Kỹ năng nghe hiểu trong tiếng Anh, những khó khăn và biện pháp khắc phục
23.7.2013
(ĐHVH) - Ngày nay, tiếng Anh là thứ tiếng thông dụng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Đó là ngôn ngữ của
khoa học kỹ thuật, công nghệ, thương mại và thông tin trên toàn cầu. Tiếng Anh đã trở thành môn học bắt buộc
trong hầu hết các trường học ở Việt Nam, đặc biệt là trong trường đại học. Trên thực tế, trong quá trình học tiếng
Anh, sinh viên gặp phải rất nhiều khó khăn và khó khăn phổ biến nhất là những khó khăn trong quá trình học kỹ
năng nghe hiểu. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập những khó khăn khi nghe nhìn từ quan điểm người
học, đồng thời tìm ra nguyên nhân của chúng để từ đó đưa ra một số biện pháp khắc phục nhằm giúp người học vượt
qua khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi mới học nghe.
1. Định nghĩa về nghe hiểu
Định nghĩa về nghe hiểu được các nhà khoa học đưa ra theo các cách khác nhau.
Theo Field (1998:38) thì ‘Nghe là một quá trình trí tuệ không nhìn thấy được, do đó rất khó mô tả. Người nghe phải
phân biệt được các âm, hiểu được từ vựng và cấu trúc ngữ pháp, nắm được trọng âm và ý định của người nói, có
thể nhớ lại và hiểu được nó trong ngữ cảnh văn hóa-xã hội của phát ngôn.’
Anderson & Lynch (1988: 21) đưa ra định nghĩa về nghe hiểu như sau:
‘Nghe hiểu nghĩa là hiểu những gì mà người nói đã nói. Người nghe có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
nghe bằng cách vận dụng kiến thức đa dạng của mình phân tích những gì anh ta nghe được để có thể hiểu phát
ngôn của người nói.’
Wolvin & Coakley (1985) định nghĩa nghe theo cách đơn giản hơn: ‘Nghe là quá trình cơ quan thính giác tiếp
nhận, xử lý và xác định được thông điệp của lời nói.’
Định nghĩa về nghe hiểu, theo Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm (1997) trong ‘Từ điển tiếng Việt’ được đưa ra cụ thể
như sau: ‘Nghe là một quá trình trong đó thính giác tiếp nhận những âm thanh bên ngoài và chuyển nó đến hệ
thống thần kinh trung ương. Tại đây, những âm thanh này được phân tích, chuyển thành những tín hiệu và được
truyền đến các giác quan giúp hình thành những phản xạ của con người đối với những âm thanh đó.’
Các định nghĩa trên cho thấy nghe hiểu là một kỹ năng giải quyết vấn đề (problem-solving) phức tạp. Nhiệm vụ của
nghe hiểu không chỉ là tiếp nhận âm thanh mà nó còn đòi hỏi sự phân tích và xác định được thông điệp của lời nói.
2. Những khó khăn thường gặp trong quá trình học kỹ năng Nghe
Thông thường, con người luôn nghe với một mục đích nhất định. Nếu mục đích của nghe chỉ để thư giãn, giải trí
nhằm giải tỏa căng thẳng như nghe nhạc chẳng hạn thì người nghe hầu như không cần phải có bất kỳ một kỹ năng
nào cả. Tuy nhiên, nếu mục đích nghe là để thu nhận thông tin, đặc biệt là khi nghe băng, đĩa ngoại ngữ để học tiếng
thì người học cần phải có một số kỹ năng như: phán đoán trước khi nghe, tập trung trong khi nghe, suy ra thông tin
nói.
2.2. Một số khó khăn phổ biến của sinh viên không chuyên khi học nghe
Bằng cách liệt kê ra những khó khăn của người học đối với môn nghe theo quan điểm của các nhà khoa học trình
bày ở trên, chúng tôi đã xây dựng nên những câu hỏi điều tra nhằm thu thập thông tin thực tế phục vụ cho quá trình
nghiên cứu tìm ra những khó khăn mà sinh viên không chuyên thường gặp phải trong quá trình học kỹ năng nghe.
