i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG THỰC ĐƠN CHO PHỤ NỮ
SAU KHI SINH CON TẠI BỆNH VIỆN
TUYẾN HUYỆN
Ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Giảng viên hướng dẫn : Th.S TRẦN THỊ THU TRÀ
sau cùng, tôi xin cảm ơn quý thầy cô là giảng viên, thạc sĩ, tiến sĩ trong hội đồng phản biện
của khoa Công nghệ Thực phẩm đã tìm hiểu nội dung quyển báo cáo và sẽ có những ý kiến
đóng góp quý báo giúp tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp.
iii
TÓM TẮT ĐỒ ÁN
DÛE
Trong đời sống con người, ăn uống là nhu cầu hết sức quan trọng không chỉ để duy
trì sự sống mà còn để lao động tạo của cải phục vụ con người. Bên cạnh đó, ăn uống còn là
phương thuốc kỳ diệu giúp phục hồi sức khỏe sau khi đau bệnh hoặc sau khi phụ nữ sinh
con…
Vì thế ăn uống không phải chỉ cần đủ no mà phải đủ chất, hay đúng hơn là dinh
dưỡng cân đối, phù hợp theo thể trạng của mỗi người.
Hiện nay có một số căn bệnh như tiểu đường, tim mạch, máu nhiễm mỡ,… nếu ăn
uống hợp lý sẽ giúp người bệnh ngăn chặn bệnh tiến triển và đôi khi, thức ăn, nước uống
còn có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh.
Điều này không chỉ cần thiết đối với người bệnh mà đối với phụ nữ sau khi sinh
con cũng vô cùng quan trọng, trước hết là phục hồi sức khỏe sau một loạt cơn đau chuyển
dạ và lúc sinh con, sau đó là làm sao mau lành vết thương, đủ năng lượng để chăm sóc con
và trên hết là phải có nhiều sữa. Trong thực tế, do người Việt Nam ảnh hưởng của chế độ
phong kiến ngày xưa, nên một số gia đình vùng nông thôn còn thói quen kiêng khem thái
hóa, áp đặt sản phụ ăn một loại thức ăn được cho là bổ dưỡng hay phải nhịn những thực
phẩm cần thiết nhưng họ cho là không nên ăn kéo dài làm ảnh hưởng đến sức khỏe cũng
như tâm lý của người mẹ.
Nhằm hạn chế tình trạng trên, nhất là ở vùng nông thôn, các huyện vùng sâu, suy
nghĩ của người nhà sản phụ về ăn uống sau sinh càng th
ận trọng hơn. Cho nên trong quyển
báo cáo này tôi xin trình bày một thực đơn được xây dựng cho phụ nữ sau khi sinh con tại
bệnh viện huyện, áp dụng cho bà mẹ ăn trong lúc nằm viện, do khoa Dinh dưỡng cung cấp
với những bữa ăn cân đối, đủ năng lượng, đủ chất dinh dưỡng bằng những món ăn phong
phú từ nguyên liệu quê hương.
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách hình vẽ v
Danh sách bảng biểu vi
Danh sách các từ viết tắt vii
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1 Thực trạng dinh dưỡng cho sản phụ hiện nay tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện 1
1.2 Nhu cầu chung của sản phụ 2
1.3 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị 8
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG THỰC ĐƠN
2.1 Thống kê chọn đối tượng trung bình. 20
2.2 Cân đối năng lượng và tỉ lệ các chất dinh dưỡng 25
2.3 Tính toán năng lượng của một số món ăn thông dụng, 28
2.4 Ráp các món thành bữa ăn và nhận xét, đánh giá chất lượng các bữa ăn. 62
CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN
Kết luận 89
Tài liệu tham khảo I
vi
DANH SÁCH BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Phiếu đăng ký ăn .3
Bảng 1.2 Bảng nhu cầu năng lượng ở người trưởng thành và phụ nữ có thai và cho con bú 9
Bảng 1.3 Bảng nhu cầu Protein ở người trưởng thành và phụ nữ có thai và cho con bú 10
Bảng 2.26. Bảng năng lượng món ăn trưa hoặc chiều. 63
