So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của một số giống lạc có triển vọng trong vụ xuân năm 2008 trên đất bạc màu Vịêt Yên - Bắc Giang - Pdf 13

Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
Nguyễn Văn Du Khoá luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Trong thời gian thực tập tốt nghiêp tại trờng CĐ Nông Lâm, ngoài
sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận đợc sự quan tâm hớng dẫn và chỉ
bảo của:
Th.S Nguyễn Thị Mỹ Yến (giáo viên khoa trồng trọt - trờng CDNL
Bắc Giang) đã tận tình chỉ bảo và hớng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực tập và hoàn thành khoá luận này.
Thầy giáo Lê Thanh Hải (giáo viên khoa s phạm kỹ thuật - Trờng
CDNL Bắc Giang) đã giúp tôi hiểu biết về cây lạc và nhiều kinh nghiệm,
thông tin liên quan khi tiến hành nghiên cứu đề tài.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất!
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành tới:
Các thầy cô giáo trong khoa, nhà trờng luôn giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành nghiên cứu đề tài.
Gia đình, bạn bè đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bắc Giang, ngày 12 tháng 06 năm 2008
Sinh viên
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp

số loại mỹ phẩm, trang sức. Dầu lạc có nhiệt độ đông đặc ở -5
0
C nên có thể
dùng làm dầu bôi trơn máy mọc, trục xe, động cơ. Ngoài ra dầu lạc còn
dùng để chế biến xà phòng. Vỏ quả có nhiều chất xơ dùng làm chất đốt, chế
biến sợi nhân tạo, ủ lên men để chế biến rợu.
Bên cạnh những giá trị trên thì khô dầu lạc và các bộ phận của cây
lạc còn đợc dùng làm thức ăn tinh cung cấp chất đạm cho gia súc (vì trong
khô dầu lạc còn chứa 47% chất đạm, 24 - 26% chất đờng bột, 6 - 7% chất
béo), 425kg khô dầu có thể làm tăng trọng 100kg thịt. Vỏ lạc, thân lá làm
thức ăn tốt cho đại gia súc (theo nghiên cứu cây lạc chứa đến 47% chất
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
2
đờng bột, 11,5% chất đạm, 1,8% chất béo, tính theo trọng lợng chất khô).
Thân lá lạc làm phân xanh bón cho đất rất tốt (tỷ lệ N trong thân lá lạc cao
hơn phân chuồng 2,5 lần; tỷ lệ lân cao hơn 1,1 lần; kali 0,92 lần).
Cây lạc còn là cây có ý nghĩa rất lớn đối với việc cải tạo, bảo vệ đất.
Lạc có bộ rễ phát triển và ăn sâu vào đất. Đặc biệt trên rễ lạc có nhiều nốt
sần có khả năng hút đạm tự do trong không khí, giữ lại và cung cấp cho đất.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, lợng đạm cố định của lạc có
thể đạt 70 - 110kg/ha/vụ. Vì vậy sau khi thu hoạch rễ cây lạc để lại cho đất
một lợng đạm khá lớn. Ngoài ra còn có vai trò bảo vệ đất chống xói mòn
làm tăng độ phì nhiêu của đất, tăng vụ ở tất cả các vùng từ đồng bằng đến
trung du, miền núi.
Hiện nay ở nớc ta tiềm năng mở rộng diện tích và khả năng thâm

trởng, phát triển của một số giống lạc nghiên cứu.
- Xác định khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt, héo xanh và điều kiện
ngọai cảnh bất lợi của các giống lạc.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống
nghiên cứu.
- Chọn ra đợc giống lạc phù hợp nhất với với điều kiện của vùng.
III. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1. ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một số dẫn liệu
khoa học về khả năng sinh trởng, phát triển, chống chịu, tiềm năng năng
suất của các giống lạc nghiên cứu.
2. ý nghĩa thực tiễn
Tìm ra các giống lạc có khả năng sinh trởng, phát triển tốt cho năng
suất cao, phẩm chất tốt để đa ra sản xuất đại trà thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp của địa phơng phát triển.
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
4
Phần II
Tổng quan tài liệu
I. Nguồn gốc cây lạc
Nguồn gốc cây lạc đợc khẳng nh khi Sikê (E- G Seoquier 1877)
tìm thấy lạc trong những ngôi mộ cổ Ancon ở gần bờ biển Lima - thủ đô
Pheru. Tại đây ngời ta đã thấy những vại bằng đất nung đựng nhiều loại
thực phẩm khác nhau còn đợc bảo vệ tốt, trong đó có nhiều vại đựng củ lạc.
Niên đại của các ngôi mộ này từ 1500 - 2000 năm trớc công nguyên.