Trên thực tế, theo kết quả khảo sát gần 80 sinh viên năm thứ hai theo học khoa Văn hóa Du lịch trường Đại học Văn
hóa Hà Nội thì có ba khó khăn phổ biến nhất trong việc học nghe là: (1) Không nhận ra các âm tiếng Anh (49%),
(2) Thiếu tập trung khi nghe (57%), (3) Khó có thể nắm bắt ý chính của bài nghe (71%).
3. Nguyên nhân của những khó khăn khi nghe
3.1. Nguyên nhân của việc không nhận ra các âm tiếng Anh
Khi được hỏi về nguyên nhân của việc gặp khó khăn với các âm trong tiếng Anh, 31% số người tham gia điều tra
cho rằng khó khăn này là do họ không phân biệt được các từ đồng âm, đặc biệt là các từ có cách phát âm gần giống
nhau. 28% số sinh viên được hỏi nhận định việc nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định là nguyên nhân
chủ yếu. Đặc biệt là 40% số sinh viên tham gia điều tra cho rằng họ không nhận ra thông tin chính cần nghe là do
một vài đặc điểm trong phát âm chuỗi lời nói (connected speech) trong tiếng Anh như: hiện tượng nuốt âm (elision),
dạng yếu trong phát âm một số từ chức năng (weak form), hiện tượng đồng hóa âm vị (assimilation), hiện tượng rút
gọn của từ (contraction), hiện tượng nối âm (linking), Như vậy, việc người học không nhận ra các âm trong tiếng
Anh chủ yếu là do (1) không phân biệt được các từ đồng âm và các từ có cách phát âm gần giống nhau, (2)
nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định, đặc biệt là do (3) một số ảnh hưởng về phát âm chuỗi lời nói
trong tiếng Anh.
3.2. Nguyên nhân của việc thiếu tập trung khi nghe
Số liệu thu được từ cuộc điều tra cho thấy 30% số sinh viên cho rằng nguyên nhân của việc thiếu tập trung khi nghe
là do sức khỏe không tốt trong khi số lượng sinh viên nhiều hơn (37%) coi việc thiếu kinh nghiệm khi nghe là
nguyên nhân làm cho họ càng lúc càng cảm thấy khó tập trung vào bài nghe. Trong khi đó 32% số sinh viên tham
gia điều tra nghĩ rằng khả năng kém tập trung của họ vào bài nghe là do cả hai nguyên nhân trên. Từ những số liệu
này có thể kết luận rằng người nghe thường mất khả năng tập trung nghe khi (1) tình trạng sức khỏe không tốt và
(2) thiếu kinh nghiệm trong nghe hiểu.
3.3. Nguyên nhân của việc không thể nắm bắt ý chính của bài nghe
Theo số liệu thu được thì đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra khó khăn trong khi nghe cho người học (71%).
Khi được hỏi về nguyên nhân của khó khăn này, 36% số người tham gia cho rằng họ khó có thể nắm bắt ý chính của
4.1.2. Cách khắc phục nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định
Trong tiếng Anh, để phủ định, người ta thường dùng các trợ động từ trong câu. Ngoài ra, dạng phủ định của từ cũng
có thể được tạo nên nhờ các phụ tố (tiền tố hoặc hậu tố) như: im- trong impossible, il- trong illegal, dis- trong
dissatisfied, -less trong careless. Do đó, để tránh nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định trong bài nghe,
người học cần đặc biệt chú ý đến các phụ tố, các trợ động từ cũng như một số yếu tố khác như giọng điệu của người
nói và ngữ cảnh của câu.
Ví dụ: (TOEFL 4 in 1 CD-ROM, Longman Test 1)
Question: Which answer has the closest meaning to the statement?
Tapescript: The researcher isn’t at all dissatisfied with his findings.
Answer choices: a. He is pleased with his result.
b. He isn’t satisfied with all his work.
c. He found that all his work wasn’t satisfactory.
d. He satisfied all the panel of his findings.
Trong ví dụ này người nghe cần phải phân biệt được hai từ ‘satisfied’ và ‘disatisfied’ để chọn phương án trả lời
đúng. Nếu chú ý các lựa chọn cho trước (answer choices) trước khi nghe thì người nghe có thể phát hiện ra ngay từ
‘satisfied’ không phải là từ đúng cần nghe vì nghĩa của đáp án b và c là giống nhau. Ngoài ra, câu nói được phủ định
hai lần nên nó mang nghĩa khẳng định. Thêm vào đó, câu trả lời d (the panel of his findings) không mang nghĩa như
câu nói trong đĩa nên câu a sẽ là câu trả lời đúng.