Bảng 2.27. Bảng thực đơn ngày số 1 64
Bảng 2.28. Bảng thực đơn số 2 67
Bảng 2.29. Bảng thực đơn số 3 70
Bảng 2.30. Bảng thực đơn số 4 73
Bảng 2.31. Bảng thực đơn số 5 76
Bảng 2.32. Bảng thực đơn số 6 79
Bảng 2.33. Bảng thực đơn số 7 82
Bảng 2.34. Bảng thực đơn trung bình/ ngày 85
viii
DANH SÁCH HÌNH
Tên hình Trang
Hình 2.1 Biểu đồ số lượng sản phụ sinh con theo độ tuổi. 21
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % theo độ tuổi phụ nữ sinh con 21
Hình 2.3 Biểu đồ số lượng thai phụ theo cân nặng 22
Hình 2.4 Biểu đồ cân nặng của thai phụ theo tỉ lệ phần trăm. 23
Hình 2.5 Phụ nữ sau khi sinh thường lao động nhẹ 24
Hình 2.6 Món ăn sáng 28
Hình 2.7 Các món ăn trưa chiều 38
Hình 2.8. Biểu đồ so sánh tỷ lệ các chất dinh dưỡng do thực đơn cung cấp so với nhu cầu
tính toán 65
Hình 2.9. Biểu đồ so sánh tỷ lệ các chất dinh dưỡng do thực đơn cung cấp so với nhu cầu
tính toán 68
thức ăn do gia đình tự làm sẽ vừa mất thời gian, vừa dễ bị xốc đổ do vận chuyển đường xa,
vừa không đảm bảo cho sản phụ ăn thức ăn nóng, ăn ngay sau chế biến.
Còn bệnh viện đa khoa huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, là bệnh viện có qui mô lớn hơn,
đã có khoa Dinh dưỡng hoạt động nhưng vẫn không có cán bộ chuyên môn dinh dưỡng.
Trưởng khoa là Cử nhân Điều dưỡng được tập huấn kiến thức dinh dưỡng để kiêm nhiệm
điều hành khoa. Thực tế vẫn thiếu nhân lực nên bệnh viện hợp đồng với một bếp ăn tập thể
bên ngoài để nấ
u và cung cấp suất ăn thông thường cho bệnh nhân dưới sự quản lý của
Trưởng khoa. Các khẩu phần ăn mỗi ngày chỉ có thịt hoặc cá, rau, củ, quả sao cho đảm bảo
tính kinh tế là chủ yếu, không có thực đơn cho từng đối tượng bệnh lý khác nhau.
Ngoài ra do tuyến huyện đa số là vùng nông thôn nên quan niệm của người dân về ăn
uống sau sinh con khá sai lầm, bồi bổ thừa cân, thiếu dinh dưỡng. Cụ thể, s
ản phụ thường bị
áp đặt chế độ ăn kiêng đặc biệt như chỉ ăn thịt heo nạc, cử thịt gia cầm hay cá, tôm, thức ăn
phải có vị mặn nhiều, phải cay, hạn chế ăn rau quả, món nào bổ thì phải ăn hoài, khẩu phần
ăn thường tăng gấp đôi… làm cho các sản phụ vừa ngán ăn, ảnh hưởng tâm lý, sợ ăn, có khi
thừa cân nhưng lại thiếu chất nên không đảm bảo sức khỏe và lượng sữa cần thiết nuôi con.
Chương 1: Tổng Quan
-2-
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của sản phụ
1.2.1 Nhu cầu chung
- Người mẹ sau khi sinh con với những thay đổi của cơ thể (do 9 tháng mang thai và
cuộc sinh nở vừa trải qua), cần chú ý chăm sóc sức khỏe bản thân về mọi mặt. Tuy vậy,
quan trọng hơn hết đối với người mẹ lúc này là vấn đề dinh dưỡng.
- Thời gian sau khi sinh là thời kì người phụ nữ thiếu nhiều chất nhất, bởi người mẹ đã
mất nhiều năng lượng, máu và nước trong quá trình mang thai và vượt cạn. Trong thời gian
này, nếu không được bổ sung đầy đủ dưỡng chất bằng một chế độ dinh dưỡng khoa học và
nghỉ ngơi hợp lí. Người mẹ sẽ không có đủ sức để tái tạo lại sức khỏe và cung cấp nguồn
Thông thường, đối với sản phụ sinh mổ, người nhà hay quan niệm cử ăn nhiều hơn so
với sinh thường vì sợ những thức ăn có khả năng dị ứng hoặc gây rỉ mủ vết mổ hay gây lồi
sẹo,…Họ sẽ tránh các thực phẩm như cá biển, tôm, cua, mực, thịt vịt, các loại cá trắng, rau
lang,… Vì vậy trong thực đơn một ngày, ta cần phải phối hợp thêm những thức ăn khác các
nguyên liệu trên để họ có thể lựa chọn món ăn dễ dàng.
