯƠNG 3: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 31
3.1.1 Nguyên liệu chính 31
3.1.2 Nguyên liệu phụ 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Quy trình công nghệ dự kiến 32
3.2.2 Thuyết minh quy trình 34
3.2.3 Sơ đồ nghiên cứu 38
3.2.4 Các nội dung nghiên cứu 39
3.2.5 Phương pháp phân tích hóa lý 40
3.2.6 Phương pháp phân tích chỉ tiêu vi sinh vật 41
3.2.7 Phân tích chất lựợng cảm quan sản phẩm 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 41
4.1 Kết quả nghiên cứu thành phần nguyên liệu khối lượng nha đam 45
4.2 Thành phần hóa học nguyên liệu đậu xanh 45
4.3 Kết quả khảo sát tỉ lệ đậu xanh/nước cho quá trình xay 46
4.4 Kết quả khảo sát thời gian chần 47
4.5 Kết quả khảo sát tỉ lệ nước đậu xanh/nước nha đam 48
4.6 Kết quả khảo sát hàm lượng đường 50
4.7 Kết quả khảo sát hàm lượng pectin 52
4.8 Kết quả khảo sát chế dộ tiệt trùng 55
4.9 Sản phẩm 56
4.9.1 Phân tích vi sinh vật trong sản phẩm 56
4.9.2 Phân tích chất lựợng cảm quan sản phẩm 57
4.9.3 Kết quả đánh giá cảm quan chất lượng thành phẩm 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
Tài liệu tham khảo I
Trang
vii
DANH SÁCH HÌNH VẼ


Hình 2.1: Cây đậu xanh 3
Hình 2.2: Cấu tạo cây nha đam 16
Hình 2.3: Bẹ nha đam 17
Hình 2.4: Aloe Vera cắt ngang 19
Hình 2.5: Nước hoa và các ống tuýp kem từ nha đam 27
Hình 2.6: Aloe Vera gel 28
Hình 2.7: Nước nha đam 29
Hình 2.8: Trà nha đam 29
Hình 2.9: Thạch nha đam dạng huyền phù 29
Hình 2.10: Thạch nha đam dạng miếng 30
Hình 2.11: Sấy gel nha đam 30
Hình 3.1: Quy trình công nghệ chế biến nước đậu xanh nha đam dự kiến 33
Hình 3.2: Nha đam sau khi gọt vỏ 34
Hình 4.1:Đồ thị diễn tả lượng dịch thu được của nha đam ở các thời gian chần 47
Hình 4.2:Đồ thị diễn tả độ nhớt của dịch với hàm lượng pectin khác nhau 53
Hình 4.3: Sản phẩm sau khi bổ sung pectin để trong 1 tuần 54
Hình 5.1: Sản phẩm nước giải khát từ đậu xanh nha đam 59
Hình 5.2Quy trình công nghệ chế biến nước đậu xanh nha đam đề nghị 60 CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU
cảm và góp ý sửa chửa để bài làm được hoàn thiện hơn.
Mục đích của đề tài:
Tiến hành nghiên cứu để đưa ra quy trình hoàn thiện sản xuất sản phẩm nước giải
khát từ đậu xanh và nha đam
Nội dung của đề tài:
- Tìm hiểu nguồn nguyên liệu nha đam, đậu xanh và tình hình nghiên cứu sản
xuất các sản phẩm từ hai nguồn nguyên liệu này.
- Nghiên cứu, xác định thông số có trong quy trình sản xuất. .
- Hoàn thiện quy trình sản xuất nước giải khát từ nha đam và đậu xanh.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Tạo ra mặt hàng mới từ hai nguồn nguyên liệu nha đam và đậu xanh, làm phong
phú đa dạng các mặt hàng nước giải khát có nguồn gốc thiên nhiên trên thị trường. đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
- Tạo ra một hướng nghiên cứu mới về nha đam và đậu xanh Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 3 -
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGUYÊN LIỆU
2.1. Đậu xanh:
Tên khoa học: Vigna radiata (L) R. Wilczek
Bộ
Fabales
Họ
Fabaceae
Chi
Vigna
Loài
V. radiata

