Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học sinh học 10- phần sinh học tế bào - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và rèn kỹ năng học tập của học sinh
đang được quan tâm. Cách thức đổi mới và phương pháp thực hiện phải thể hiện được quan
điểm “Lấy người học làm trung tâm”. Tuy nhiên, thực tế trong quá trình dạy học ở trường
phổ thông, tính chủ động của người thầy vẫn vẫn còn nhiều, người học chưa thật sự chủ
động trong việc khám phá, tìm kiếm tri thức mới.
Để hoạt động dạy học đạt kết quả cao thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay cần tập trung vào vấn đề rèn các kỹ năng học tập cho học sinh, đặc biệt lưu ý đến việc
phát triển các kỹ năng tự học, tự tìm kiếm và khai thác thông tin. Có như vậy chúng ta mới
mong đào tạo ra thế hệ trẻ năng động, sáng tạo đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Trong những kỹ năng tự học cần trang bị cho học sinh thì kỹ năng diễn đạt nội dung
khi tự lực nghiên cứu sách giáo khoa là thiết thực nhất mà học sinh cần có được trong nhà
trường phổ thông. Và cũng để mai này khi các em đến với giảng đường đại học sẽ không
thấy bỡ ngỡ khi tiếp xúc với “mớ tài liệu” khổng lồ.
Chính vì những lý do nói trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “CÁC BIỆN PHÁP RÈN
LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG DIỄN ĐẠT NỘI DUNG TRONG QUÁ
TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ LỰC NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10 – PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO” làm đề tài nghiên
cứu của mình với lý do hy vọng thay đổi cách dạy và học để nâng cao hiệu quả đào tạo
trong nhà trường phổ thông.
1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt nội dung thông qua các biện pháp sử dụng
sơ đồ hình, sơ đồ logic dạng bảng…
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu thiết kế và sử dụng các biện pháp đó hợp lý thì sẽ rèn luyện cho học sinh có kỹ
năng diễn đạt nội dung tốt khi tự lực nghiên cứu SGK sẽ giúp học sinh có hứng thú khi tìm
hiểu tài liệu mới đồng thời phát triển được các năng lực tư duy khoa học.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Các biện pháp sử dụng sơ đồ logic dạng bảng, sơ đồ hình.

Đinh Quang Báo, Đặng Thị Dạ Thủy, Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Thị Nghĩa.
8. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Quy trình và các biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt nội dung
trong tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa
9. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Phạm vi chương trình: chương II, chương III chương trình sinh học lớp 10
10. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
• Nêu được cơ sở lý luận của việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt nội dung giúp cho chất
lượng của quá trình dạy và học được nâng lên.
• Xây dựng quy trinh rèn luyện kỹ năng diễn đạt nội dung
• Đề xuất các biện pháp, phương pháp dạy học để tổ chức rèn luyện kỹ năng diễn đạt
nội dung (Phương pháp trực quan, hỏi đáp với các phương tiện trực quan, mô hình,
tranh vẽ, bài tập, thí nghiệm, phim, hình ảnh...)
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm kỹ năng và kỹ năng diễn đạt nội dung:
1.1.1.1 Kỹ năng:
Theo Trần Bá Hoành: “Kỹ năng là khả năng là khả năng vận dụng những tri thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào trong thực tiễn, kỹ năng đạt đến mức hết sức thành
thục, khéo léo thì trở thành kỹ xảo”
Hay theo Nguyễn Đình Chỉnh, Kỹ năng là thao tác đơn giản hoặc phức tạp mang tính
nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết quả
Mỗi kỹ năng chỉ được biểu hiện thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng lên nội
dung ta đạt được mục tiêu.Như vậy, Mục tiêu = Kỹ năng x Nội dung
Tóm lại, Kỹ năng là hệ thống các thao tác, các hành động phức hợp của một hoạt động,
là năng lực vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động nhằm thực hiện có kết quả

Phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình tư duy thống nhất có sự liên hệ mật
thiết với nhau. Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho ta ấn tượng chung về đối tượng nhờ đó mà xác
định được phương hướng phân tích cho đối tượng. Từ sự phân tích đối tượng sẽ giúp ta có một
nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng, phân tích càng sâu thì sự tổng hợp cuối cùng càng cao,
càng đầy đủ. Sự tổng hợp hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của sự phân tích tiếp theo.
Cứ như vậy, nhận thức ngày càng tiến sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.
Phân tích và tổng hợp trong Sinh học thường được dùng để phân tích cấu tạo cơ quan,
hệ cơ quan, cơ thể…; phân tích cơ chế, quá trình sinh học.
Phân tích và tổng hợp có các hình thức diễn đạt sau:
• Diễn đạt bằng lời.
• Diễn đạt bằng sơ đồ phân tích: Diễn đạt một cách trực quan bằng sơ đồ logic với
nguyên tắc cái toàn thể được chia nhỏ thành các bộ phận. Phép chia ấy được biểu diễn
bằng mũi tên.
• Phân tích bằng bảng hệ thống: Hình thức này vừa thể hiện được sự phân tích qua việc
đặt tên gọi các cột, vừa thể hiện được sự tổng hợp thông qua việc trình bày chúng ở các
5
ô, các cột, các dòng tương ứng. Hình thức này giúp chúng ta hệ thống các kiến thức và
đặc biệt là rất hiệu quả cho việc thực hiện biện pháp so sánh.
• Diễn đạt dưới dạng tranh sơ đồ: Tranh sơ đồ là một hình vẽ sơ lược thể hiện những nét
chính của đối tượng, hiện tượng.
- Kỹ năng so sánh
Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết sự vật, hiện tượng là cái gì và như thế nào, còn phải
hiểu được sự vật, hiện tượng này không giống sự vật, hiện tượng khác ở chỗ nào thì phải sử
dụng đến phương pháp so sánh.
So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng nhằm
phân loại sự vật, hiện tượng thành những loại khác nhau. Tùy mục đích mà phương pháp so
sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay sự khác nhau. So sánh điểm khác nhau chủ yếu
dùng trong phân tích, so sánh điểm giống nhau thường dùng trong tổng hợp.
Qua sự so sánh giúp học sinh phân biệt, hệ thống hóa và củng cố các khái niệm đồng
thời so sánh là một thao tác tư duy rất quan trọng giúp học sinh tìm ra cái mới.

