LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình hoạt động việc tạo ra của cait vật chất và giá trị tinh
thần cho xã hội, con người làm việc ở những điều kiện làm việc khác nhau,
nhưng cũng thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm và độc hại
phát sinh trong sản xuất. Các yếu tố này ảnh hưởng đến tĩnh mạng, sức
khoẻ người lao động và nguy cơ gây tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Vì vậy việc chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh
lao động cho người lao động là nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động .
Trong đó, bảo hộ lao động là hoạt động đồng bộ trên các mặt luật pháp , tổ
chức hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật. Nó gắn liền với hoạt
động sản xuất va công tác của con người. Nó phát triển phụ thuộc vào trình
độ kinh tế, khoa học kỹ thuật và yêu cầu phát triển của mỗi nước. Nhưng
dù ở xã hội nào đi chăng nữa thì “ Sản xuất phải an toàn, an toàn để sản
xuất” vẫn là mục tiêu trong sản xuất.
Là sinh viên khoa Quản lý lao động – Trường Đại học Lao động – Xã
hội. Để góp phần sức lực của mình vào sự phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước qua lĩnh vực bảo hộ lao động nói chung và công tác bảo hộ lao
động trong công ty nói riêng là nhờ việc nối tiếp học hỏi những người đi
trước, cùng với kiến thức nhà trường đã trang bị cho em trong thời gian học
tập tại trường với nhận thức đó, trong quá trình thực tập tại Công ty xây
dựng và tư vấn thiết kế BIC em đã đi sâu tìm hiểu vấn đề này và chọn đề
tài cho báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của mình “ Tăng cường công tác Bảo
hộ lao động tại Công ty xây dựng và tư vấn thiết bị BIC”
Báo cáo của em được hoàn thành với sự hướng dẫn sâu sát và khoa
học của thầy Hoàng Ngọc Thanh, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình các phòng
ban mà đặc biệt là các cô chú thuộc phòng Hành chính – Tài vụ. Song do
trình độ và thời gian có hạn nên báo cáo thực tập của em không tránh khỏi
những sai sót. Vậy em rất mong được sự góp ý của các thầy, cô giáo để báo
cáo của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
xác định được mục tiêu và hướng đi của mình trong lĩnh vực hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Từ khi thành lập đến nay, Công ty đã từng bước tự hoàn thiện và phát
triển cả về nhân lực và loại hình kinh doanh. Công ty đã ngày càng phát
triển khả năng, ưu thế trong lĩnh vực kinh doanh nhất là tư vấn xây dựng,
thẩm định dự án và xây dựng dân dựng công nghiệp, các công trình giao
thông và cấp thoát nước.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi , xí nghiệp đã phải cạnh tranh rất
khốc liệt với nhiều đơn vị khác và nhiều yếu tố khách quan ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh. Song với đội ngũ cán bộ công nhân viên đã đi vào
ổn định, đi sâu vào công tác chuyên môn nên đã dần tích luỹ được kinh
nghiệm trong công việc, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công
ty.
Qua gần 7 năm hoạt động, mặc dù công ty gặp rất nhiều khó khăn
nhưng tập thể cán bộ công nhân viên của công ty đã cố gắng phấn đấu,
phục vụ và đáp ứng được mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh của công ty. Từ
đó làm tăng nguồn thu cho công ty, thu nhập của cán bộ công nhân viên
của toàn công ty được nâng lên đáng kể, ngoài ra còn góp một phần không
nhỏ vào ngân sách Nhà nước, góp phần xây dựng đất nước nói chung và
thủ đô nói riêng ngày càng giàu đẹp.
Trong những năm tiếp theo đòi hỏi công ty phải tìm ra những định
hướng trong chiến lược phát triển kinh doanh.
1.2. Hệ thống chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của đơn vị.
3
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty cổ phần xây dựng và tư vần thiết kế BIC
4
GIÁM ĐỐC
Phòng vật
tư thiÕt bÞ
PGĐ hành
a) Giám đốc
- Phụ trách quản lý chung, quản lý đào toạ hoạt động kinh doanh của
công ty.
- Giám đốc công ty còn chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh tế
phát sinh tại đơn vị và chịu trách nhiệm về tính chính xac, pháp lý của mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quyết định trong việc bổ nhiệm trưởng phòng, phó phòng và các
chức danh lãnh đạo đối với các đơn vị trực thuộc.