Riêng đối với sản phụ có bệnh lý kèm theo: tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường hay gan
nhiễm mỡ, bệnh thận, bệnh gút,… thì khoa Dinh dưỡng phải ghi chú rõ qua Phiếu đăng ký
ăn, khi cung cấp thức ăn có thể thêm bớt khẩu phần hoặc chế biến riêng để đáp ứng tốt nhu
cầu sức khỏe của sản phụ.
Bảng 1.1. Phiếu đăng ký ăn
STT Phòng Giường Họ và tên Tuổi
Cân
nặng
Tình trạng
sinh
Bệnh lý kèm theo
T M
Một số chú ý về dinh dưỡng đối với sản phụ có bệnh lý kèm theo:
• Đối với bệnh cao huyết áp:
Nên ăn ít natri, nhiều kali, canxi, chất xơ, có tính lợi tiểu, giảm chất béo no, tăng chất
béo không no, giảm chất kích thích, tăng an thần.
Hạn chế muối ăn (natri clorid), giảm mì chính (bột ngọt) dưới 6g/ngày; Nếu bị phù và
suy tim thì chỉ ăn 2-4g/ngày. Không dùng thức ăn mặn như cà, dưa, mắm tôm, mắm tép,
thức ăn đóng hộp Ăn nhiều rau quả để có nhiều kali.
Chương 1: Tổng Quan
-4-
+ Cam, quýt, chanh, bưởi, chè tươi, là những thực phẩm chứa nhiều vitamin PP,
Vitamin PP giúp bảo vệ thành mao mạch, làm giảm độ thấm, có tác dụng chống oxy hóa,
làm chậm sự lão hóa.
Chương 1: Tổng Quan
-5-
+ Thực phẩm chứa nhiều vitamin E như dầu đỗ tương, hạt đỗ tương, dầu gấc, dầu
lạc, đậu Hà Lan tươi sống, giá sống, cà chua chín tươi. Vitamin E hạn chế tiêu hóa chất
đạm, bảo vệ mao mạch và tế bào thần kinh, có tác dụng chống xơ hóa và chống oxy hóa.
+ Bắp cải chứa nhiều vitamin U. Chất này có tác dụng bảo vệ thành mạch chống vữa
xơ động mạch, làm giảm cholesterol máu.
+ Dâu giàu kali, một loại khoáng chất giúp điều hòa chất điện phân trong cơ thể, qua
đó giảm nguy cơ bị đột quỵ hoặc đau tim. Dâu cũng chứa folate, một thành phần quan trọng
trong việc sản sinh các tế bào máu. Dâu cũng giúp ngừa một số loại ung thư và chống
cholesterol xấu. Dâu cũng chứa nhiều acid béo omega-3 và chất xơ.
+ Một chất rất quan trọng đối với tim là potasium có nhiều trong các loại quả như
nho, chuối, dừa. Ðể tim hoạt động tốt, lượng potasium trong máu phải ổn định, không quá
nhiều hay quá ít.
+ Một số trái cây còn chứa các chất có tác dụng tốt đối với bệnh tim mạch, như bưởi
có thể làm giảm mỡ trong máu, cà chua có thể giảm nguy cơ bị tai biến mạch máu não.
+ Bệnh nhân tim mạch cần hàm lượng xơ cao. Chất xơ làm giảm hấp thu cholesterol
từ ruột vào máu, tăng thải cholesterol ra ngoài theo đường phân, chậm hấp thu đường vào
máu, chống táo bón.
+ Ăn nhiều các loại rau quả sẽ khiến cho cơ thể có cảm giác mau no, vì thế giúp ăn ít
đi những thực phẩm khác và đặc biệt sẽ giúp giảm tiêu thụ những thực phẩm nhiều chất béo
như thịt và các loại thức ăn nhanh. Với người bình thường, lượng xơ tối thiểu là 20 g / ngày
và tối đa là 30 g / ngày. Vậy với người bệnh nhân tim mạch, lượng xơ nên từ 25 – 28g /
ngày.