đến 40 vĩ độ Nam. Năm 1994, Uỷ ban quốc tế và Quỹ gen thực vật đã điều
tra ở Nam Mỹ và thống kê đợc 1438 dạng lạc trồng và 340 loài hoang dại.
II. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới.
1. Tình hình sản xuất
Cây lạc tuy đã đợc trồng lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới nhng đến
giữa thế kỷ XVIII, sản xuất lạc vẫn còn có tính tự cấp cho từng vùng. Cho
tới khi công nghiệp ép dầu lạc phát triển mạnh, việc buôn bán lạc trở nên
tấp nập và đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất lạc phát triển mạnh. Do
vậy giá trị kinh tế của cây lạc mới thực sự đợc xác định từ cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX và đợc coi là cây họ đậu có giá trị lớn.
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, diện tích trồng lạc của thế giới
đã có 10 triệu ha với tổng sản lợng là 20 triệu tấn quả lạc. Vào thời kỳ đó
tình hình sản xuất lạc đợc phân bố nh sau:
- Châu á sản xuất 76% tổng sản lợng của thế giới. Nhiều nhất là 3
nớc: Trung Quốc, ấn độ, Indonexia.
- Châu Phi có sản lợng chiếm 17,3% của thế giới. Trồng nhiều nhất
là 2 nớc Xênêgan và Nigiêria.
- ở Bắc Mỹ có sản lợng chiếm 5% toàn thế giới. Trong đó trồng
nhiều nhất là: Hoa Kỳ, Mêhicô, Cuba.
- Châu Âu có sản lợng chiếm 0,67% toàn thế giới.
- Châu Đại Dơng có sản lợng chiếm 0,03% toàn thế giới.
- Nam Mỹ có sản lợng chiếm 0.02% toàn thế giới. Nhiều nhất là 2
nớc Achentina, Braxin.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, trên thế giới có 28 nớc ở Châu
Phi, 15 nớc Châu á, 8 nớc Châu Mỹ, 2 nớc Châu Âu và 1 nớc Châu Đại
Dơng có trồng lạc với diện tích 19.775.000 ha. Năng suất lạc quả đạt trung
bình 9,55 tạ/ha và tổng sản lợng 18.950.000 tấn. ở thời kỳ này Châu á dẫn
đầu về diện tích và tổng sản lợng lạc. Các nớc dẫn đầu về năng suất lạc
của thế giới là: Ixraen (40,2 tạ/ha), Thổ Nhĩ Kỳ (27,27 tạ/ha, Hy Lạp (24,12
tạ/ha), Nhật Bản (19,84 tạ/ha), Trung Quốc (12,49 tạ/ha).

2001
25.232
14,32
36.124
2002
25.864
13,34
34.500
2003
26.188
13,49
35.327
2004
26.376
13,67
36.055
2005
25.217
14,47
36.429
(Nguồn: FAO STAT Database Results, 2005)
Số liệu bảng 1 cho chúng ta thấy diện tích trồng lạc của thế giới có xu
hớng tăng nhng cha phải là nhiều. Từ năm 2000 - 2001 tăng mạnh, năm
2001 so với năm 2000 tăng 2.096 triệu ha. Từ năm 2001 đến 2004 diện tích
tăng không nhiều (tăng 1.146 triệu ha). Và đến năm 2005 diện tích trồng
lạc thế giới giảm xuống 1.159 triệu ha so với năm 2004. Diện tích giảm do
nhiều nguyên nhân nhng chủ yếu là ở Châu á nhiều diện tích trồng lạc
đã chuyển sang trồng đậu tơng và một số cây khác.
Năng suất lạc bình quần của thế giới không ổn định qua các năm do
nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân khí hậu, thời tiết thay