chịu hạn khá tốt.Ngược lại, rễ chịu úng kém. Trước khi cây trổ hoa, chỉ cần bị ngập úng 1/2
ngày là cây bị chết hoặc bị giảm năng suất nặng nề.
Các loài vi khuần nốt sần sống trên cây đậu phộng và đậu trắng đều rất dễ sống trên
cây đậu xanh ( ngược lại, vi khuẩn nốt sần của đậu nành lại sống trên đậu xanh rất yếu)/
Có nhiều biện pháp giúp vi khuẩn hoạt động hữu hiệu: chủng vi khuẩn cho hạt đậu lúc
gieo, bón thêm phân lân, B và Molybden cho đất, bón lót cho cây ít phân đạm, trồng đậu trên
đất cao ráo, không bị phèn, mặn
Các nốt sần trên rễ đậu xanh thường phân bố đều trên các rễ phụ, không tập trung gần
gốc như ở đậu nành.
 Thân
Dạng buội, cao 0,4 - 0,8 m (tối đa 1,5 m), có 1 - 5 cành. Trồng càng dày, số cành càng
giảm. Thân có 10 - 17 lóng, cách nhau bởi các đốt (hay mắt). Đốt thân mang lá bẹ, cuống lá,
mấm nhánh hay mầm phát hoa.
Phần thân từ gốc đến hai lá đầu tiên gọi là trục hạ diệp. Phần này có trong hể màu
xanh (tính l ặn) hay tím (tính trội). Trục hạ diệp là phần tahn6 cảu cọng giá đậu do hạt đậu
nảy mầm thượng địa tạo thành.
 Lá
Mọc từ đốt thân. Lá có cuống dài 5 - 15 cm mang một lá kép ở đầu. Mỗi lá kép thường
mang 3 lá chét mọc từ 3 cuống lá phụ (đôi khi có 5,7,9 lá chét). Lá chét nguyên (đôi khi có xẻ
thùy) dài 2 - 15 cm, rộng 1,5 - 12,0 cm. mặt trên có lông tơ ngắn ( hoặc trơn). Lá chét giữa có
khả năng hướng theo chiều ánh sáng, nhờ đó giúp lá cây quang hợp được hiệu quả hơn.
 Phát hoa
Mọc từ nách lá ngọn đến nách lá thứ 8-9 (kế từ ngọn). Mỗi phát hoa có cuống dài 2 -
13 cm, mang một chùm 10 - 12 hoa ở đầu các cuống phụ, nhưng chỉ đậu trái được 3 - 10 trái/
chùm Tỉ lệ hoa rụng thay đổi theo giống,nùa vụ, kỹ thuật trồng và cũng thay đổi tùy từng vị
trí đốt trên thân (các đốt ngọn và gần gốc dễ rụng nhất). Thiếu nước hoặc mưa nhiều cũng làm
hoa dễ bị rụng, năm suất giảm.

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân

Cây đậu xanh chịu mặn trung bình ( đất chứa 0,4% muối) nhưng phải chọn giống chịu
mặn và trồng vụ đông xuân .
b. Khí hậu
Nhiệt độ : đậu xanh cần nhiệt độ ấm áp (25 - 30
o
C). Dưới 20
o
C làm kéo dài thời
gian sinh trưởng và giảm năng suất. Để nảy mầm. hạt đậu xanh cần nhiệt độ 24 - 32
o
C.Vì vậy,

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 6 -
ủ giá trong mùa lạnh cần tưới bằng nước hơi ấm để trong tạo nhiệt tốt cho hạt nảy mầm.Hạt
đậu xanh gieo vào thời điểm lạnh trong rong năm (vụ Đông Xuân) cũng cần được phủ rơm để
đất ẩm, hạt dễ mọc mầm.
Ánh sáng: cây đậu xanh chịu trăng, ưa sáng. Thiếu nắng hoặc trồng xen với các loại
cây khác sẽ làm cây đậu mảnh khảnh, dễ đổ ngã, hoa rụng nhiều và năng suất giảm. Trong
mùa mưa, mây mù nhiều làm kéo dài sinh trưởng thêm 5 - 10 ngày.Nếu trồng xen với các
loại hoa màu khác có tán cao (bắp, mía, khoai mì ) cần phải chú ý thời điểm gieo đậu để cây
đậu xanh không bị che rợp trước lúc ra hoa mới bảo đảm năng suất được.
Nước : Cây cần cung cấp một lượng nước khoảng 300 - 600 mm/ vụ. Mùa nắng cần
cung cấp nước khi ẩm độ đất đạt dưới 50% nước hữu dụng (đất bời rời,se không dính). Thiếu
nước vào giai đoạn trái đang trong tạo hạt sẽ làm hạt đậu xanh dễ bị hiện tượng " đậu đá" (hạt
cứng, không hút nước lúc nấu chè). Gieo đậu trên nền đất lúa cần gieo sớm (5 - 12 ngày sau
khi rút nước), lúc đất còn ẩm (đi còn lún chân) thì hạt mới mọc mầm và sinh trưởng tốt
2.1.4 Giống:
Có thể coi đậu xanh có 2 nhóm giống: Nhóm giống địa phương và nhóm giống cải