• Đối với bệnh thận:
- Nên ăn nhẹ và ăn nhạt, thức ăn giàu chất đạm, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều
dưới hai cốc mỗi ngày đối với nam, một cốc đối với nữ
- Ăn uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng độ acid uric trong máu.
• Đối với bệnh béo phì:
Giảm năng lượng của khẩu phần ăn từng bước một, mỗi tuần giảm khoảng 300
kcal so với khẩu phần ăn hiện tại của bệnh nhân cho đến khi đạt năng lượng tương ứng với
mức BMI. Nhưng đối với phụ nữ cho con bú thì không áp dụng chế độ này vì cần đủ năng
lượng để phục hồi sức khoẻ và chăm sóc con, cho con bú.
- Tránh tất cả các thực phẩm nhiều chất béo: Thịt mỡ, thịt chân giò, nước dùng thịt,
bơ, format
- Tránh các thực phẩm có nhiều cholesterol: Não, tim, gan, thận, lòng lợn
- Tránh ăn các món ăn có đưa thêm chất béo: Bánh mì bơ, bơ trộn rau, các món xào, rán
- Chế độ ăn thấp béo, cao protein có hiệu quả giảm cân có ý nghĩa.
Chương 1: Tổng Quan
-7-
- Nên sử dụng những glucid có nhiều chất xơ như: Bánh mì đen, ngũ cốc nguyên hạt,
khoai củ có đậm độ năng lượng thấp, không đắt tiền, luôn có sẵn, và là nguồn protein quý,
vitamin và khoáng chất tốt.
- Nên tránh ăn các thức ăn giàu năng lượng như: Đường mật, mứt, kẹo, bánh ngọt, sô
cô la, nước ngọt
• Đối với bệnh gan nhiễm mỡ:
- Đối với bệnh gan nhiễm mỡ chế độ ăn phải có nhiều gluxit để gan tạo ra được nhiều
glycogen. Mặt khác nó còn bảo vệ cho gan khỏi bị thoái hóa mỡ.
- Hạn chế mỡ và thức ăn béo: Khi tế bào gan bị tổn thường thì lập tức bào tương của
nó sinh ra những giọt mỡ có thể làm huỷ hoại tế bào. Đó chính là hiện tượng thoái hóa
mỡ của gan. Do đó chế độ ăn phải hạn chế chất béo.
- Cung cấp đủ vitamin, nhất là phức hợp nhóm B, Vitamin C, K nên cung cấp đủ
lượng vitamin cần cho một ngày. Ở người bệnh gan có thể mất khoáng và vitamin dẫn
tới chứng loãng xương, quáng gà nếu lượng vitamin và khoáng quá thấp. Do đó nên ăn
nhiều loại thức ăn để tránh thiếu hụt.
hoạt động của cơ thể, tránh dư thừa sẽ dễ làm tăng cân.
- Nên ăn các loại thịt nạc bỏ da, ăn cá nhiều hơn thịt. Ăn thêm các loại đạm thực vật
như đậu hũ, các loại đậu khác.
- Nên hạn chế mặn, nếu có cao huyết áp chỉ dùng <1/2 muỗng cà phê muối/ ngày kể
cả nêm nếm trong thức ăn.
- Uống sữa để phòng ngừa bệnh tiểu đường.
1.3. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho phụ nữ sau khi sinh.
- Sau khi sinh, việc bồi bổ cơ thể là rất cần thiết vì khí huyết người phụ nữ tổn thương,
cơ thể suy yếu, bị mất máu và mất sức quá nhiều hoặc phải sử dụng thuốc kháng sinh đã làm
ảnh hưởng đến nguồn sữa. Vì vậy để đảm bảo sức khỏe, chế độ ăn uống của người mẹ được
khuyến nghị như sau.
- Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Việ
n Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, sau khi sinh và
trong thời kỳ cho con bú, phụ nữ cần về nǎng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn
ở mức bình thường vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự
thay đổi về sinh lý của người mẹ như biến đổi về chuyển hoá, tích luỹ mỡ, tǎng cân và đăc
biệt là tạo sữa cho con bú, vì thế khẩu phầ
n ăn phải tăng thêm về số lượng và chất lượng,
phải ăn bằng chế độ bồi dưỡng, nhưng chỉ cần vừa đủ và phải cân đối giữa các chất.