đóng góp 67% sản lợng lạc của thế giới. Sản lợng lạc của vùng này bị hạn
chế bởi những yếu tố kinh tế, xã hội, sinh học và môi trờng. Tơng lai cây
lạc phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu tìm ra giải pháp đối với những hạn
chế trên và kết quả của sự chuyển giao công nghệ mới. Các nớc trồng lạc
trên thế giới tuỳ theo điều kiện riêng của mình về cơ sở vật chất, kỷ thuật,
trình độ nghiêm cứu khoa học và mục đích sản xuất mà có các công trình
nghiên cứu và giải pháp khác nhau để nâng cao diện tích, năng suất lạc.
Sản lợng lạc thế giới năm 1950 đạt 20 triệu tấn quả, đến năm 1980
tổng sản lợng lạc quả là 18,901 triệu tấn và năm 2000 đạt 34,645 triệu tấn.
Trong vài năm gần đây sản lợng lạc của thế giới có nhiều thay đổi, trong 2
năm 2000 - 2001 sản lợng từ 34,4 triệu tấn tăng lên 36,1 triệu tấn. Nhng
từ năm 2001- 2002 lại có phần giảm sút còn 24,5 triệu tấn do diện tích và
năng suất bình quân của thế giới có sự biến động dẫn đến sản lợng lạc thế
giới cũng bị dao động. Đến năm 2004 sản lợng lạc thế giới có bớc tăng
vọt từ 34,5 triệu tấn lên 36 triệu tấn vì diện tích lạc đang đợc mở rộng và
năng suất tăng lên (13,67 tạ/ha). Năm 2005 sản lợng lạc thế giới tiếp tục
tăng lên 36,492 triệu tấn. Nhng niên vụ 2006 - 2007 sản lợng lạc thế giới
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
8
chỉ đạt 32,52 triệu tấn, giảm 3,972 triệu tấn so với năm 2005. Sự giảm sản
lợng này do nhiều nguyên nhân nhng chủ yếu do diện tích trồng lạc đợc
chuyển sang trồng một số cây đậu đỗ khác.
Nhìn chung diện tích, sản lợng trồng lạc thế giới có nhiều năm giảm
so với năm trớc nhng sự giảm đó chỉ trong một thời gian ngắn sau đó lại
tiếp tục tăng trở lại. Điều đó chứng tỏ cây lạc thế giới hiện nay và trong

2003
2003/
2004
2001/
2002
2002/
2003
2003/
2004
2001/
2002
2002/
2003
2003/
2004
Thế giới
23,16
21,34
22,73
1,45
1,42
1,47
33,63
30,31
33,45
ấn Độ
8,9
6,8
8,0
0,93

0,35
0,56
0,9
0,26
0,45
Indonexia
0,65
0,65
0,65
1,59
1,59
1,6
1,03
1,04
1,04
Myanma
0,59
0,58
0,59
1,25
1,21
1,2
0,73
0,7
0,71
Sudan
0,55
0,55
0,55
0,67

Trung Quốc là nớc đứng thứ 2 thế giới (sau ấn Độ) về diện tích
trồng lạc với trên 5 triệu ha, song năng suất lạc của Trung Quốc đạt bình
quân cao nhất khu vực 2,98 tấn/ha (2004). Vào những năm cuối của thế kỷ
XX, cây lạc Trung Quốc có bớc phát triển nhanh về năng suất. Vào những
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
10
năm này diện tích trồng lạc của Trung Quốc tăng không nhiều so với thời
kỳ trớc đó chỉ đạt trên 3 triệu ha (chiếm khoảng 16% tổng diện tích trồng
lạc của thế giới) nhng sản lợng đạt trên 8 triệu tấn quả, chiếm 34,1% tổng
sản lợng lạc thế giới. Năng suất lạc trung bình của Trung Quốc năm 1960
chỉ đạt 14 tạ/ha nhng đến năm 1994 đạt 26,9 tạ/ha, tăng so với năm 1960
là 135% và đến năm 2002 năng suất đạt 29 tạ/ha, sản lợng đạt 14.556.600
tấn và niên vụ 2006 - 2007 sản lợng lạc của Trung Quốc đạt 14,61 triệu
tấn. Sở dĩ Trung Quốc đã đa đợc năng suất tăng nhanh là nhờ áp dụng
rộng rãi trong sản xuất các giống lạc cải tiến và áp dụng đồng bộ các biện
pháp kỹ thuật thâm canh. Là nớc có nhiều thành tựu nổi bật trong việc
tăng năng suất lạc. Theo các nhà khoa học Trung Quốc và thế giới thì thành
tựu nói trên đạt đợc là nhờ chiến lợc đẩy mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật
trồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn của cây trồng trong sản xuất.
Trung Quốc là nớc đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu và
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Trong nhiều năm qua đã có tới 60 viện, trựờng,
trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc triển khai các chơng trình nghiên
cứu trên cây lạc. Cùng với việc đa các giống có năng suất cao, chống chịu
tốt thì các biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao đã đợc phát triển và
áp dụng rộng rãi. Các biện pháp đó là cày sâu, bón phân cân đối, trồng dày