4.1.3. Cách khắc phục một số ảnh hưởng về cách phát âm chuỗi lời nói trong tiếng Anh
Anne Anderson & Tony Lynch (1988) nhận định rằng một số ảnh hưởng về cách phát âm chuỗi lời nói trong tiếng
Anh như dạng yếu trong phát âm một số từ chức năng (weak forms), hiện tượng rút gọn của từ (contractions), hiện
tượng nuốt âm (elision), hiện tượng nối âm (linking), gây cho người học khá nhiều khó khăn khi nghe, đặc biệt là
với những người mới học ngoại ngữ. Do đó, sinh viên nên làm quen với những hiện tượng này bằng cách tìm học
những ví dụ thường gặp và đặc trưng cho từng hiện tượng, tập phát âm các cụm từ đó, viết ra nhật ký học tập để ghi
nhớ.
Ví dụ: 1. Cách phát âm dạng yếu (weak forms) thường gặp trong chuỗi lời nói nhanh và đôi khi không mang tính
nghi thức như: wanna, hafta, kuz, gonna, dunno, don’cha know. Đây là hình thức rút gọn của ‘want to, have to,
because, going to, don’t know, don’t you know.’
2. ‘kind of’ và ‘sort of’ đôi khi được rút gọn thành ‘kinda’ và ‘sorta’
3. Những trợ động từ ‘would like, can, may, will, would, ought to, so on and so forth’ cũng thường được rút
cần ghi nhớ sẽ giảm đi, người nghe sẽ phần nào phân biệt được những thông tin cần nghe với những thông tin không
quan trọng khác trong bài.
4.3.2. Cách suy luận được ý chính của bài nghe qua từ ngữ quan trọng
Những từ ngữ quan trọng trong bài là những từ ngữ mà dựa vào đó, người nghe có thể suy ra ý chính của bài nghe.
Thường thì những từ này được nhấn mạnh trong câu hoặc có thể được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài. Chính vì
vậy, người nghe nên dựa vào một số dấu hiệu ngôn từ (discourse markers) này để nắm bắt được ý chính của bài
nghe.
Ví du:
Những cụm từ dùng để liệt kê ý chính là: I would like to emphasize, The general point you must remember is, It is
important to note that, I repeat that, Another thing is, Finally, That is, Now,
Những cụm từ được sử dụng để liệt kê ví dụ là: such as, Let me give you some examples, For example/ instance, I
might add, To illustrate thi spoint,
Những cụm từ thường dùng khi đề cập đến những vấn đề không quan trọng là: By the way, I might note in
passing,
Ngoài ra, để có thể ghi nhớ hết những thông tin quan trọng trong bài, người nghe cần có sự ghi chép (take notes).
Tuy nhiên, cần phải bố trí phần ghi chép cho hợp lý để dễ sử dụng và tránh gây nhầm lẫn.
Kết luận: Có thể nói rằng kỹ năng nghe có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ vì nó có tác
động rất tích cực đến các kỹ năng khác như nói, đọc, viết, giúp luyện phát âm và mở mang vốn từ vựng. Thực tế cho
thấy người học gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình nghe hiểu. Để khắc phục những khó khăn trên, người học
cần tìm ra nguyên nhân của chúng để từ đó có cách giải quyết hợp lý. Những giải pháp đưa ra trong bài viết này có
thể phát huy hiệu quả nếu được áp dụng một cách đúng đắn. Tuy nhiên, điều quan trọng là bản thân người học phải
kiên trì, bền bỉ, lựa chọn phương pháp thích hợp phù hợp với trình độ và hoàn cảnh của mình.
Tài liệu tham khảo
1. Anderson, A. & Lynch, T. (1988). Listening. Oxford. Oxford University Press.
2. Bàng, Nguyễn & Ngọc, Nguyễn Bá. (2002). A Course in TEFL Theory & Practice II. Đại học Ngoại ngữ
Hà Nội.
3. Field, J. (1998). Skills and Strategies: towards a new methodology for listening. Oxford. OUP.
4. Tom Hutchinson. (1999). Lifelines. Oxford University Press.
5. Underwood, M. (1989). Teaching listening. New York. Longman.