tư đúng mức nên gần đây nhiều nước đã chọn được giống cho năng suất bình quân 10 - 12
tạ/ha với các ưu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chống
chịu một số sâu bệnh hại chính.
Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh có thể cải thiện
năng suất và tính kháng bệnh. Ấn Độ có 22 trung tâm khắp cả nước nghiên cứu về cây đậu
xanh. Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các viện trường tham gia nghiên cứu về cây đậu
xanh
Với Việt Nam, đậu xanh đã được trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, nhưng bị xem
là cây trồng phụ tận dụng đất đai, lao động nên năng suất rất khiêm tốn.
Đậu xanh chiếm diện tích khoảng 40 nghìn ha,năng suất trung bình 6 - 7 tạ/ha.
Các nhà tuyển chọn giống đậu xanh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận với
nhiều giống mới như: ĐX - 044, ĐX - 06, ĐX – 92 - 1, V87 - 13, HL89 - E3, V91 - 15…là
những giống ngắn ngày, chín tập trung cho năng suất khi thâm canh đạt 15 - 17 tạ/ha. Tiềm
năng năng suất đậu xanh của chúng ta khá lạc quan. Tuy nhiên vì là cây chống đói, lấp vụ,
xen canh nên ít được đầu tư đúng mức, vì vậy cần thiết phải xây dựng qui trình kỹ thuật thâm
canh tổng hợp để trong tương lai gần Việt Nam sẽ đứng đầu về kinh nghiệm canh tác đậu
xanh.
Từ năm 1983, diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhưng chậm và không liên tục.
Năng suất đậu xanh thời kỳ 1981 - 1985 là 5,5 tạ/ha, 1986 - 1991 là 5,9 tạ/ha. Năm 1999 là
năm có năng suất cao nhất: 8,2 tạ/ha nhờ sự chuyển đổi giống mới. Năng suất đậu xanh ở các
tỉnh phía Nam thường cao hơn các tỉnh phía Bắc, một số vùng ở An Giang, Đồng Tháp, Hậu
Giang đã đạt gần 20 tạ/ha trong vụ Đông Xuân vì có nhiều điều kiện thích hợp cho canh tác
đậu xanh (Phạm Văn Thiều, 2002).
Từ đó rút ra những yếu tố làm hạn chế năng suất đậu xanh là:
 Giống sử dụng là các giống cũ của địa phương không được chọn lọc.

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 8 -
 Đậu xanh thường được trồng trên đất xấu không thể trồng cây lương thực

lượng đạm khoảng 30-70 kg/ha (Hutman, 1962)
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu xanh

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 9 -

Nguồn: USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 18 (2005)
Dinh dưỡng
Đơn vị
1,00 X 1 tách

202g
Dinh dưỡng
Đơn vị
1,00 X 1 tách

202g
Thành phần Vitamin A, IU
IU
48
Nước
g
146,77
Vitamin E
mg
0,30

Carbohydrate
g
38,68
Leucine
g
1,099
Chất xơ
g
15,4
Lysine
g
0,990
Đường tổng số
g
4,04
Methionine
g
0,170
Khoáng chất Cystine
g
0,125
Calcium, Ca
mg
55
Phenylalanine
g
0,858

Zinc, Zn
mg
1,70
Aspartic acid
g
1,640
Copper, Cu
mg
0,315
Glutamic acid
g
2,537
Manganese, Mn
mg
0,602
Glycine
g
0,568
Selenium, Se
mcg
5,0
Proline
g
0,652
Vitamins Serine
g
0,699