Cùng với việc đa các giống có năng suất cao, chống chịu tốt thì các
biện pháp kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao đã đợc phát triển và áp dụng
rộng rãi.
Làm tiền đề cho sản xuất phát triển, mặt hàng lạc xuất khẩu trở thành
nguồn thu ngoại tệ lớn cho một số nớc đặc biệt là các nớc đang phát triển.
Lu lợng lạc xuất khẩu hằng năm trên thế giới từ 1,3 - 1,7 triệu tấn lạc quả,
350 - 400 ngàn tấn dầu. Năm 2006 - 2007 xuất khẩu lạc đạt 2,2 triệu tấn.
Yêu cầu nhập khẩu về lạc và các sản phẩm từ lạc cũng tăng lên nhiều ở
Châu Âu. Điều này có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế của nhiều nớc đang
phát triển trong đó lạc giữ vai trò quan trọng. ở Xênêgan, lạc cung cấp 3/4
thu nhập của ngời dân và chiếm 60% giá trị xuất khẩu. ở Nigieria lạc và
các sản phẩm chế biến từ lạc thờng chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu.
2. Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
Với những u điểm nổi bật là cây trồng bồi bổ cho đất, có giá trị kinh
tế cao, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia.Vì
vậy những năm gần đây nhiều nớc trên thế giới đã đầu t sản xuất theo
vùng chuyên canh, tập trung nghiên cứu để tạo ra các giống lạc mới có năng
suất cao. Nhng nhìn chung việc đầu t nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ
khoa học giữa các nớc trên thế giới không giống nhau. Đều tuỳ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tập quán canh tác cũng nh điều kiện cụ
thể của từng vùng, từng nớc.
Trung Quốc là nớc có nhiều thành tựu nhất trong phát triển sản xuất
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
12
lạc. Ngay từ những năm 90 công tác thu thập nguồn gen, đánh giá bảo quản

Bisa (ấn Độ) tạo ra từ tổ hợp lai (BAU x ML3).
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
13
Giống BAUB có vỏ lụa màu đỏ rất hấp dẫn, năng suất cao (đạt 36
tạ/ha), thời gian sinh trởng 125 ngày, có khả năng kháng trung bình với
nấm acpea, gillus, có đủ một số chỉ tiêu cần thiết cho lạc xuất khẩu đồng
thời có tính thích ứng rộng. Ngoài ra có 3 giống lạc mới đợc công nhận ở
Guarat đó là giống GG5, GG20, GG13 do trờng đại học Gujarat chọn tạo.
Giống GG5, chọn tạo từ tổ hợp lai 27-5-1 x JL24 thuộc giống ngắn
ngày, thời gian sinh trởng nhanh, quả có độ đồng đều cao, cây mọc thẳng,
quả 2 hạt mà không có eo, khối lợng 100 hạt là 46g, vỏ lạc màu hồng, tỷ lệ
nhân là 73,7%, hàm lợng dầu là 84,4%, năng suất trung bình là 30 tạ/ha.
Giống này không có đặc tính ngủ nghỉ tơi.
Giống GG20, đợc chọn từ tổ hợp lai GAUG x R33-1 là giống ngắn
ngày (TGST 109 ngày), hạt có độ đồng đều và tỷ lệ hạt hoàn thiện cao, quả
có 2 hạt, eo quả trung bình, khối lợng 100 hạt 65,2g, tỷ lệ nhân 73,4%,
hàm lợng dầu 50%, năng suất bình quân đạt 32 - 36 tạ/ha.
Tại Indonesia cũng đã tập trung lựa chọn những giống có năng suất
cao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng với bệnh héo xanh do vi khuẩn, đốm
lá và gỉ sắt. Các giống có triển vọng đợc đa vào sản suất từ 1991 là
Mabese, Badat và Kmodo.
Từ những thông tin trên chúng ta thấy các nớc trồng lạc trên thế giới
có sản lợng lạc cao đều là những nớc chú ý đầu t nghiên cứu ứng dụng
khoa học kỹ thuật trong chọn giống và sản xuất lạc.
Gần đây, do có nhiều thành tựu trong công tác lai tạo giống, nên