- Tổ chức thanh tra, xử lý vị phạm nội quy, quy chế lao động.
b) Phó giám đôc kỹ thuật, kinh doanh
- Trực tiếp quản lý về kỹ thuật, công nghệ của các loại thiết bị, máy
móc và kỹ thuật thi công công trình nhằm đảm bảo an toàn trong thi công
sản xuất cũng như đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh. Phó
giám đốc còn phụ trách giúp việc cho giám đốc về kinh doanh, phải nắm
đựơc số lượng hàng hoá, thiết bị và chất lượng công trình.
c) Phòng kế hoạch, tài vụ, tổ chức hành chính.
- Duyệt phương án tổ chức sản xuất và sử dụng lao động, xét duyệtvà
ban hành khung định giá, quỹ tiền lương cho xí nghiệp.
- Quản lý hồ sơ nhân sự, sở Bảo hộ xã hội, sở Lao động, hợp đồng lao
động quản lý danh sách và mua bảo hiểm y tế cho cán bộ công nhân viên.
- Kiểm tra giám sát hướng dẫn việc trả lương cho cán bộ công nhân
viên và lao động hợp đồng theo đúng quy định.
* Phòng vật tư thiết bị
- Quản lý về vật tư máy móc như sắt, thép, xi măng, sỏi, cát…máy
cẩu, xúc… phục vụ cho việc thi công công trình.
* Phòng kỹ thuật thi công
- Phụ trách toàn bộ về phần kỹ thuật khi tiến hành thi công tại công
trình thu hồ sơ thi công, máy móc, thiết bị phục vụ thi công.
5
* Phòng tư vấn thiết kế
+ Lập hồ sơ mời thầu xây lắp và phân tích, đánh giá hồ sơ dự thầu,
xây lắp và lắp đặt thiết bị, giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị.
Và một số lĩnh vực khác
b) Đặc điểm về các yếu tố đầu vào (Vốn, thiết bị, lao động)
Hiện nay tài sản và lực lượng chủ yếu của xí nghiệp bao gồm 432 cán
bộ công nhân viên và công nhân (Số lao động công nhân và lao động phổ
thông có thể xê dịch).
Số vốn điều lệ (theo báo cáo tài chính) đến ngày 31/5/2007 là
9.000.000đ.
Trước cơ chế thị trường và sự đổi mới chung của cả nước, Công ty đã
tích cực đổi mới công nghệ, đầu tư cả về chiều sâu và chiều rộng với nhiều
loại máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho xây dựng và thi công
(xem bảng phụ lục).
Công ty đã không ngừng nâng cao, bồi dưỡng trình độ khoa học kỹ
thuật và nghiệp vụ chuyên môn trong quản lý, thiết kế và thi công cho đội
ngũ cán bộ công nhân viên nhằm đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất.
Lao động là công nhân kỹ thuật thì được công ty đào tạo nâng cao tay
nghề. Những điều này đã tạo cho công ty chữ “Tín” và có chỗ đứng vững
chắc trên thị trường, không những thế mà còn thu hút được rất nhiều các kỹ
sư, kiến trúc sư, công nhân kỹ thuật có tay nghề, kinh nghiêm lâu năm và
có tâm huyết với công cuộc xây dựng đổi mới của đất nước từ nhiều nơi.
Các công trình Công ty thiết kế thi công xây lắp đều đảm bảo chất lượng,
ký mỹ thuật và tiến bộ, đáp ứng nhiều nhu cầu cao của các chủ đầu tư nên
đã được chủ đầu tư trong và ngoài nước hài lòng có đánh giá cao.
7
c) Đặc điểm về quy trình công nghệ
d) Đặc điểm về các mặt hàng của doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ
sản phẩm
8
Chuẩn bÞ mặt bằng sản
a) Một số kết quả đạt được của Công ty năm 2007.