Vitamin B-6
mg
0,135

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 10 -
c. Giá trị dinh dưỡng
Về phương diện dinh dưỡng, hạt đậu xanh có chứa nhiều dưỡng chất như; protein (21
– 24 %), lipid (1 – 4 %), đường bột (57 – 58 %) và hàm lượng chất sắt rất cao (6 mg/100 g hạt
khô). Các nguyên tố vi lượng Ca, P, Fe và các vitamin (tiền sinh tố A, B1, B2, PP, C), còn có
phosphatidyl choline, phosphatidylethanolamine, phosphtidylinositol, phosphatidylserine;
phosphatidicacid.
Vitamin
Đậu xanh là một nguồn giàu vitamin B, C, E và K. Folate hay acid folic có trong đậu
xanh giúp trong việc hình thành các tế bào máu. Nó cũng giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch,
đảm bảo tăng trưởng bình thường và hỗ trợ trong chuyển hóa protein.Thiamin, một loại
vitamin b đảm bảo thực hiện đúng chức năng của hệ thần kinh .Thiamin cũng hữu ích trong
giải phóng năng lượng từ carbohydrates.
Khoáng chất
Đậu xanh chứa lượng lớn khoáng chất. Magnesium giúp thư giãn các động mạch và
tĩnh mạch , dẫn đến tăng lưu lượng oxy, chất dinh dưỡng và máu khắp cơ thể. Đồng giúp hấp
thụ sắt và cũng tạo điều kiện cho quá trình chuyển hóa protein. . Sắt giúp cơ thể xây dựng sức
đề kháng với stress, hình thành hemoglobin, và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình
chuyển hóa hoàn toàn. Kẽm hữu ích cho sự phát triển các mô thích hợp, sửa chữa, tăng hệ
thống miễn dịch, và cải thiện vô sinh nam. Kali cần thiết để duy trì một trái tim đập bình
thường, bên cạnh giúp trong việc co cơ.

Đậu xanh là loại thức ăn nhiều kali, ít natri. Người thường xuyên ăn đậu xanh và chế
phẩm của nó huyết áp của họ sẽ thấp. Trong đậu xanh còn có thành phần hạ huyết mỡ hữu
hiệu, nó còn giúp cho cơ thể phòng chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp,
đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc.
Giá đậu xanh có đủ các chất dinh dưỡng, nhiều vitamin C và E, lượng calo thấp. Giá
thường được dùng cho người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ,
người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol
máu cao, hiếm muộn, dễ xảy thai. Do có nhiều vitamin A, C, E nên giá đậu xanh còn khử gốc
tự do, chống lão hóa, chống ung thư (đặc biệt là ung thư vú, ung thư trực tràng) thoái hóa
khớp, một số bệnh nan y như Parkinson, Alzheimer (sa sút trí tuệ người cao tuổi).

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 12 -
Một số tài liệu nước ngoài viết: giá đậu là phương thuốc chống lão hóa rất tốt Giá
đậu giàu protein (hạt chứa 40%, gần bằng thịt sữa) nên là món ăn chay tốt. Chất béo trong giá
không gây đầy bụng, và cung cấp chủ yếu axít béo cần cho tế bào não nên là món ăn tốt cho
người làm việc nhiều về trí óc. Axít béo thực vật này cộng hưởng với các chất khác trong giá
sẽ giảm nhiều cholesterol trong máu nên được chỉ định cho các bệnh có liên quan đến
cholesterol cao (Phó Thuần Hương, 2005, báo Sức khỏe và đời sống).
2.1.8 Kỹ thuật canh tác đậu xanh [2]
a. Thời vụ
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có 3 thời vụ trồng đậu xanh:
Đông Xuân: Gieo tháng 12 - 1 dương lịch và thu hoạch từ tháng 2 -3 dương lịch. Đây
là thời vụ trồng chính, cây phát triển tốt và ít bị sâu bệnh, nhưng phải tốn chi phí tưới. Thời vụ
này thường được nông dân canh tác đậu xanh trên chân ruộng lúa mùa , trung mùa hoặc lợi
dụng ẩm độ đất vào cuối mùa mưa để canh tác (ở các vùng đất giồng hoặc ở vùng nhiễm mặn
của Cà Mau) là thời vụ cho năng suất cao và ổn định.
Xuân hè: thường trồng sau tết âm lịch. Đậu xanh được gieo vào tháng 2 - 3 dương lịch
và thu hoạch vào tháng 4 -5 dương lịch, trồng bên chân ruộng lúa đông xuân. Thời vụ này cho