Từ năm 1990 - 1998 tốc độ tăng năng suất đạt 3,8%/năm, cao hơn
tăng diện tích (3,7% năm). Sản lợng tăng 7,7%.
Những năm gần đây, nhà nớc có chơng trình phát triển cây lạc vì
vậy diện tích trồng lạc cũng tăng lên rõ rệt. Năm 2005, diện tích trồng lạc
cả nớc đạt 269.900 ha, tăng gấp 4 lần so với năm 1974 (76460 ha), năng
suất đạt 17,98 tạ/ha, sản lợng ớc đạt 485.500 tấn.
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
15
Bảng 3: Diện tích và sản lợng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2000 2005
2000
2001
2002
2003
2004
2005
SL
(1000
tấn)
DT
(1000
ha)
SL
(1000
tấn)
DT

244,6
400,4
246,7
406,2
243,8
469,0
263,7
485,5
269,9
Vùng đồng bằng
Sông Hồng
53,3
30,2
56,4
30,9
58,3
30,6
64,7
31,4
75,7
33,6
75,2
34,6
Vùng Đông Bắc
35,4
31,6
40,7
32,5
39,5
31,5

133,6
82,6
Vùng duyên hải
Nam Trung Bộ
35,2
26,3
35,3
26,1
35,1
24,1
36,8
23,1
38,7
24,5
43,7
25,2
Vùng Tây Nguyên
25,5
21,9
28,8
23,0
27,8
25,4
33,8
24,3
17,3
25,3
32,0
24,8
Vùng Đông Nam Bộ


Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
16
Qua bảng 3 ta thấy trong 5 năm gần đây 2000 - 2005 diện tích trồng
lạc của nớc ta luôn biến động (từ 244,9 ngàn ha đến 269,9 ngàn ha ).
Năng suất lạc nớc ta cũng không ổn định, một phần do điều kiện
canh tác, khí hậu, và một phần do sử dụng giống. Tuy nhiên trong 5 năm
gần đây năng suất lạc bình quân của Việt Nam đã tăng đáng kể (từ 14,505
tạ/ha lên 17,988 tạ/ha). Nh vậy nớc ta luôn có năng suất bình quân cao
hơn năng suất lạc bình quân của thế giới (của thế giới năm 2005 năng suất
bình quân 14,471 tạ/ha ).
Cùng với việc tăng năng suất, sản lợng lạc của Việt Nam trong
những năm gần đây cũng tăng lên đáng kể. Tăng từ 355,3 nghìn tấn năm
2000 lên 485,5 nghìn tấn năm 2005. Sở dĩ năng suất lạc của nớc ta không
ngừng tăng lên là nhờ đã chọn và nhập nội những giống lạc mới có năng
suất cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh khá và
dần dần thay thế các giống địa phơng có năng suất thấp. Mặt khác việc áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới kết hợp với thâm canh cao đã góp
phần đáng kể trong việc tăng năng suất trong những năm gần đây.
Hiện nay, ở Việt Nam lạc đang đợc trồng hầu hết ở các tỉnh thành và
đợc phân thành 8 vùng chính.
Vùng đồng bằng Sông Hồng: Lạc đợc trồng chủ yếu ở Vĩnh Phúc,
Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình
Vùng Đông Bắc: Trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ.
Vùng Tây Bắc: Phân bố chủ yếu ở Điện Biên, Sơn La. Đây là vùng có
năng suất lạc thấp nhất cả nớc chỉ đạt 12,79 tạ/ha (năm 2005).
Vùng Bắc Trung Bộ: Là vùng trọng điểm trồng lạc của Miền Bắc.
Đây là vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất cả nớc với diện tích 82,6 ngàn
ha (năm 2005). Tập trung chủ yếu ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.

2. Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam.
Cây lạc đợc đợc trồng ở Việt Nam với nhiều vùng sinh thái khác
nhau. Năng suất lạc thờng thấp do nhiều nguyên nhân: Thiếu giống có
năng suất, chất lợng cao thích ứng với từng vùng, sâu bệnh phá hoại, sự
thay đổi về điều kiện khí hậu ; thiếu kỹ thuật canh tác và đầu t thấp là
những nguyên nhân cơ bản làm năng suất lạc nớc ta cha cao. Do vậy hiện
nay mục tiêu của các nhà chọn tạo là tạo ra các giống có năng suất phẩm
chất cao chống chịu các loại bệnh thờng phát sinh mạnh và phù hợp với
điều kiện sinh thái của vùng.
Hiện nay nhờ việc ứng dụng các phơng pháp chọn tạo khác nhau
nh lai hữu tính, phân lập chọn lọc, gây đột biến cùng với việc ứng dụng
nhiều thành tựu về di truyền học trong chọn tạo giống đã làm cho công tác
chọn tạo giống lạc phát triển lên nhanh.
Từ năm 1999 - 2000 trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ
viện KHKT nông nghiệp Việt Nam đã nhập trên 1894 giống từ IRISTAT,
250 mẫu nghiên cứu tại viện KHKT Việt Nam. Trong đó có 150 mẫu nhập
từ viện nghiên cứu cây trồng toàn liên bang mang tên VAVILOP, 24 mẫu
nhập từ IRSTAT. Từ nguồn giống đó các cơ sở nghiên cứu nh trung tâm
nghiên cứu đậu đỗ Định Tờng, Viện cây lơng thực - thực phẩm, Viện
KHKT nông nghiệp Việt Nam, viện di truyền đã nghiên cứu, khảo sát, đánh
giá tập đoàn giống dựa theo hớng dẫn của IRISTAT và có thể phân ra 3
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
18
nhóm nh sau:
+ Giống chín sớm: Thời gian sinh trởng 80 - 100 ngày.

Giống L12. Là giống chịu hạn, đợc chọn lọc từ giống nhập nội của
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
19
Trung Quốc. Thời gian sinh trởng ở vụ xuân là 110 - 120 ngày, vụ thu
đông là 95 - 110 ngày. Năng suất bình quân đạt 30 - 35 tạ/ha, thích ứng
rộng.
Giống LDH01. Là giống ngắn ngày, đợc chọn lọc từ giống lạc
Trung Quốc do viện KHKT nông nghiệp Việt Nam chọn lọc. Giống có thời
gian sinh trởng vụ xuân 95 - 100 ngày, vụ hè là 90 ngày. Năng suất trung
bình là 35 - 40 tạ/ha, tỷ lệ nhân/quả là 70 - 72%, có tính thích ứng rộng.
Giống 4329. Đợc tạo ra bằng cách xử lý đột biến phóng xạ tia gama
trên giống lạc Hoa do viện KHKT nông nghiệp thực hiện. Cây sinh trởng
khoẻ, thời gian sinh trởng 120 - 135 ngày, năng suất đạt trung bình 19 -
21 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 24 - 27 tạ/ha. Hạt to đều, có khả năng chống
chịu khá với bệnh thối nhũn, bệnh lở cổ rễ.
Giống V79. Đợc chọn tạo bằng cách gây đột biến giống Bạch Sa với
tia rơnghen do trờng Đại Học Nông Nghiệp I và viện KHKT nông nghiệp
Việt Nam thực hiện. Giống ra hoa tập trung, thời gian sinh trởng vụ xuân
là 128 - 135 ngày, năng xuất trung bình 27 - 28 tạ/ha, tỷ lệ nhân 74%, hàm
lợng dầu trong hạt 48 - 52%, protein 24%. Trồng thích hợp trên đất thịt
nhẹ, đất bạc màu, đất bãi không bồi hằng năm.
Giống lạc L20. Là giống nhập nội từ Trung Quốc, giống đợc chọn
lọc từ tổ hợp lai BG78 x FRSS bằng phơng pháp quần thể. Giống đợc
công nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật Bắc Trung Bộ, năng suất trung bình
đạt 36 - 38 tạ/ha, thâm canh tốt năng suất có thể đạt 42 tạ/ha. Là giống chịu