Năm 2007 Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Tư vấn thiết kế BIC
bước vào hoạt động kinh doanh với nhiệm vụ đặt ra hết sức khó khăn và
năm sau lại khó khăn hơn năm trước. Do có những phát sinh mới nên Công
ty phải tiếp tục triển khai và hoàn thiện các hạng mục kinh doanh để duy trì
đảm bảo được nhiệm kinh doanh theo các chỉ tiêu đã đặt ra và tậo trung
triển khai nội dung các bước công tác, sắp xếp, đổi mới xí nghiệp với một
gương mặt tiềm năng và phát triển.
Đứng trước những khó khăn, thử thách lớn trong hoạt động kinh
doanh có sự cạnh tranh rất quyết liệt của nền kinh tế thị trưòng và sự chi
phối của hội nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế. Thêm vào đó là ảnh
hưởng của giá cả của vật liệu, thiết bị…. Cùng với các chi phí kinh doanh
9
khác đều tăng mà giá cả bán sản phẩm, chi phí xây dựng không thể quá
cao. Vì vậy, đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
Tuy thời gian thành lập chưa được lâu nhưng cán bộ, công nhân của
Công ty đã trực tiếp tham gia thiết kế tư vấn giám sát và thi công xây lắp
rất nhiều các công trình có quy mô vừa và lớn, các công trình trọng điểm
thuộc các dự án loại B và C của Nhà nước như khu công nghiệp gang thép
Thái Nguyên, Công ty cơ khí Bãi Bằng . Nhà làm việc ban chỉ huy quân sự
Quận Thanh Xuân, nhà xưởng Công ty chế tạo máy điện Việt – Hưng, hệ
thống nước thải và cung cấp nhà máy gỗ Cầu Đuống…
b). Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.
Năm 2007 bắt đầu bằng một số biến động lớn về giá cả, nhất là giá vật
liệu tăng cao. Vì vậy quy mô xây dựng cũng bị chững lại, xí nghiệp cũng bị
tác động mạnh mẽ bởi những khó khăn chung. Điều đó đòi hỏi Công ty
phải tự phát huy và tồn tại trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn chung đó.
Không còn con đường nào khác ngoài con đường tự tìm kiếm bằng thị
trường bằng sự khéo léo, nhanh nhẹn, bằng chất lượng phục vụ, chất lượng
sản phẩm, giá cả hợp lý và tất nhiên phải bằng tất cả sự tận tâm có trách
với các chức danh Giám đốc và các phòng ban của Công ty. Việc phân công
nhiệm vụ cho từng người cụ thể là do lãnh đạo bộ phận trực tiếp phân công.
1.2 Phân công lao động theo chức năng – nhiệm vụ được đào tạo và hiệp
tác lao dộng.
Phân công lao động là sự phân chia công việc giữa những người tham
gia sản xuất cho phù hợp với khả năng của họ về chức năng, nghề nghiệp
trình độ chuyên môn, sức khoẻ, giới tính, sở trường…Nó là một hình thức
nhất định của mối quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động.
Phân công lao động hình thành lên cơ cấu lao động trong doanh
nghiệp.
11
Phân công lao động hợp lý tạo điều kiện chuyên môn hoá công cụ lao
động là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất.
Để đảm bảo theo đúng chuyên mô nghề nghiệp mà người lao động
được đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả công việc xí nghiệp đã bố trí người
lao động theo chuyên môn đào tạo của họ.
Bảng 1: Phân công lao động theo chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo
Đơn vị tính: Người
Phòng ban
Chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo
Kinh tế
lao động
Tài chính
lao động
Kỹ sư
lao động
Kỹ sư
máy xây
dựng
- Hiệp tác về thời gian (trực tiếp sản xuất)
1.2.2.1 Hiệp tác về không gian.
Đó là sự phân phối kết hợp về công tác giữa các phòng ban chức năng
trong công ty như phòng vật tư thiết bị, phòng kỹ thuật thi công, phòng tư
vấn thiết kế phòng kế hoạch tài vụ tổ chức hành chính. Các phòng ban này
tuy có chức năng nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng có mối quan hệ
mật thiết trong công tác. Cụ thể là:
Phòng kế hoạch tài vụ: Tổ chức hành chính có các văn bản hướng dẫn
của Công ty xuống các phòng ban như phòng vật tư thiết bị, phòng này lên
kế hoạch chi tiết cụ thể các loại vật liệu cần nhập và xuất kho để tiến hành
thi công xây dựng. Sau đó, phòng vật tư thiết bị thông qua giám đốc và các
phòng ban chức năng để duyệt và tạm ứng tiền hoặc thanh toán ở phòng kế
hoạch tài vụ.