1.3.1. Nhu cầu về năng lượng
Mỗi ngày cơ thể chúng ta cần được cung cấp trên 2.200 đơn vị calo, còn với bà mẹ sau
sinh phải tiết khoảng 500-800, hay nhiều hơn, 1.000 ml sữa cho con bú, nên cần được cung
cấp đủ năng lượng, chất đạm, béo, vitamin và khoáng chất… So với bình thường, mỗi ngày
sản phụ cần tăng cường 550 kcal, nói chung, ở bà mẹ nuôi con 6 tháng đầu, nǎng lượng cần
đạt được 2750 Kcal/ngày, tức có thể ăn thêm 2 lưng bát cơm, nửa lạng thịt, 1 quả trứng, 2
Chương 1: Tổng Quan
-9-
cốc sữa. Khẩu phần ăn có thể chia làm nhiều bữa, ăn nhiều rau xanh để tránh táo bón. Chế
độ ăn này nên duy trì ít nhất trong 6 tháng đầu, sau đó có thể giảm dần.
Chương 1: Tổng Quan
-10-
Nếu cung cấp protein vượt quá nhu cầu, protein sẽ được chuyển thành lipid và dự trữ ở
mô mỡ của cơ thể. Sử dụng thừa protein quá lâu có thể sẽ dẫn tới bệnh thừa cân, béo phì, bệnh
tim mạch, ung thư đại tràng và tăng đào thải calci.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, trong 6 tháng đầu tiên sau khi sinh, phụ nữ
đang cho con bú nên bổ sung thêm 28g protein/ ngày so với nhu cầu protein của một người
bình thường. Và từ 6 tháng trở đi, lượng protein thêm vào sẽ là 20g/ ngày. Tùy theo thể
trạng của phụ nữ mà chúng ta sẽ có sự bổ sung những lượng protein khác nhau. Với lượng
tăng thêm như vậy sẽ cung cấp dinh dưỡng, năng lượng nhưng vẫn đảm bảo không bị tăng
cân, và mắc bệnh gút (do lượng protein bị dư, vì gian đoạn này là giai đoạn tái tạo lại tế bào
nên cần một lượng protein nhiều hơn).
Về nguyên tắc, sản phụ cần ăn nhiều thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là thức ăn
có chứa nhiều protein, canxi, sắt. Nhưng phải chú ý tới một tỷ lệ quan trọng thức ăn nguồn
gốc động vật có dinh dưỡng cao như thịt, cá, trứng, sữa để cung cấp cho cơ thể những chất
dinh dưỡng quý dễ hấp thu. Nhưng cũng không quên các thức ăn giàu chất protein thực vật
như các loại họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu đen) lạc hạt, vừng.
Bảng 1.3 Bảng nhu cầu protein ở người trưởng thành và phụ nữ có thai và cho con
bú (Theo tài liệu dinh dưỡng người của tác giả Nguyễn Minh Thuỷ)
Giới Tuổi Protein (g/ngày)
Nam
18-30 60
31-60 60
>60 60
Nữ
18-30 55
31-60 55
>60 55
Phụ nữ có thai 6 tháng cuối +15
động thực vật nên chiếm khoảng 50% lipid tổng số.
Nếu lượng chất béo chỉ chiếm dưới 10% năng lượng khẩu phần, cơ thể có thể mắc một
số bệnh lý như giảm mô mỡ dự trữ, giảm cân, bị bệnh chàm da. Thiếu lipid còn làm cơ thể
không hấp thu được các vitamin tan trong dầu như A, D, K và E do đó cũng có thể gián tiếp
gây nên các biểu hiện thiếu của các vitamin này.
Chế độ ăn có quá nhiều lipid có thể dẫn tới thừa cân, béo phì, bệnh tim mạch, và một số
loại ung thư như ung thư đại tràng, vú, tử cung và tiền liệt tuyến.