nilông cho lạc đợc coi là khâu kỹ thuật quan trọng nâng cao năng suất lạc
lên rất nhiều. Biện pháp này cho kết quả cao không những ở những vùng có
khí hậu lạnh, mà còn cho kết quả tốt ở những vùng á nhiệt đới trên mọi loại
đất, với mọi giống lạc khác nhau gieo ở vụ mùa, vụ xuân hay vụ hè.
Từ những thông tin trên cho thấy công tác nghiên cứu chọn tạo giống
và kỹ thuật thâm canh lạc ở Việt Nam hiện nay đã đạt đợc những thành
công nhất định góp phần đa cây lạc lên vị thế quan trọng trong hệ thống
nông nghiệp nớc ta. Và trong tơng lai không xa nớc ta sẽ rút ngắn
khoảng cách về trình độ sản xuất lạc so với các nớc trồng lạc tiến tiến trên
thế giới.
3. Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây lạc
3.1. Đặc điểm thực vật học
- Rễ lạc
Rễ lạc thuộc loại rễ cọc gồm 3 phần là cổ rễ, rễ chính và rễ phụ. Chiều
dài của rễ cấp 1 tăng nhanh từ khi cây có 6 - 7 lá đến khi hết hoa rỗ, và tăng
nhanh ở thời kỳ lạc nở hoa, sau đó chậm lại dần. Phần lớn rễ tập trung ở
phần đất sâu từ 3 - 18 cm. Lúc cây có 9 lá trọng lợng của rễ bằng 60% và
lúc cây ra hoa trọng lợng bằng 10% trọng lợng cả cây. Trọng lợng của
bộ rễ lạc thay đổi rất lớn, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và kỹ thuật canh
tác.
Trên rễ lạc có đặc điểm không có lớp biểu bì, không có lông hút thật.
Nớc và chất dinh dỡng vào cây đợc đa trực tiếp qua nhu mô vỏ. Khi cây
có 4 lá, rễ phát tiết ra một số chất thu hút vi khuẩn Rhizobium lại gần để
hình thành nên nốt sần. Các vi khuẩn này ban đầu sống tự do trong đất. Khi
rễ phát triển, nhờ những chất do cây họ đậu tiết ra, chúng theo đầu chóp của
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt

đêm khép lại. Trong vụ xuân, từ lúc lá thứ nhất và thứ hai nhú ra đến khi
phiến lá mở phẳng mất khoảng 3 ngày, lá thứ 3 mất khoảng 4 ngày rồi sau
đó 5 - 6 ngày lại thêm một lá. Số lợng lá thay đổi tuỳ theo thời vụ. Trên
thân chính cây lạc số lá có thể 20 - 28 lá. Tổng số lá trên cây có thể tới 50 -
80 lá vào thời kỳ thu hoạch.
- Hoa và quả lạc
Hoa cây lạc là hoa đầy đủ các bộ phận, có đầy đủ cả tính đực và tính
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
22
cái, bầu hoa ở trên đài. Cuống hoa mọc ra từ nách lá. Hoa mọc riêng lẻ từng
chiếc một hoặc mọc thành từng chùm 2 - 7 hoa. Lạc cũng là cây tự thụ phấn
nghiêm ngặt, nhng tỷ lệ ngoại phấn cũng tới 0,25%, khi hoa nở cây đã thụ
phấn xong. Hoa nở đợc 11 ngày đầu tia chạm tới mặt đất, sau đó 7 ngày
nữa cắm sâu xuống 3 - 5 cm rồi quay ngang. Thời gian ra hoa của cây lạc
thờng dài 25 - 40 ngày tuỳ theo đặc điểm của giống và điều kiện bên ngoài
cũng nh kỹ thuật canh tác. Số lợng hoa trên cây có thể từ 80 - 400 hoa đối
với thân đứng và từ 300 - 1000 hoa đối với thân bò.
Quả lạc thuộc loại quả khô khó tách, có eo hoặc không có eo. Mỗi
quả có từ 1- 3 hạt tuỳ từng giống. Khi hoa nở đợc 30 ngày vỏ quả hình
thành xong, 60 ngày hạt lạc hình thành xong. Vỏ quả lạc có độ dày, mỏng
không đều nhau.
3.2. Yêu cầu sinh thái của cây lạc
3.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Lạc là cây có nguồn gốc từ nhiệt đới, phát triển thích hợp trong điều
kiện khí hậu ấm áp. Nhiệt độ thích hợp cho cho quá trình sinh trởng của