cái bản chất, những mối liên hệ bên trong mang tính quy luật của tài liệu nghiên cứu, học tập
bằng con đường phân tích chỉ một sự vật, hiện tượng điển hình mà thôi. Bằng cách đó, học
sinh sẽ tiết kiệm được sức lực, thời gian học tập của mình, biết khám phá các tri thức khoa học
bằng phương pháp tối ưu.
- Kỹ năng suy luận:
Suy luận là hình thức của tư duy nhờ đó rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán
đoán theo các quy tắc logic xác định.
Bất kỳ suy luận nào cũng gồm tiền đề, kết luận và lập luận. Tiền đề (còn gọi là phán
đoán xuất phát) là phán đoán chân thực từ đó rút ra phán đoán mới. Kết luận là phán đoán mới
thu được bằng con đường logic từ các tiền đề. Cách thức logic rút ra kết luận từ các tiền đề gọi
là lập luận.
Quan hệ suy diễn logic giữa các tiền đề và kết luận được quy định bởi mối liên hệ giữa
các tiền đề về mặt nội dung. Nếu các phán đoán không có liên hệ về mặt nội dung thì không
thể lập luận để rút ra kết luận.
Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia ra thành suy luận suy diễn và suy
luận quy nạp. Suy luận suy diễn là suy luận trong đó lập luận từ cái chung đến cái riêng, cái
7
đơn nhất. Suy luận quy nạp là suy luận trong đó lập luận từ cái riêng, cái đơn nhất đến cái
chung.
Khi học sinh được trang bị kỹ năng suy luận, học sinh có thể thu được tri thức mới từ
các tri thức đã biết nhờ suy luận.
1.1.2 Vai trò của kỹ năng diễn đạt nội dung:
- Hình thành văn hóa ngôn ngữ: Đây là một dạng văn hóa quan trọng trong khoa học và đời
sống. Cách thể hiện phong phú một vấn đề giúp khơi dậy sự hứng thú ở người tiếp nhận thông
tin bởi lẽ ngôn ngữ là lớp vỏ của nội dung.
- Hình thành văn hóa diễn đạt ý tưởng: Mỗi dạng ngôn ngữ mang một thế mạnh riêng, vận
dụng ngôn ngữ phù hợp để diễn đạt cho một ý tưởng giúp người tiếp nhận thông tin dễ hiểu,
dễ nhớ.
- Hình thành văn hóa đọc sách: Khi đọc sách nếu không biết sử dụng các dạng ngôn ngữ để
tổng kết và ghi nhớ những nội dung cốt lõi thì khó thu nhận thông tin một cách nhanh chóng

Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đã khẳng định vai trò của sách cũng như SGK như sau:
- N.A.Môrôdôp: “Sách thật là kỳ diệu. Sách đã biến đổi thế giới,sách chứa đựng trí nhớ của
loài người, sách là cái loa của tư tưởng loài người, thế giới mà không có sách thì đó là thế giới
của rừng”
- Prenxit Bêcơn: “Sách là con thuyền tư tưởng lênh đênh trên mặt sóng thời gian, nâng niu chở
thứ tái vật quý giá của nó từ thế hệ này sang thế hệ khác”.
- Rơ -nê Đê – Cac: “Đọc mọi sách tốt khác nào trao đổi ý kiến với các nhân vật ưu tú của các
thế kỉ đã qua, và hơn thế nữa, cuộc trao đổi đặc biệt bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ
thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình”
- V.I Lênin : “Sách là một sức mạnh to lớn”.
- Nhưng để cho sách trở thành những phương tiện có hiệu quả giúp cho sự phát triển của trí
tuệ và sự phong phú tinh thần của con người thì cần phải biết cách đọc sách. Cũng như Đ.I Pi-
ra-xép đã nhận xét rằng : “Sách chỉ bổ ích với những người biết cách đọc”.
 Trong hoạt động dạy học, SGK được xem là một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực
nhất khi dạy học trên lớp, SGK được xem là tài liệu chính thống quan trọng nhất đối với giáo
viên và học sinh:
- Đối với học sinh: SGK để:
• Học sinh ôn bài.
• Học sinh học thuộc và tra cứu chính xác số liệu, định nghĩa, định lý, công thức, các sự
kiện.
9
• Học sinh khái quát hóa các nội dung cho từng mục, từng bài theo chủ đề.
• Học sinh hệ thống hóa nội dung theo quan điểm nhất định.
• Học sinh gia công tài liệu trong sách nhằm giải quyết một vấn đề nào đó.
- Đối với giáo viên:
• Là nguồn thông báo quan trọng nhất thông tin khoa học cho học sinh.
• Là công cụ giúp cho giáo viên biến sự tường minh trong sách thành cái chưa tường
minh để dạy học. Nghĩa là, sách là nguồn thông tin để giáo viên xây dựng các tình
huống để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh.
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status