, 50 K
2
O, tương ứng với 90 kg urê, 300 kg super lân và 90 kg Kali. Phân không
nên bón một lần như nhiều bà con vẫn làm mà nên chia làm 3 lần. Lần thứ nhất: bón toàn bộ
lân, 1/3 đạm, 1/3 kali. Lần thứ hai, bón thúc đợt 1 khi cây được 3 lá thật. Lương phân bón là
1/3 urê và 1/3 kali. Do đậu xanh có số lá ít, vì vậy nên kết hợp bón thúc đợt 1 với làm cỏ lần
đầu. Lần thứ 3 sau khi gieo 25 ngày, ta tiến hành bón thúc ra hoa toàn bộ lượng phân còn lại
và kết hợp với làm cỏ, vun gốc.
e. Phòng trừ sâu bệnh: [4]
Đậu xanh là cây ký chủ của nhiều loại sâu bệnh. Sự dinh dưỡng cố định của chúng làm
cho cây suy yếu, không cho năng suất tối đa. Vì vậy, muốn có năng suất cao, vấn đề kiểm soát
sâu bệnh là tiên quyết.
Về bệnh: Theo kết quả điều tra về bịnh của Cục Bảo Vệ Thực Vật trên cây trồng, đã
xác định 20 loài bệnh hại, trong đó 2 bệnh gây tổn thất lớn cho năng suất đậu xanh là bệnh
bạc đầu, bệnh hoa lá và đốm lá.
Bệnh khảm vàng, bệnh này gây hại trên đậu xanh tương đối toàn diện, cây đậu bệnh
khảm vàng thường ít hoa, quả chín muộn, số quả trên cây, số hạt trên quả và trọng lượng hạt
đều giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thiệt hại tùy thuộc thời gian nhiễm bệnh. Nếu cây
nhiễm bịnh trước 7 tuần tuổi năng suất giảm từ 20-70%, nhưng sau 8 tuần thì không ảnh
hưởng tới năng suất.
Phòng trừ bệnh khảm vàng: Biện pháp hữu hiệu là trồng giống kháng. Đối với những
giống có khả năng chống chịu tốt cũng phải được chọn lọc lại ít nhất là sau 4 vụ gieo trồng.
Khi trên ruộng xuất hiện cây bệnh, cần kịp thời nhổ bỏ, dùng thuốc diệt trừ.
Bệnh thứ hai là bệnh đốm lá do nấm Sercostora. Bệnh đốm lá được gây bởi hàng nấm,
hại tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây và bệnh xuất hiện khá muộn. Xuất hiện khi cây ở
giai đoạn hình thành nụ nặng gần tới khi thu hoạch. Một số nghiên cứu cũng cho thấy nếu hạn
chế được nấm trên lá thì sẽ làm tăng năng suất 50-60%.
Biện pháp phòng trừ bệnh đốm lá: Nhiều phương pháp hiện được thử nghiệm trên
bệnh đốm lá được nhiều nước thực hiện cho thấy: Một số loại thuốc đã cho hiệu lực khá cao
như Dapronin, Pamistin, Alvin, Tilt Thời gian phun thuốc phòng bệnh là 20 - 30 đến 40

Hạt đậu tồn trữ phải phơi thật khô (độ ẩm còn thấp hơn 12%) và trữ trong khạp kín có
chứa lớp tro bếp hoặc vôi (CaO ) khô. Cần phơi nắng 1 - 2 tháng/ lần để bảo đảm độ nảy
mầm. Hạt có thể trữ trong bao bố, nhưng phải để chỡ mát, khô ráo để ngừa chim, chuột, kiến,
nấm mốc.
Hạt tồn trữ có thể bị mọt phá hại. Mọt đẻ trứng từ ngoài đất, trứng bám vào hạt và phá
hại đậu tồn trữ nếu không phơi khô. Có thể dùng nước "gút" sạch hạt hoặc phun dầu phộng
(hay dầu đậu nành) 3 - 5 cc/kg hạt để xua đuổi mọt trước khi trữ
c. Bảo quản