Thức ăn có nguồn gốc động vật có hàm lượng lipid cao là thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa pho
mát, kem, lòng đỏ trứng Thực phẩm có nguồn gố
c thực vật có hàm lượng lipid cao là dầu
thực vật, lạc, vừng, đậu tương, hạt diều, hạt dẻ cùi dừa, sô cô la, mỡ thực vật
Chương 1: Tổng Quan
-12-
Glucid:
Cung cấp năng lượng là chức năng quan trọng nhất của glucid. Một gam
glucid cung cấp 4Kcal. Trong cơ thể, glucid được dự trữ ở gan dưới dạng glycogen.
Chế độ ăn có đủ glucid sẽ giúp cơ thể giảm phân huỷ và tập trung protein cho chức
năng tạo hình.
Glucid tham gia cấu tạo nên tế bào và các mô của cơ thể, tham gia chuyển hoá lipid.
Glucid giúp cơ thể chuyển hoá thể Cetonic - có tính chất acid, cung cấp chất xơ: Chất xơ
làm khối thức ăn lớn hơn, do đó tạo cảm giác no, tránh việc tiêu thụ quá nhiều chất sinh
năng lượng. Chất xơ trong thực phẩm làm phân mềm, khối phân lớn hơn và nhanh chóng di
chuyển trong đường tiêu hoá. Chất xơ còn hấp phụ những chất có hại trong ống tiêu hoá ví
dụ như cholesterol, các chất gây ôxy hoá, chất gây ung thư
Theo nhu cầu khuyến nghị của người Việt Nam, năng lượng do glucid cung cấp hàng
ngày cần chiếm từ 56-68% nhu cầu năng lượng ăn vào. Không nên ăn quá nhiều glucid tinh
chế như đường, bánh kẹo, bột tinh chế hoặc đã xay xát kỹ.
Nếu khẩu phần thiếu glucid, người ta có thể bị sút cân và mệt mỏi. Khẩu phần thiếu
nhiều sẽ có thể dẫn tới hạ đường huyết hoặc toan hoá máu do tăng thể cetonic trong máu.
Trong thời kì này cần cung cấp đầy đủ lượng Canxi cần thiết, vì chúng có vai trò quan
trọng giúp răng và xương mẹ chắc khỏe, giúp hoàn thiện và phát triển xương của trẻ. Đồng
thời trong thời gian này, phụ nữ đang trong giai đoạn ở cữ, ít tiếp xúc với mặt trời nên cần
bổ sung lượng canxi nhiều hơn. Theo khuyến nghị khoảng 1200 -1500 mg/ ngày. Do đó, sản
phụ cần thêm rất nhiều canxi. Các thực phẩm giàu canxi như: phô mai, sữa đậu nành, trứng,
rau cải…
Hàm lượng các loại vitamin cũng rất quan trọng, các loại vitamin chống oxi hóa (E, A,
C ), và các vitamin nhóm B (đặc biệt B
12
góp phần tái tạo lại máu, đồng thời có thể giảm
được hội chứng trầm cảm sau khi sinh của phụ nữ)
1.3.4.3. Vitamin C
Nhu cầu về vitamin C còn khác nhau giữa các nước. Nhu cầu vitamin C ở người bình
thường là 60mg/ngày, ở phụ nữ cho con bú nên được tăng thêm 35mg/ngày, tức tăng tới
95mg/ngày (theo WHO). Vitamin C tan trong nước và có nhiều chức năng bao gồm giảm
các gốc tự do và hỗ trợ việc hình thành procollagen. Vitamin C có trong hoa quả và rau tươi.
Thiếu vitamin C mãn tính sẽ ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp collagen và dẫn tới bệnh sco-
bút. Trong giai đoạn cho bú cần
1.3.4.4. Acid Folic
Axit folic hay còn gọi là folate hoặc folacin, là một dạng vitamin B rất quan trọng đối
với phụ nữ sau sinh. Axít Folic cần thiết trong sữa mẹ để đảm bảo sức khỏe của trẻ. Ăn
nhiều bánh mì, mì sợi, rau xanh cung cấp nhiều dưỡng chất thiết yếu này. Đây cũng là
nguồn cung cấp một lượng chất xơ và sắt dồi dào cho sản phụ.
1.3.4.5. Vitamin A
Chương 1: Tổng Quan
-14-
Sữa mẹ có chứa khoảng 400-700 Retinol/l vitamin A và 200-400 microgam/l carotenoid.