Sự phối kết hợp và trao đổi thông tin giữa các phòng ban này được
diễn ra khá chặt chẽ và nhanh nhạy ít xảy ra các trường hợp chậm thông tin
hay lỡ các kế hoạch.
1.2.2.2. Hiệp tác về thời gian.
Đó là sự tổ chức thời gian làm việc trong ngày, trong tuần. Đây là sự
tuân thủ về thời gian làm việc trong ngày, tuần, tháng…Trong khoảng thời
gian làm việc này các bộ phận bố trí và phối hợp với nhau về thời gian để
hoàn thành công việc hay tiến độ thi công và vượt tiến độ thi công. Nếu
quá trình hiệp tác về thời gian ở Công ty diễn ra đều đặn và khoa học sẽ tiết
kiệm được thời gian về công sức để hoàn thành công việc hay tiến độ thi
13
công và vượt tiến độ thi công. Nếu quá trình hiệp tác về thời gian ở Công ty
diễn ra đều đặn và khoa học sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức để
hoàn thành vượt mức kế hoạch được thời gian, thúc đẩy nguồn thu nhập
cho người lao động và công ty.
*Nhận xét:
Nhìn chung trong công việc, vấn đề hiệp tác lao động giữa các bộ
tuổi
>50
tuổi
1
Đại học cao đẳng 44 20,4 52,2 29,6 18,2 11,4 77,2 11,4
Kỹ sư XD 18 9 5 4
Kinh tế XD 5 2 2 1
Kiến trúc 7 3 3 1
Kỹ sư cơ khí 2 3 1
Kỹ sư thuỷ lợi 4 3 1
Kinh tế tài chính 2 1 1
Địa chất 2 1 1
14
Cầu đường 4 3 1
2
Trung cấp 14 21,4 78,6 7,1 11,3 21,4 64,3 14,3
Xây dựng 5 3 1 1
Điện 1
Cơ khí 1
Thủy lợi 3 2 1
Kinh tế tài chính
khác
2
3
Công nhân KT 250 4,8 60% 22% 18% 52 44 4
Xây dựng 104
Bê tông cốt thép 24
Cơ khí 6
Hàn 10
Kết cấu 5
ở thâm niên trên 10 năm chiếm tỉ lệ 15%. Đây là số lao động giàu kinh
nghiệm, yêu nghề, chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo hoặc đội trưởng, tổ
trưởng để truyền đạt và hướng dẫn cho những lao động mới và trẻ.
Chiếm tỷ lệ thấp nhất là thâm niên này. ở mức 5-10 năm thâm niên
chiếm tỉ lệ tương đối cao 21,6%. Điều này là phù hợp với Công ty cả về số
lượng và chất lượng. Giữa các bậc thâm niên này có mối quan hệ mật thiết
với nha, người giàu kinh nghiệm, chuyên môn chỉ bảo cho người còn ít
chuyên môn vì thế mà hiệu quả công việc vẫn cao và ổn định. Không
những thế mà còn tạo bầu không khí vui vẻ, hoà đồng trong toàn công ty.
Công ty cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, trao đổi kiến thức,
kinh nghiệm làm cho nguồn lao động hứng thú với công việc và thêm yêu
nghề.
- Cơ cấu tuổi: Chiếm tỷ lệ cao nhất trong công ty là độ tuổi từ <30 tuổi
(chiếm 55,1 %). Với tính chất của ngành xây dựng và thiết bị, bởi đây cũng
là độ tuổi có sức khoẻ, có chuyên môn. Sau đó là độ tuổi 30- 50 tuổi (40%).
Đây là độ tuổi trẻ, khoẻ mạnh và nhất là giàu kinh nghiệm, thấp nhất là độ
tuổi 50 tuổi chiếm (49%) . Sự phân công lao động theo cơ cấu tuổi ở công
ty là phù hợp. Đặc biệt là không có sự hụt hẫng về thế hệ. Đây cũng là một
yếu tố quan trọng góp phần đưa năng suất lao động, hiệu quả công việc
của công ty đi lên và phát triển vững chắc.