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 15 -
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng nẩy mầm của hạt đậu xanh theo
thời gian là chất lượng hạt trước khi bảo quản. Các yếu tố: độ nhiễm sâu mọt, độ ẩm và nhiệt
độ của môi trường, độ ẩm hạt và phương thức bảo quản, thì quyết định nhất là độ ẩm của hạt,
độ nhiễm sâu mọt và độ kín khi bảo quản.
Viện Công nghệ sau thu hoạch đã đề xuất ra một quy trình bảo quản như sau:
 Sấy hạt để làm giảm độ ẩm đến tối ưu (<12%) với các loại thiết bị thích hợp.
 Xông hơi để chống sâu mọt bằng phốt phua nhôm.
 Bảo quản kín trong hệ thống các lớp bao.
Với cách bảo quản này, sau 1 năm thấy độ ẩm hạt, độ nảy mầm, tỷ lệ sâu mọt và các
chỉ tiêu chất lượng của giá đỗ đều đạt, chỉ riêng độ nẩy mầm có giảm 8% so với ban đầu
(Phạm Văn Thiều, 2002).
Bảo quản hạt đậu xanh trong điều kiện nông hộ thì có thể dùng tro bếp (hoặc lá xoan
khô) trộn với hạt đậu xanh, đảm bảo cho xung quanh hạt đậu đều có tro. Cho vào chum vại,
hũ hay túi nilon 2 lớp. Điều cần thiết là bảo quản trong điều kiện kín và đặt ở nơi cao ráo,
thoáng mát.
2.1.10 Ứng dụng
Trong đời sống hàng ngày, đậu xanh được dùng làm rất nhiều món như nấu canh, chè,
xôi cháo, làm bánh (bánh tét, bánh đậu xanh, bánh chưng ), xay thành bột làm miến, rang

Cleopatra đã sử dụng loài thảo dược này để chăm sóc và bảo vệ nhan sắc của mình. Còn đại
đế Hy Lạp Alexandra đã dùng nha đam để chữa vết thương cho binh lính của mình trong
những cuộc viễn chinh. Những dòng chữ tượng hình và những hình vẽ còn lưu lại trên những
bức tường ở những đền đài Ai Cập cho thấy cây nha đam đã được biết đến và sử dụng cách
đây hơn 3000 năm. Cho đến tận ngày hôm nay con người đã chứng minh và khẳng địnhđược
vai trò của cây nha đam trong cuộc sống con người, cụ thể hơn là trong lĩnh vực thực phẩm,
dược phẩm và mỹ phẩm.
Hình 2.2: Cấu tạo cây nha đam

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 17 -
2.2.2.Đặc điểm và phân loại:
Magnoliophyta
Lớp
Lilliopsida
Phân lớp
Liliidae
Bộ
Asparagales
Họ
Asphodelaceae
Giống
Aloe

Chương 2: Tổng quan GVHD:Ths.Phan Thị Hồng Liên
SVTH: Lê Kim Ngân
- 18 -
Loài Aloe gồm những cây sống được nhiều năm, thân có thể hóa gỗ, phần trên lá tập
trung thành hình hoa thị. Khi ra hoa thì trục hoa nhô lên ở giữa bó lá. Lá có hình mũi mác
dày, mọng nước. Trong lá có chứa nhiều chất nhầy vì thế có thể giữ nhiều nước làm cho cây
thích ứng được nơi khô hạn.
Dày, dạng hình nón, gai góc, không thuộc họ xương rồng mà có liên quan đến họ loa
kèn, họ hành tỏi.Lô hội được trồng ở những vùng nhiệt đới ấm áp và không thể sống sót ở
nhiệt độ đóng băng. Khi trưởng thành các cây cao từ 2.5 inch đến 4 feet với các cây bao
quanh dài từ 28 đến 36 inch, mỗi cây thông thường có từ 12 đến 16 lá mà khi lớn có thể nặng
đến 3 pound. Mỗi cây được thu hoạch cứ mỗi 6-8 tuần bằng cách tách 3-4 lá/1 cây.

2.2.3 Phân bố và điều kiện sống:
a. Phân bố:
 Aloe Vera là cây bản xứ của Châu Phi. Tuy nhiên, do tính thích nghi nên
hiện nay Aloe Vera phân bố ở khắp nơi trên thế giới như ở Ấn Độ, Châu Mỹ, từ nam chí bắc
ở Châu Phi, cực nam Châu Âu. Aloe Vera không chỉ trồng thành vườn, trồng kiểng mà còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status