trởng sinh dỡng thuận lợi nhất đặc biệt là sự phân cành và phát triển bộ rễ;
thời gian trớc ra hoa của cây lạc đợc kéo dài thuận lợi cho khả năng tích
luỹ chất khô ở các bộ phân từ đó tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
23
cơ quan sinh sản. Nếu nhiệt độ trong thời kỳ này quá cao 30 - 35
0
C sẽ làm
rút ngắn thời kỳ này lại, lợng chất khô đợc tạo ra ít vì vậy làm số hoa, số
quả ít, trọng lợng giảm.
+ ở thời kỳ sinh trởng sinh thực, yêu cầu nhiệt độ tơng đối cao.
Thời gian ra hoa và tổng số hoa, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiệt độ thời
kỳ này. Theo Giller (1968) nhiệt độ thuận lợi cho việc ra hoa của cây lạc là
24 - 33
0
C. Tỷ lệ hoa có ích đạt cao nhất (21%) khi nhiệt độ ban ngày là
29
0
C, ban đêm là 23
0
C. Nhiệt độ vợt quá 34 - 35
0
C làm giảm số hoa hữu
hiệu. Nhiệt độ thấp nhất cho quá trình ra hoa kết quả của lạc là 15 - 20
0

đối với việc rút ngắn thời gian chiếu sáng. Số giờ nắng trong ngày có ảnh
hởng rõ rệt đến sự sinh trởng và phát dục của lạc. Quá trình nở hoa thuận
lợi khi giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.
Trong điều kiện vụ xuân ở các tỉnh phía Bắc nớc ta, nên bố trí thời
vụ để lạc nở hoa vào tháng 4. Nếu ra hoa sớm vào tháng 3, số giờ nắng thấp
làm giảm số hoa nở, kéo dài thời gian nở hoa, làm giảm tổng số hoa.
3.2.3 Yêu cầu về nớc
Nớc là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu đảm bảo cho sinh trởng và phát
triển của cây lạc. Tổng nhu cầu về nớc trong suốt thời gian sinh trởng của
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm



Khoa Trồng Trọt
SV: Nguyễn Văn Du Khóa Luận Tốt Nghiệp
24
lạc là 450 - 700 mm, nhu cầu này có thể thay đổi tuỳ thuộc vào từng giai
đoạn sinh trởng, giống khác nhau. Nhu cầu nớc lớn nhất là thời kỳ sinh
trởng sinh thực và cao nhất ở thời kỳ ra hoa hình thành quả và hạt. Nếu ở
thời kỳ hình thành hoa bị thiếu nớc thì số lợng hoa bị giảm nhiều, các đợt
hoa rỗ không hình thành đợc, thời kỳ ra hoa kéo dài, qúa trình thụ phấn bị
trở ngại, tỉ lệ hoa hữu hiệu giảm. Tổng lợng ma và sự phân bố ma trong
suốt chu kỳ sống của lạc là tác nhân khí hậu có ảnh hởng lớn nhất đến cây
lạc. Nhu cầu về lợng ma trong vụ lạc còn phụ thuộc vào khả năng giữ
nớc, thoát nớc của đất, địa hình của đồng ruộng.
- Yêu cầu về đất đai
Lạc có khả năng thích ứng lớn đối với các loại đất khác nhau, lạc
không yêu cầu khắt khe đối với các đặc tính của đất. Các loại đất từ đất cát
nhẹ đến đất sét nặng đều có thể trồng đợc lạc nhng đối với cây lạc thích
hợp hơn cả là đất cát pha. Đất trồng lạc tốt nhất là các chân đất thoát nớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status