Lượng này có thể bằng 50% lượng dự trữ vitamin A của người mẹ trong vòng 6 tháng cho bú
đầu tiên. Để đảm bảo cho dự trữ của người mẹ, cần phải bổ sung thêm một lượng 500
Chương 1: Tổng Quan
-15-
Vitamin E ngày càng được công chúng biết đến với chức năng phòng chống ung
thư, phòng bệnh đục thuỷ tinh thể, chức năng phát triển và sinh sản … mà vai trò chính
là chống oxy hóa.
Trong thời gian cho con bú, hàng ngày khoảng 3mg vitamin E của mẹ được chuyển
sang sữa mẹ (nồng độ vitamin E trong sữa là 0.4mg/100 ml x 750ml). Để bù lại, người
mẹ cần nhận thêm 4 mg vitamin E/ngày do việc hấp thu không đạt 100%.
Đối với trẻ em 0,5 mg/kg cân nặng, ở người trưởng thành 20 - 30 mg/ngày. Lượng
khuyến nghị vitamin E cao hơn đối với phụ nữ có thai và cho con bú khoảng 3.8 đến
6.2 mg/ngày. Tuy nhiên nhu cầu về vitamin E chưa được xác định chắc chắn mà chỉ gần
đúng dựa vào hàm lượng của nó trong khẩu phần, mức độ hấp thu lipid, sự tích lũy
trong các mô và sự bài xuất.
1.3.4.8. DHA
Não trẻ sơ sinh có kích cỡ bằng 25% so với người lớn và nó đặc biệt phát triển rất nhanh
trong mấy năm đầu đời. Bà mẹ cần cung cấp đủ DHA (có nhiều trong dầu cá) não bộ của trẻ
sẽ được đảm bảo phát triển toàn diện cả chất và lượng.
1.3.4.9. Men vi sinh
Hay còn gọi là probiotics có nhiều trong sữa chua có tác dụng thúc đẩy và giúp trẻ hình
thành hệ tiêu hóa vững chắc.
1.3.4.10. Nước
Phụ nữ cho con bú cần uống nhiều nước (2 - 2,5 lít/ngày). Có thể bổ sung đủ lượng nước
bằng cách uống nước khoáng, nước đun sôi để nguội, sữa, nước canh, súp, nước ép trái
cây,… Trước mỗi lần cho bú, người mẹ nên uống một ly nước để đảm bảo lượng sữa tiết ra
được tốt. Cần thận trọng với các loại thức uống có ga, soda, rượu, bia… hay có chứa cafein
(như cafe và trà) bởi cafein qua sữa vào cơ thể bé sẽ có thể gây kích thích thần kinh hoặc
tích tụ lại
Nhiều bà mẹ luôn sợ thiếu sữa cho con bú nên cố ăn thật nhiều chất và nghĩ dùng những
(mg)
A
(mcg)
B1
(mg)
B2
(mg)
PP
(mg)
C
(mg)
Nữ 18 - 30 tuổi
Lao
động
nhẹ
2200 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
Lao
động
vừa
2300 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
Lao
động
nặng
2600 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
Phụ
nữ
cho
con
bú (6
tháng
- Không kiêng cữ một cách quá mù quáng: Thời kỳ cho con bú, dinh dưỡng phải đủ về
mọi mặt mới đáp ứng đủ nhu cầu của bản thân và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ, nếu
không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và em bé.
- Ăn uống hợp lý: sau khi sinh nên ăn những thức ăn mềm như cơm nát, cháo. Không
nên ăn quá nhiều d
ầu mỡ như thịt gà (có da), giò heo Sau 7 ngày có thể ăn các món như
cá, thịt, trứng gà nhưng không nên ăn quá no trong vòng một tháng sau khi sinh, mà nên ăn
làm nhiều bữa trong ngày.
- Ăn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa và ít kích thích: Không nên ăn những thức ăn cay
nóng vì dễ làm cho sản phụ nóng và có thể ảnh hưởng đến trẻ qua sữa, làm cho trẻ bị nóng.
Hạn chế các gia vị cay nóng (như ớt, hạt tiêu, mù tạt), các chất kích thích (như chè, cà phê,
thuốc lá) vì chúng gây mất ngủ,
ức chế quá trình tạo sữa hặc có thể qua sữa gây mùi khó
chịu, trẻ dễ bỏ bú.