- Cơ cấu lao động theo trình độ: Ta thấy trình độ được đào tạo ở công
ty đã đáp ứng được nhu cầu công việc do xí nghiệp xây dựng nên trình độ
công nhân kỹ thuật chiếm tỉ lệ cao nhất (250 người). Các cán bộ quản lý,
16
chủ nhiệm phòng ban đều đạt trình độ đại học – cao đẳng kể cả các công
nhân có trình độ cao đã qua đào tạo các lớp bồi dưỡng và nâng cao tay
nghề. Các cán bộ và công nhân trong công ty đều được làm việc theo đúng
chuyên môn mình được đào tạo vì vậy mà người lao động luôn hứng thú
hăng say với công việc.
Bên cạnh đó công ty cũng còn thiếu những lao động có chuyên môn
Trong đó:
T: Là thời gian thu hồi vốn đào tạo
K: Chi phí cho đào tạo
P: Lợi ích tăng lên hàng năm do kết quả đào tạo.
Trong năm qua (2007), Công ty đã đào tạo 5 nhân viên ở khối quản lý
của phòng ban và trên 60 công nhân tại các xưởng, các đội. Qua đào tạo và
thực tế cho thấy, trình độ và thay nghề của những người được đào tạo đã
nâng lên rất nhiều so với trước, tăng khả năng thích nghi với công việc đạt
hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh.
- Đánh giá công tác đào tạo của Công ty
Ta thấy xuất phát từ thực tiễn chất lượng nguồn nhân lực trong Công
ty nên Công ty cần thấy rõ được trách nhiệm của việc nâng cao trình độ tay
nghề làm cho người lao động nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh,
phát triển nguồn lao động nhằm tăng khả năng thích nghi của Công ty trong
mọi hoàn cảnh vì vậy Công ty thường xuyên đổi mới và kiện toàn, mỗi
người lao động đều đáp ứng được sự đòi hỏi của sự phát triển của khoa học
công nghệ. Nếu quan tâm, chú trọng tốt tới công tác đào tạo bồi dưỡng
trình độ cán bộ công nhân viên thì đồng nghĩa với quá trình phát triển của
Công ty ngày càng phát triển.
Như vậy công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ
phần Xây dựng và Tư vấn thiết kế BIC đã được thực hiện tương đối tốt
chặt chẽ đem lại hiệu quả cả số lượng và chất lượng.
1.5 Thực trạng công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc.
Ở Công ty Cổ phần Xây dựng và Tư vấn thiết kế BIC đã sử dụng 2
phương pháp đánh giá công việc. Đó là:
18
+ Đối với bộ phận quản lý và các phòng ban thì công ty sử dụng
phương pháp mức thang điểm. Phương pháp này là phù hợp với bộ phận
phòng ban và công việc của họ còn đòi hỏi sự khéo léo và nhiệt tình.
+ Đối với bộ phận công nhân kỹ thuật thì công ty đã áp dụng phương
Còn kỹ sư và kiến trúc sư là 20% số lương hàng tháng mà họ được
hưởng.
+ Phụ cấp trách nhiệm:
Áp dụng đối với công nhân viên kiêm nhiệm làm nhiều công việc
như quản lý hành chính và thiết bị vật tư….
2.3. Thời gian và các tiêu chí nâng bậc lương (Công ty thực hiện theo
Nghị định (*)).
- Tiêu chí:
+ Hoàn thành nhiệm vụ được giao hàng năm với kết quả tốt.
+ Không vi phạm kỷ luật, một trong các hình thức của Bộ luật
lao động.
- Thời gian:
+ Đối với trình độ Đại học là 3 năm
+ Đối với trình độ Cao Đẳng, Trung học là 2 năm
+ Đối với công nhân kỹ thuật là 3 năm
+ Đối với công nhân phổ thông là 5 năm
2.4. Cách xác định đơn giá tổng hợp
Công ty cổ phần Xây dựng và tư vấn thiết kế bản chất là một doanh
nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh tổng hợp nhiều lĩnh vực. Vì vậy, hình
thức trả lương chủ yếu là lương sản phẩm và lấy từ kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Cách xác định đơn giá trả lương sản phẩm
ĐG = (L
CBCV
+ PC) M
TG
ĐG =
LCBCV + PC
MSL
20